Hiệu quả của PCR trong phát hiện M. Tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính âm tính của bệnh nhân lao - Pdf 12

TCNCYH 23 (3) 2003
Hiệu quả của PCR trong phát hiện M. tuberculosis
trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính âm tính
của bệnh nhân lao

Hồ Minh Lý
1
, Nguyễn Vân Anh
1
, Phạm Kim Liên
1
,
Nguyễn Hiền Anh
1
, Nguyễn Kim Trinh
1
,
Đặng Đức Anh
1
, Nguyễn Văn Thiêm
2

1
Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ơng
2
Học viện quân y 103, Hà Nội

PCR đợc áp dụng để xác định M. tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm của 254 bệnh nhân
lao và 60 bệnh phẩm của bệnh nhân nhóm chứng. Tất cả các bệnh nhân lao đều có kết quả âm
tính với trực khuẩn kháng cồn, kháng axit (AFB) bằng soi kính hiển vi trực tiếp. Bệnh phẩm nhóm
chứng bao gồm dịch não tuỷ, dịch màng phổi, và dịch rửa phế quản của bệnh nhân có căn nguyên

chép trình tự đặc hiệu trên genome của vi
khuẩn từ một vài bản lên hàng trăm triệu đến
hàng tỷ phiên bản. Trong khi soi kính chỉ xác
định đợc vi khuẩn ở nồng độ tối thiểu 10
5
/ 1
ml bệnh phẩm, PCR cho phép xác định vi
khuẩn ở nồng độ rất thấp chỉ 1-3 vi khuẩn trong
1 bệnh phẩm [1]. PCR do vậy đợc đánh giá là
một công cụ có giá trị trong chẩn đoán các
bệnh nhiễm khuẩn trong đó có bệnh lao. Tuy
nhiên cho đến nay việc sử dụng PCR trong
chẩn đoán lao mới đợc áp dụng hạn chế ở một
số phòng thí nghiệm lớn ở Việt Nam. Hiệu quả

14
TCNCYH 23 (3) 2003
và tính năng áp dụng của phơng pháp còn
cha đợc nhiều nghiên cứu đề cấp đến một
cách toàn diện, đặc biệt trong chẩn đoán lao
AFB âm tính.
Mục tiêu của nghiên cứu là: Đánh giá hiệu
quả kỹ thuật PCR trong phát hiện M.
tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính
âm tính với trực khuẩn kháng cồn kháng axit
của bệnh nhân lao.
II. Vật liệu và phơng pháp
nghiên cứu
1. Vật liệu:
Vật liệu bao gồm 254 bệnh phẩm của bệnh

các bệnh phẩm đều đợc tiến hành nuôi cấy
phân lập song song với PCR tại đây. Kết quả
PCR đợc đối chiếu với kết luận cuối cùng của
lâm sàng tại thời điểm bệnh nhân ra viện đồng
thời so sánh với nuôi cấy. Các tính toán thống
kê cũng đợc sử dụng để so sánh kết quả.
III. Kết quả
Tất cả các bệnh phẩm kể cả bệnh phẩm của
bệnh nhân lao và bệnh nhân không lao nhóm
chứng đều đợc xử lý tách chiết DNA, chạy
PCR và điện di xác định kết quả trên gel
agarose. Bệnh phẩm dơng tính là bệnh phẩm
cho vạch trên gel điện di đặc hiệu cho đoạn
trình tự axit nucleic trên IS6110 đợc sao chép
với cặp đoạn mồi sử dụng. Tỷ lệ dơng tính với
PCR đối với mỗi loại bệnh phẩm của các bệnh
nhân mắc các thể lao khác nhau bao gồm lao
màng não, lao tràn dịch màng phổi, lao phổi, và
bệnh nhân nhóm chứng đợc trình bầy ở bảng
1.
Bảng 1. Kết quả PCR xác định
M. tuberculosis trong bệnh phẩm
của bệnh nhân lao và bệnh nhân nhóm chứng
Bệnh
phẩm
PCR
(+)
Se
(%)
Sp(%)

1/10

DRPQ: dịch rửa phế quản; DMP: dịch
màng phổi; DNT: dịch não tuỷ

15
TCNCYH 23 (3) 2003
Đối với bệnh phẩm của bệnh nhân lao, PCR
phát hiện đợc M. tuberculosis trong 60/100
(60%) bệnh phẩm đờm , 35/41 (85%) bệnh
phẩm dịch rửa phế quản, 60/86 (70%) bệnh
phẩm dịch não tuỷ và 19/27 (70%) bệnh phẩm
dịch màng phổi, đạt độ nhậy chung là 69%.
PCR chỉ cho dơng tính giả với 2 trong số 60
bệnh phẩm nhóm chứng, bao gồm một mẫu
dịch não tuỷ của bệnh nhân viêm màng não mủ
và một mẫu dịch rửa phế quản của bệnh nhân
viêm phế quản không do lao. Nh vậy độ đặc
hiệu dao động từ 90% đến 100%, đạt độ đặc
hiệu chung 96% (bảng 1).
So với kết quả nuôi cấy, PCR có độ nhậy
cao hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm bệnh
nhân lao màng não và bệnh nhân tràn dịch
màng phổi do lao (P<0.01,
2
), tuy nhiên lại
không cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê ở
nhóm bệnh nhân lao phổi với bệnh phẩm là
dịch rửa phế quản (bảng 2). Do không có điều
kiện nuôi cấy phân lập bệnh phẩm đờm vào

