Báo cáo " Chất lượng nước dùng trong trang trại chăn nuôi lợn vùng đồng bằng sông Hồng " pot - Pdf 12

Tạp chí Khoa học và Phát triển 2008: Tập VI, Số 3: 279-283 ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
279
CHÊT L¦îNG N¦íC DïNG TRONG TRANG TR¹I CH¡N NU¤I LîN
ë VïNG §åNG B»NG S¤NG HåNG
Quality of Water used at pig farms in the Red River delta
Vũ Đình Tôn
1,3
, Lại Thị Cúc
2
, Nguyễn Văn Duy
2
, Đặng Vũ Bình
1,3
1
Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
2
Khoa Thú y, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

3
Trung tâm nghiên cứu liên ngành Phát triển nông thôn
TÓM TẮT
Để đánh giá chất lượng nước dùng cho chăn nuôi, các mẫu nước dùng cho chăn nuôi trên 12
trang trại chăn nuôi lợn tại 3 tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương đã được khảo sát và phân tích
chất lượng. Quá trình khảo sát, phân tích các mẫu nước được tiến hành trong 2 giai đoạn: Từ tháng 10
đến tháng 12 năm 2006 và từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2007. Các thông số lý hoá được phân tích tại
phòng thí nghiệm bộ môn Vệ sinh - Ký sinh trùng, khoa Thú y, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Các
kết quả
phân tích cho thấy, tất cả các nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi lợn tại các trang trại được
lấy từ nguồn nước ngầm và một nửa trong số đó không được xứ lý. Hàm lượng khí COD(H
+
), COD(OH

-
in water in Hai Duong and Bac Ninh were
exceeded the hygiene standard. Iron content in water in all three provinces was exceeded the hygiene
standard. After using a processed system including artificial rain, H
2
O
2
supplement and filter the content
of DO, CO
2
and Fe in the water reached the permitted hygiene standard.
Keywords: Pig farm, water processing, water resource.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương là ba tỉnh
có ngành chăn nuôi phát triển, đặc biệt là chăn
nuôi lợn. Chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại
ngày càng trở nên phổ biến hơn. Tỉnh Bắc Ninh
có số trang trại chăn nuôi chiếm 75,5% tổng số
trang trại, trong đó trang trại chăn nuôi lợn chiếm
77%; Hưng Yên có số trang trại chăn nuôi chiếm
61,6%, trong đó trang trại chăn nuôi lợn chiếm
trên 80%; Hải Dương, tỷ lệ trang tr
ại chăn nuôi
là 44,9%, tỷ lệ trang trại chăn nuôi lợn đạt 98%
(theo số liệu thống kê, 2006, Sở Nông nghiệp &
PTNT tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương).
Trong quá trình phát triển chăn nuôi trang trại,
cùng với các yếu tố: con giống, thức ăn, chuồng
trại, việc cung cấp đủ số lượng nước và chất
lượng đảm bảo có ý nghĩa quan trọng. Nước sạch

4
+
, NO
2
-
, NO
3
-
, Cl
-
, PO
4
-
, SO
4
-
,
khí CO
2
, độ cứng, sắt, tổng chất rắn hoà tan tại
Phòng thí nghiệm Bộ môn Ký sinh trùng - Kiểm
nghiệm và Vệ sinh thú y - Khoa Thú y - Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Các mẫu nước
được phân tích theo Viện Y học lao động và Vệ
sinh môi trường (1993).
3. KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng nguồn nước cấp cho chăn nuôi
Hiện tại, các trang trại chăn nuôi đều tự khai
thác nguồn nước ngầm để phục vụ sinh hoạt và
chăn nuôi, thông qua các giếng khoan hay giếng

ở tầng trên thấm xuống nên dễ bị
ô nhiễm nếu việc thu gom, quản lý rác thải
không tốt. Khoảng cách từ nguồn nước đến nơi
ô nhiễm phần lớn không đạt khoảng cách quy
định. Khoảng cách từ nguồn nước đến chuồng
nuôi, hố phân không đạt tiêu chuẩn quy định
chiếm 66,67% (Bảng 1).
Đây chính là một trong những nguy cơ
làm nước giếng bị nhiễm phân và nước tiểu.
Trong trang trại ch
ăn nuôi có các bể chứa nước
với mục đích chủ yếu là dự trữ nước và phân
phối nước hơn là mục đích xử lý nước. Các bể
đều có thể tích nhỏ so với lượng nước sử dụng
hàng ngày nên thời gian nước dừng trong các
bể không đủ để thực hiện quá trình lắng hoặc
tự làm sạch, do vậy chất lượng nước ít được
cải thiện.
Bảng 2. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vật lý của nguồn nước
Chỉ tiêu
Nước giếng khoan (X ± m
⎯x
) Nước lọc (X ± m
⎯x
)
Giá trị cho phép
Nhiệt độ (
0
C)
23,20 ± 0,42 20,10 ± 1,29

Sneller, không màu, không mùi, không vị, đạt
tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (Bảng 2).

