Luận văn: VỀ LÃI SUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ pot - Pdf 12

\
Trang 1

Luận văn

VỀ LÃI SUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT
ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ

\
Trang 2 LỜI MỞ ĐẦU

người trong xã hội. Lãi suất tác động đến quyết định của mỗi cá nhân: chi tiêu hay
tiết kiệm đề đầu tư. Sự thay đổi lãi suất có thể dẫn tới sự thay đổi quyết định của
mỗi doanh nghiệp: vay vốn để mở rộng sản xuất hay cho vay tiền để hưởng lãi
suất, hoặc đầu tư vào đâu thì có lợi nhất. Thông qua những quyết định của các cá
nhân, doanh nghiệp lãi suất ảnh hưởng đến mức độ phát triển cũng như cơ cấu của
nền kinh tế đất nước.
1. Các lý thuyết kinh tế về bản chất của lãi suất
1.1. lý thuyết của C.Mác về lãi suất.
* Lý thuyết của Mác về nguồn gốc, bản chất lãi suất trong nền kinh tế
hàng hoá TBCN
Qua qúa trình nghiên cứu bản chất của cntb Mác đã vạch ra rằng quy luật giá
trị thặng dư tức giá trị lao động không của công nhân làm thuê tạo ra là quy luật
kinh tế cơ bản của chủ nghia tư bản và nguồn gốc của mọi lãi suất đều xuất pháttừ
giá trị thặng dư.
Theo Mác, khi xã hội ptr thì tư bản tài sản tách rời Tư bản chức năng, tức là
quyền sở hữu tư bản tách rời quyền sử dụng tư bản nhưng mục đích của tư bản là
giá trị mang lại giá trị thặng dư thì không thay đổi. Vì vậy, trong xã hội phát sinh
quan hệ dho vay và đi vay, đã là tư bản thì sau một thời gian giao cho nhà tư bản đi
vay sử dụng, tư bản cho vay được hoàn trả lại cho chủ sở hữu nó kèm theo một giá
trị tăng thêm gọi là lợi tức.
\
Trang 4
Về thực chất lợi tức chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi
vay phải cho nhà tư bản vay. Trên thực tế nó là một bộ phận của lnh bình quân mà
các nhà tư bản công thương nghiệp đi vay phải chia cho các nhà tư bản cho vay.
Do đó nó là biểu hiện quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa được mở rộng trong lĩnh
vực phân phối và giơí hạn tối đa của lợi tức là lnh bình quân, còn giới hạn tối thiểu
thì không có nhưng luôn lớn hơn không.
Vì vậy sau khi phân tích côg thức chung của tư bản và hình thái vận động đầy
đủ của tư bản Mác đã kết luận:”Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết

Tuy nhiên quan điểm của M. Friedman khác cơ bản với Keynes ở việc xác định vai
trò của lãi suất. Nừu Keynes cho rằng cầu tiền là một hàm của lãi suất còn
M.Friedman dựa vào nghiên cứu các tài liệu thực tế thống kê trong một thời gian
dài, ông đi đế khẳng định mức lãi suất không có ý nghĩa tác động đến lượng cầu về
tiền mà cầu tiền biểu hiện là một hàm của thu nhập và đưa ra khái niệm tính ổn
định cao của cầu tiền tệ.
Có thể thấy rằng : quan điểm coi lãi suất là kết quả hoạt động của tiền tệ đã rất
thành công trong việc xác định các nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng.
Tuy nhiên hạn chế của cách tiếp cận này là suy bản chất của lợi tức là bản chất của
tiền và dừng lại ở việc nghiên cứu cụ thể.
Tóm lại, lãi suất là tỷ lệ % giữa khoản tiền người đi vay phải trả thêm cho
người cho vay trên tổng số tiền vay đầu một thời hạn nhất định để được sd tiền vay
đó.
2 - Các phép đo lãi suất
Phép đo chính xác nhất là lãi suất hoàn vốn. Nó là lãi suất làm cân bằng giá trị
hiện tại của khoản tiền trả trong tương lai với giá trị hôm nay cuả nó. Vì khái niệm
tiềm ẩn trong việc tính lãi suất hoàn vốn có ý nghĩa tốt về mặt kinh tế. Nó tính cho
4 công cụ thị thị trường tín dụng:
2.1. Vay đơn:
\
Trang 6


n
n
iPF  1
F
n
: số tiền vay và lãi thu về trong tương lai.
P,n,i: số tiền vay ban đầu, thời hạn vay tín dụng và lãi suất

