133
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LIỀU LƯỢNG BÓN ĐẠM VÀ KALI
ĐẾN NĂNG SUẤT LẠC TRÊN ĐẤT CÁT BIỂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Hoàng Thị Thái Hòa, Lê Hoài Lam
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Tóm tắt. Thí nghiệm gồm có 4 liều lượng đạm (0, 20, 40 và 60 kg N/ha) và 3 liều
lượng kali (0, 30, 60 kg K
2
O/ha), bố trí theo kiểu ô lớn – ô nhỏ (split – plot) với 3
lần nhắc lại, được thực hiện trong 2 vụ Đông Xuân 2009-2010 và 2010-2011 trên
đất cát biển của huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Kết quả nghiên cứu cho thấy: liều
lượng đạm và kali bón ở mức 40 kg N và 60 kg K
2
O/ha trên nền 90 kg P
2
O
5
, 10 tấn
phân chuồng và 500 kg vôi/ha đã cho năng suất lạc cao, đồng thời thu được hiệu
quả kinh tế cao nhất và cải thiện được độ phì của đất.
1. Đặt vấn đề
Cây lạc có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của tỉnh Bình
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Đất: Thí nghiệm được bố trí trên đất cát biển điển hình của tỉnh Bình
Định. Tính chất đất trước thí nghiệm như sau: pH
KCl
(5,27), OC (0,5%), CEC (0,97
lđl/100g), lân tổng số (0,035%), kali tổng số (0,020%), đạm tổng số (0,042%).
2.1.2. Cây trồng: Giống lạc được sử dụng trong thí nghiệm là giống lạc Lỳ, đây
là giống lạc được gieo trồng phổ biến trên địa bàn tỉnh Bình Định.
2.1.3. Phân bón
- Phân vô cơ: Urê (46%N), Super phốt phát đơn (16,5% P
2
O
5
), KCl (60% K
2
O)
- Vôi: Vôi bột thường sử dụng tại địa phương (40% CaO).
- Phân chuồng: của người dân tự sản xuất theo truyền thống (C: 35,42%, N:
0,85%, P
2
O
5
: 0,31%, K
2
O: 0,42%).
- Cách bón:
Bón lót :
+ 100% vôi bón khi làm đất
+ 100% phân chuồng và 100% lân và 1/3 lượng kali khi gieo
Bón thúc :
.
2.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi
- Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất.
- Phân tích một số chỉ tiêu hóa học quan trọng của đất lấy ở tầng canh tác (tầng 0
- 20 cm) trước và sau thí nghiệm, như: pH
KCl
(đo bằng pHmeter); Hàm lượng C hữu cơ
(OC): (theo phương pháp Tiurin); Đạm tổng số (theo phương pháp Kjeldahl); Lân tổng
số (theo phương pháp so màu trên quang phổ kế); Lân dễ tiêu (theo phương pháp
Oniani); Kali tổng số (theo phương pháp quang kế ngọn lửa); CEC (theo phương pháp
Kjeldahl).
- Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế: Lãi ròng, hiệu suất phân đạm và kali, VCR
(Value Cost Ratio) (Tổng thu tăng lên do phân bón/chi phí mua phân bón).
2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu với các chỉ tiêu như trung bình, ANOVA, LSD bằng phần mềm
Statistix 9.0.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất lạc
Năng suất được xem là kết quả và mục tiêu cuối cùng của quá trình sản xuất, nó
là một chỉ tiêu đánh giá toàn diện và đầy đủ nhất các quá trình sinh trưởng, phát triển
của cây, đồng thời cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và hiệu quả đầu tư. Kết quả
nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất thể hiện ở bảng 1.
Kết quả bảng 1 cho thấy:
Năng suất lý thuyết ở các công thức dao động từ 44,13 - 53,94 tạ/ha, trong đó
công thức XI (N
40
K
60
) có năng suất lý thuyết cao nhất và thấp nhất ở công thức I (đ/c).
Tỷ lệ nhân
(%)
Năng suất
lý thuyết
(tạ/ha)
Năng
suất
thực thu
(tạ/ha)
I (đ/c)
N
0
K
0
15,67
c
14,00
c
127,00
c
73,28
c
44,13
f
30,95
e
II N
cbe
33,45
abcd
IV N
60
K
0
18,80
a
16,47
ab
128,33
abc
75,24
abc
49,13
cde
34,63
abcd
V N
0
K
30
16,37
bc
14,67
VII N
40
K
30
19,17
a
16,73
ab
132,53
ab
78,90
ab
53,01
ab
35,63
ab
VIII N
60
K
30
18,63
a
16,40
abc
132,33
abc
18,00
ab
16,43
ab
132,33
abc
77,39
abc
50,17
bcd
35,18
abc
XI N
40
K
60
19,53
a
17,67
a
133,57
a
79,10
a
53,94
a
K
2
O/ha đạt năng suất lý thuyết cao nhất trên cùng một nền bón đạm. Trên nền bón đạm
0, 20, 40, 60 kg N/ha, mức kali bón là 60 kg K
2
O/ha có năng suất lý thuyết đạt cao nhất
và sai khác có ý nghĩa so với không bón kali (công thức IV và IX; công thức X và II; 137
công thức XII và IV sai khác có ý nghĩa). Trên nền 40 kg N/ha, mức bón 40, 60 kg
K
2
O/ha sai khác có ý nghĩa so với không bón kali (công thức VII và XI sai khác có ý
nghĩa so với công thức II).