Bảng 3. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hoá học của nguồn nước
Chỉ tiêu Tỉnh Hải Dương Tỉnh Hưng Yên Tỉnh Bắc Ninh CTVSCP*
pH 6,11 – 7,3 5,96 – 7,89 4,2 – 7,13 6,5 - 8
DO (mg/l) 3,84 – 9,14 4,25 – 8,13 1,80 – 8,75 > 6
COD (KMnO
4
, H
+
) (mg/l) 1,8 – 10,55 1,32 – 2,11 3,28 – 9,69 2 - 4
COD (KMnO
4
, OH
-
) (mg/l) 0,94 – 9,30 1,25 – 2,27 0,27 – 2,35 2 - 4
Khí CO
2
(mg/l) 2,86 – 36,56 3,25 – 9,47 1,27 – 70,18 0 - 30
NH
4
+
(mg/l) 0,07 – 0,42 0,05 – 0,20 0,31 – 1,66 < 3
NO
2
-
(mg/l) 0 0 0 0
NO
3

gấp 2,32 lần tiêu chuẩn vệ sinh. Những dấu hiệu
này cho thấy nguồn nước hoặc bị nhiễm bẩn từ
đất ô nhiễm chất thải sinh hoạt, chăn nuôi hoặc
bị nhiễm bẩn trực tiếp các chất thải này. Tuy
nhiên, trong mẫu nước ở tỉnh Hưng Yên, các chỉ
tiêu COD(H
+
), COD(OH
-
) nằm trong khoảng
giới hạn của tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.
Nồng độ khí CO
2
vượt quá tiêu chuẩn vệ
sinh có trong 25% mẫu nước ở Hải Dương và
Bắc Ninh. Trong đó, nồng độ CO
2
vượt quá tiêu
chuẩn vệ sinh 1,2 lần ở Hải Dương, còn ở Bắc
Ninh từ 2,1 – 2,3 lần.
Nồng độ muối Cl
-
trong 58,3% số mẫu nước
vượt quá giới hạn tiêu chuẩn vệ sinh từ 1,2 – 3,6
lần. Tất cả các mẫu nước ở Hải Dương đều có
nồng độ Cl
-
vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh từ 1,2 –
2,84 lần, Bắc Ninh có 75% mẫu nước vượt tiêu
chuẩn vệ sinh từ 1,2 – 2,84 lần. Riêng Hưng Yên

3.2. Phương pháp xử lý nước trong trang trại
chăn nuôi
Kết quả theo dõi nước được xử lý bằng
phương pháp liên hoàn qua giàn phun, bổ sung
H
2
O
2
, để lắng,

lọc và được trình bày ở bảng 4.
Bảng 4. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hoá học của nước sau khi xử lý
Chỉ tiêu
Nước
giếng khoan
Nước
qua giàn phun
Nước
qua xử lý H
2
O
2
Nước
sau lọc
CTVSCP
pH 7 7 7 6,5 6,5-8
Tổng sắt (mg/l) 4,4 4 ,24 0,84 0,24 <0,6
DO (mg/l) 1,80 5,56 12,76 9,12 >6
COD (KMnO
4,

Độ cứng (mg/l CaCO
3
) 250 250 250 260 <500
Ghi chú: CTVSCP: chỉ tiêu vệ sinh cho phép (Chỉ tiêu VSCP: TCVN 505 - Bộ Y tế - 2002)
Bảng 4 cho thấy, nước giếng khoan khi khai
thác lên nồng độ sắt trong nước cao hơn 7 lần chỉ
tiêu cho phép, hàm lượng khí CO
2
cao hơn 2 lần
chỉ tiêu cho phép, hàm lượng DO, COD, muối
Cl
-
đều lớn hơn tiêu chuẩn vệ sinh.
Nguồn nước giếng khoan sau khi qua giàn
phun mưa, lượng DO tăng từ 1,8 mg/l lên 5,56
mg/l, hàm lượng khí CO
2
giảm mạnh từ 70,18
mg/l xuống còn 44 mg/l, lượng sắt giảm không
đáng kể từ 4,4 mg/l giảm còn 4,24 mg/l và vẫn
lớn hơn tiêu chuẩn vệ sinh. Sau khi qua giàn
phun mưa, nước được xử lý bằng H
2
O
2
với nồng
độ 6ml/m
3
và để lắng 6h, lượng sắt giảm đáng kể
từ 4,24mg/l giảm xuống còn 0,84 mg/l, DO tăng

, Cl
-
vượt quá
tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, nhưng tại các trang
trại ở Hưng Yên các chỉ tiêu này nằm trong
khoảng tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Nồng độ sắt
trong nước ở các trang trại tại Hải Dương, Bắc
Ninh và Hưng Yên đều vượt quá tiêu chuẩn vệ
sinh. Cao nhất là Bắc Ninh, nồng độ sắt vượt quá
tiêu chuẩn vệ sinh từ 2,3 – 38,3 lần. Chất lượng
nước dùng trong chăn nuôi lợn không đạt tiêu
Vũ Đình Tôn, Lại Thị Cúc, Nguyễn Văn Duy, Đặng Vũ Bình
283
chuẩn vệ sinh cho phép là yếu tố ảnh hưởng đến
tình hình dịch bệnh và chất lượng sản phẩm cung
cấp ra thị trường. Phương pháp xử lý nước liên
hoàn: phun mưa, dùng H
2
O
2
, lắng và lọc bằng
cát đảm bảo được các chỉ tiêu hàm lượng sắt,
CO
2
, COD trong nước ở phạm vi tiêu chuẩn vệ
sinh cho phép. Phương pháp này dễ áp dụng và
nâng cao chất lượng nước dùng cho chăn nuôi.
Tuy nhiên, nó có hiệu quả không cao đối với
giảm mặn và độ cứng của nước.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status