     
n
i
F
i
C
i
C
i
C
Pb








111
1
32


Pb: giá trái khoán
C : Tiền coupon hàng năm
F : Mệnh giá trái khoán
n : số năm tới ngày mãn hạn.
2.4. Trái khoán giảm giá.
Pd

chứng khoán bất kỳ.
3.3.Lãi suất thực với lãi suất danh nghĩa.
\
Trang 8
Từ lâu nay chúng ta đã quên mất tác dụng của lạm phát đối với chi phí vay
mượn. Cái mà chúng ta gọi là lãi suất không kể đến lạm phát cần được gọi một các
chính xác hơn là lãi suất danh nghiã để phân biệt với lãi suất thực. Lãi suất danh
nghĩa là lãi suất cho ta biết sẽ thu được bao nhiêu đồng hiện hành về tiền lãi nếu
cho vay một trăm đồng trong một đơn vị thời gian(năm, tháng…). Như vậy sau
khoảng thời gian đó ta sẽ thu được một khoản tiền gồm gốc và lãi. Tuy nhiên giá
cả hàng hoá không ngứng biến động do lạm phát, điều chúng ta quan tâm là lúc đó
số tiền gốc và lãi sẽ mua được bao nhiêu hàng hoá.
Lãi suất thực là lãi suất danh nghĩa được chỉnh lại cho đúng theo những thay
đổi dự tính về mức giá, thể hiện mức lãi theo số lượng hàng hoá và dịch vụ.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực được Fisher phát biểu
thông qua phương trình mang tên ông như sau:
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát dự tính
Công thức xác định lãi suất thực này được sử dụng phổ biến hiện nay. Tuy
nhiên, công thức này không chú ý đến tổng lãi thu được phải chịu thuế thu nhập.
Nếu tính đến yếu tố thuế thì:
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – Thuế thu nhập biên thực tế – Tỷ lệ
lạm phát dự tính

II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÃI SUẤT
Như chúng ta đã biết lãi suất tín dụng ngân hàng được xác định trên cơ sở cân
bằng cung cầu tiền gửi, tiền cho vay trên thị trường. Do đó những nhân tố ảnh
hưởng tới hình thái diễn biến của lãi suất chính là những nhân tố tác động làm thay
đổi cung cầu tiền vay.
Phân tích diễn biến lãi suất trên thị trường trái khoán (khuôn mẫu tiền vay) và
trên thị trường tiền tệ (khuôn mẫu ưa thích tiền mặt) tuy có những đặc điểm khác


t i

i
i
Ms

Md
1

Md
2

E
1

E
2

Hình 1.1: Mô tả mối liên hệ giữa tăng trưởng và lãi suất. Khi của cải tăng lên
đường cầu tiền dịch chuyển sang phải từ Md
1
đến Md
2
làm lãi suất từ i
1
đến i
2
\
Trang 10

1
tới D
2
. lãi suất tằng từ i
1
tới i
2
. Vởy tăng cơ hội đầu tư
sinh lợi sẽ làm tăng lãi suất do
tăng cầu về tư bản cho vay và
ngược lại.
L
ã
i su

t i
i
i
Md
1
Md
2
Lượng tiềnS


2
đồng thời
cung giảm từ S
1
đến S
2
, lãi
suất tăng từ i
1
đến i
2
L
ã
i su

t i
i
i
Lượng tiềnS
1

S
2
D

1
đến d
2
, lãi suất
tăng từ i
1
đến i
2
\
Trang 12
Ngân sách Nhà nước vừa là nguồn cung tiền gửi vừa là nguồn cầu tiền vay đối
với ngân hàng. Do đó, sự thay đổi giữa thu, chi ngân sách Nhà nước là một trong
những nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất. Ngân sách bội chi hay thu không kịp tiến độ
sẽ dẫn đến lãi suất tăng. Để bù đắp, chính phủ sẽ vay dân bằng cách phát hành trái
phiếu. Như vậy lượng tiền trong dân chúng sẽ bị thu hẹp làm tăng lãi suất.
Ngoài ra khi thâm hụt ngân sách đã trực tiếp làm cầu về quỹ cho vay trong các
định chế tài chính tăng lên, trong khi cung lại giảm và nâng cao lãi suất hoặc người
dân dự đoán lạm phát sẽ tăng cao do Nhà nước tăng khối lượng cung ứng tiền tệ,
dẫn tới việc găm tiền lại để mua tài sản khác làm cung quỹ cho vay bị giảm một
cách tương ứng và lãi suất tăng lên.
Trường hợp bội thu ngân sách sẽ dẫn đến lãi suất giảm do sự vận động ngược
lại với trường hợp chi ngân sách.
6. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước
khác. Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định và chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố như giá cả, thuế… trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay
làm cho không một quốc gia nào, nếu muốn tồn tại và phát triển, lại không tham
gia thực hiện phân công lao động và thương mại quốc tế. Thông qua quá trình trao
đổi buôn bán giữa các nv tỷ giá hối đoái giảm, xuất khẩu tăng lên nguồn thu ngoại
tệ tăng lên. Điều đó làm tăng cung ngoại tệ, tương đương với việc tăng cầu nội tệ