- Năng suất thực thu giữa các công thức thí nghiệm dao động từ 30,95 - 37,28
tạ/ha. Trong đó công thức đối chứng có năng suất thực thu thấp nhất, đạt 30,95 tạ/ha,
cao nhất là công thức XI (40 kg N/ha + 60 kg K
2
O/ha), với năng suất 37,28 tạ/ha, tăng
hơn so với công thức đối chứng 6,33 tạ/ha.
Mức bón đạm 40 kg N/ha trên nền kali bón 30, 60 kg K
2
O/ha đạt năng suất thực
thu cao nhất và sai khác có ý nghĩa so với mức không bón đạm. Trên nền không bón kali,
mức bón 60 kg N/ha cho năng suất thực thu cao nhất và sai khác có ý nghĩa so với mức
không bón đạm.
Trên cùng một nền đạm bón là 0, 20, 40 và 60 kg N/ha, việc tăng mức kali bón
từ 0, 30, 60 kg K
N)
I 0 30,95 - -
II 20 33,08 2,13 10,63
III 40 34,59 3,64 9,10
IV
K0
60 34,63 3,68 6,13
V 0 31,73 - -
VI
K30
20 34,73 3,00 15,0 138
VII 40 36,03 4,30 10,8
VIII
60 35,77 4,04 6,7
IX 0 31,95 - -
X 20 35,18 3,23 16,13
XI 40 37,28 5,33 13,33
XII
K60
60 35,93 3,98 6,63
(Ghi chú: Số liệu bảng trên được tính trung bình từ hai vụ).
Trên nền không bón kali, hiệu suất phân đạm dao động từ 6,13 - 10,63 kg lạc
vỏ/kg N. Hiệu suất phân đạm ở mức bón 20 kg N/ha đạt cao nhất, nếu tăng lượng
đạm lên 40 kg N/ha hoặc 60 kg N/ha thì hiệu suất phân đạm giảm. Tương tự trên nền
30 kg K
2
O/ha
(công thức IX).
Trên cùng một nền đạm bón là 0 hoặc 20 hoặc 40 hoặc 60 kg N/ha thì mức bón
30 kg K
2
O/ha đạt hiệu suất phân kali cao nhất. Việc tăng mức bón kali lên 60 kg K
2
O/ha
làm giảm hiệu suất trên các nền bón đạm khác nhau. Kết quả này tương tự với kết quả
nghiên cứu hiệu lực kali trên đất xám Đông Nam Bộ. Theo Nguyễn Thị Liên Hoa [3],
hiệu lực kali đến giống lạc Lỳ đạt cao nhất ở mức bón 40 K
2
O/ha, tăng mức kali bón lên
60, 80, 100 kg K
2
O/ha, hiệu lực kali giảm.
Qua đây chúng tôi có nhận xét, việc tăng mức bón đạm lên (40 hoặc 60 kg N/ha)
và kali lên mức (60 kg K
2
O/ha) đã tăng năng suất lạc, nhưng hiệu suất phân đạm và kali 139
giảm so với mức bón thấp hơn. Đây là cơ sở để đề xuất một mức đạm và kali hợp lý đối
với giống lạc Lỳ trên đất cát tỉnh Bình Định.
Bảng 3. Hiệu suất phân kali đối với lạc
Công
thức
N40
60 37,28 1,26 2,10
IV 0 34,63 - -
VIII 30 35,77 1,14 3,81
XII
N60
60 35,93 1,30 2,17
(Ghi chú: Số liệu bảng trên được tính trung bình từ hai vụ).
3.3. Lãi ròng và VCR
Lãi ròng và VCR là hai chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hiệu quả kinh tế của
sử dụng phân bón, giúp người sản xuất quyết định có nên đầu tư trong sản xuất hay
không. Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua bảng 4.
Kết quả bảng 4 cho thấy:
* Lãi ròng:
Phần chi phí phân bón tăng thêm so với không bón phân đạm và kali dao
động từ 700.000 - 2.500.000 đồng/ha. Tuy nhiên, phần lãi thuần tăng thêm so đối
chứng đạt khá cao, dao động từ 983.000 – 12.467.000 đồng/ha. Mức bón 40 kg N +
60 kg K
2
O/ha có lãi ròng tăng so với đối chứng cao nhất và thấp nhất là mức bón 20
kg N + 0 kg K
2
O/ha. 140
* VCR:
Trên cùng một nền bón kali, mức bón 40 kg N/ha có VCR đạt cao nhất, khi tăng
lên 60 kg N/ha thì VCR giảm. Trừ 2 công thức không bón đạm có VCR < 1 (đầu tư lỗ),
2
O/ha có VCR và
lãi thuần tăng cao so đối chứng, thuyết phục được người trồng lạc.