Tổng số
Nuôi cấy Dơng tính
Âm tính
33 (92%)
81 (69%)
3
37
36 (100%)
118 (100%)
Tổng số 114 40 154

So sánh tỷ lệ dơng tính của PCR trên nhóm
bệnh nhân đã điều trị và cha điều trị thuốc lao
cho thấy việc điều trị có thể ảnh hởng đến kết
quả PCR trên bệnh nhân lao màng não. Tỷ lệ
dơng tính của PCR trên nhóm bệnh nhân cha
điều trị thuốc lao (84%) cao hơn có ý nghĩa so
với nhóm bệnh nhân đã điều trị (33%)
(P<0.01). Đối với bệnh nhân tràn dịch màng
phổi do lao, tỷ lệ dơng tính với PCR không
khác nhau có ý nghĩa giữa hai nhóm này
(P>0.05, 2 ) (bảng 4). Tuy nhiên kết quả PCR
trên nhóm bệnh nhân đợc điều trị thuốc lao
trong thời gian dới hoặc bằng 10 ngày và
nhóm bệnh nhân đã đợc điều trị trên 10 ngày

16
TCNCYH 23 (3) 2003
ở bệnh nhân lao màng não không có sự khác
biệt với tỷ lệ tơng ứng là 67% và 60%

phẩm, PCR có u thế hơn hẳn. So với nuôi cấy
PCR có u thế về thời gian. Trong khi nuôi cấy
phải chờ ít nhất 4 tuần để có kết quả thì độ
nhậy trong nghiên cứu này cũng chỉ đạt từ 5%
đến 73%. Soi kính cho kết quả ngay nhng lại
không có giá trị trong các trờng hợp lao soi
AFB âm tính.
Khả năng phát hiện của PCR là 10 fg (10
-
14
g) DNA của M. tuberculosis trong một ống
phản ứng (tơng đuơng với lợng DNA của 2
đến 3 vi khuẩn). Điều này có thể giải thích tại
sao PCR lại đạt độ nhạy cao trong chẩn đoán
lao, thậm chí lao có AFB âm tính với soi kính.
Độ nhậy của PCR còn cao hơn hẳn so với nuôi
cấy đặc biệt ở các thể lao ít vi khuẩn nhng lại
nguy hiểm nh lao màng não, lao tràn dịch
màng phổi (P<0.01). Trong nghiên cứu này
PCR cho dơng tính với 69% trờng hợp bệnh
phẩm có kết quả nuôi cấy âm tính.
Tỷ lệ dơng tính của PCR trên nhóm bệnh
nhân cha điều trị thuốc lao cao hơn một cách
có ý nghĩa so với nhóm đã điều trị ở bệnh nhân
lao màng não (P<0.01). Kết quả cho thấy việc
điều trị có tác động loại bỏ vi khuẩn nhanh hơn
ở bệnh nhân mắc thể lao này. Kết quả cũng phù
hợp với một số nghiên cứu của tác giả nớc
ngoài khi thấy rằng tỷ lệ dơng tính với PCR
giảm hẳn ở bệnh nhân lao màng não sau khi

Kim Trinh, Nguyễn Vân Anh. Nguyễn Hiền
Anh, Le Kim Tuyến, Hoàng Thi Phợng,
Ngyễn Việt Cồ (1999): Chẩn đoán nhanh tràn
dịch màng phổi nghi do lao bằng phản ứng
PCR. Tạp chí Y học dự phòng. 1(39): 48-52.
2. Hồ Minh Lý, Đặng Đức Anh, Nguyễn
Vân Anh. Nguyễn Hiền Anh, Nguyên Kim
Trinh, Đặng Đức Trạch, Hoàng Thuỷ Long,
Hoàng Thị Phợng, Nguyễn Thu Hà, Đặng Văn
Khiêm, Nguyễn Thị Diễm Hồng, Nguyễn
Quang Trung (2000): PCR trong chẩn đoán
bệnh lao. Tuyển tập công trình viện Vệ sinh
dịch tễ trung ơng 1997-2000, Nhà xuất bản Y
học. Tr 200-204.
3. A. H. J. Kolk, A. R. J. Schuitema, S.
Kuijper, J. van Leeuwen, P. W. M. Hermans, J.
D. A. van Embden, and R. A. Hartskeerl
(1992): Detection of Mycobacterium
tuberculosis in clinical samples by using
polymerase chain reaction and a nonradioative
detection system. J. Clin. Microbiol. 30: 2567-
2575.
4. Anargyros P., D. S. J. Astill, and I. S. L.
Lim (1990): comparison of improved BACTEC
and Lowenstein-Jensen media for culture of
mycobacteria from clinical specimens. J. Clin.
Microbiol. 28: 1288-1291.
5. Bonington A, J. I. Strang, P. E. Klapper
(1998): Use of Roche amplicor mycobacterium
tuberculosis PCR in early diagnosis of

cases. 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status