Bảng 4. Hiệu quả kinh tế của các mức bón đạm, kali khác nhau đối với cây lạc (tính
cho 1 ha)
Công
thức
Lượng bón
Chi phí tăng
thêm so đ/c
(1.000 đồng)
Năng suất
tăng so đ/c
(tạ/ha)
Tổng thu
tăng so với
đ/c (1.000
đồng)
Lãi ròng
tăng so với
đ/c (1.000
đồng)
VCR
I
(đ/c)
N
40
K
30
1.600 5,08 11.673 10.073 6,30
VIII
N
60
K
30
2.000 4,82 11.078 9.078 4,54 141
IX N
0
K
60
1.300 1,00 2.300 1.000 0,77
X N
20
K
60
1.700 4,23 9.717 8.017 4,72
XI N
40
K
60
2.100 6,33 14.567 12.467 5,94
(%)
K
2
O
(%)
P
2
O
5
(mg/100g
đất)
I (đ/c) N
0
K
0
5,38 1,04 1,00 0,063 0,036 0,020 6,50
II N
20
K
0
5,26 1,04 1,00 0,056 0,038 0,022 8,20
III N
40
K
0
5,24 1,05 1,20 0,063 0,038 0,024 8,40
IV N
60
5,30 1,19 1,30 0,065 0,040 0,044 8,10
X N
20
K
60
5,25 1,29 1,20 0,067 0,048 0,056 8,20
XI N
40
K
60
5,26 1,24 1,50 0,070 0,050 0,058 9,50
XII N
60
K
60
4,99 1,19 1,10 0,067 0,045 0,058 8,05
(Ghi chú: Số liệu bảng trên được tính trung bình từ hai vụ).
Kết quả bảng 5 cho thấy:
- pH
KCl
: Trước thí nghiệm, pH
KCl
=5,27 là đất chua. Sau thí nghiệm, pH
KCl
dao
công thức có lượng hữu cơ cao đều có CEC cao.
- Hàm lượng đạm (N): Trước thí nghiệm, đạm tổng số trong đất là 0,042%, sau
thí nghiệm chúng dao động trong khoảng 0,056 - 0,079%. Giữa hàm lượng hữu cơ trong
đất và đạm tổng số tỷ lệ thuận với nhau. Việc trồng lạc và bón các mức đạm, kali khác
nhau sau khi trồng đã làm tăng hàm lượng đạm trong đất.
- Hàm lượng lân (P
2
O
5
): Lân tổng số giữa các công thức dao động trong khoảng
từ 0,036 - 0,050%, tăng so với trước thí nghiệm (0,035%) và đều ở mức nghèo lân. Trên
cùng một nền bón kali như nhau, tăng mức bón đạm thì lân tổng số trong đất tăng. Xu
hướng này cũng xảy khi tăng liều lượng kali bón trên cùng một mức đạm đều làm tăng
hàm lượng lân tổng số trong đất.
- Hàm lượng kali (K
2
O): Hàm lượng kali tổng số trước thí nghiệm là 0,020% và
sau thí nghiệm hàm lượng kali tổng số tăng, dao động từ 0,020 - 0,058%. Các công thức
có mức kali bón cao đều có hàm lượng kali tổng số cao hơn so với mức bón thấp hơn.
4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến năng suất
lạc trên đất cát biển tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định chúng tôi rút ra một số kết luận
như sau:
* Về năng suất:
Liều lượng đạm và kali có ảnh hưởng đến năng suất lạc, trong đó bón 40 kg N +
60 kg K
2
O/ha (công thức XI) đạt năng suất thực thu cao nhất (37,28 tạ/ha).
* Về hiệu suất của phân bón:
các mức bón khác.
* Một số chỉ tiêu hóa tính đất sau thí nghiệm:
Một số chỉ tiêu hóa học quan trọng của đất trước và sau thí nghiệm đã có sự thay
đổi. Bón phân như các công thức thí nghiệm đã làm giảm pH
KCl
chút ít, nhưng đã làm
tăng OC, CEC, lân tổng số, lân dễ tiêu, kali tổng số và đạm tổng số.
4.2. Đề nghị
Có thể áp dụng công thức bón 10 tấn phân chuồng + 500 kg vôi + 40 kg N + 90
kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O/ha cho cây lạc trên đất cát biển ở huyện Phù Cát và các địa
phương có điều kiện đất đai và khí hậu tương đồng ở tỉnh Bình Định. Đối với những hộ
khả năng đầu tư thấp, có thể sử dụng công thức 10 tấn phân chuồng + 500 kg vôi + 40 kg N
+ 90 kg P
2
O
5
+ 30 kg K
2
O/ha, vẫn đạt hiệu quả kinh tế cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Huy Cường, Báo cáo nghiên cứu khoa học, Đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình
thâm canh lạc trên một số loại đất ở tỉnh Bình Định, 2008.
2. Ngô Thế Dân, Nguyễn Xuân Hồng, Đỗ Thị Dung, Nguyễn Thị Chinh, Vũ Thị Đào,
– 60 kg K
2
O – 500 kg lime – 10 tons of Farm yard manure/ha obtained the highest
yield, the highest economic efficiency and good improvement of soil fertility.