đ
)

S
1

)

S
2

)
Hình 1.7: Mô t

khi đồng nội t

giảm giá, e($/đ
)
giảm làm xuấ
t
khẩu tă
ng, S($)
tăng hay D(đ
)
t
ă
ng l
à
m
đ

lại. Nghiên cứu thực tiễn cho thấy tác dụng thu nhập, mức giá và lạm phát dự tính
vượt trội so với tính lỏng.
Vì vậy một sự tăng lượng tiền cung ứng dẫn đến việc tăng lãi suất trong dài
hạn.
III. VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
1. Lãi Suất với quá trình huy động vốn.
Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy để phát triển kinh tế cần phải có vốn và
thời gian. Các nước tư bản phát triển phải mất hàng trăm năm phát triển công
nghiệp và quá trình lâu dài tích tụ vốn từ sản xuất và tiêu dùng. Đối với Việt
Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và sử dụng vốn có tầm
quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn. Vì vậy
chính sách lãi suất có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động nguồn vốn
nhàn rỗi trong xã hội và cacs tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định hướng vốn trong
nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng trong chiến lược CNH-HĐH
nước ta hiện nay.
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suất phải
boả tồn được giá trị vốn vay, đảm bảo tích luỹ cho cả người cho vay và người đi
vay. Cụ thể:
+ Tỷ lệ lạm phát< lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợi nhuận bình
quân.
+ Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay)
2. Lãi suất với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi mà
họ dự tính lợi nhuận thu được từ taì sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trả cho
các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinh doanh có
điều kiện tiến hành mở rộng đâu tư và ngược lại. Trong môi trường tiền tệ hoàn
\
Trang 15
chỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn
bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanh

1

I = I – b*i
i
2

_

Hình 1.8: Biểu diễn
mối quan hệ tỷ lệ
nghịch giữa đầu tư
v
à

l
ã
i su

t.

\
Trang 16
Tỷ giá chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ. Sự
thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa. Nừu
lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng (lãi suất thực không đổi) thì tỷ giá
giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tế tăng (tỷ lệ lạm phát không
đổi) thì tỷ giá tăng. khi tỷ giá đồng ngoại tệ tăng đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá
giảm) và ngược lại.
+ Vai trò của lãi suất trong nước với quá trình Xuất Nhập Khẩu: khi lãi suất
thực tế tăng lên làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên. tỷ giá hối đoái cao hơn làm hàng


Hình 1.9: Với một mức lãi suất
thực tế thấp, tỷ giá thấp và xuất
khẩu ròng cao với mức lãi suất
cao tỷ giá cao và xuất khẩu ròng
thấp
e(USD/VND
)

i
1

L

i t

c d


t
í
nh
RET1

i
2

RET2

Hình 1.10: Lãi suất

Tuy nhiên, dùng lãi suất để chốnglạm phát không thể duy trì lâu dài vì nó sẽ
làm giảm đầu tư, tổng cầu, sản lượng. Do vậy phải kết hợp nó với các công cụ
khác.
6. Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực.
Tất cả các nguồn lực đều có tính khan hiếm. Vấn đề là xã hội phải phân bổ và
sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả. Nghiên cứu trong nền kinh tế thị trường
cho thấy giá cả đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực
giữa các ngành kinh tế. Như ta đã biết, lãi suất là một loại giá cả, nghĩa là lãi suất
có vai trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội. Để quyết định
đầu tư vào một ngành kinh tế một dự án hay một tài sản nào đó chúng ta đều phải
quan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suất lợi tức thu được với chi phí ban
đầu. Điều này có nghĩa là phải xem việc đầu tư này có mang lại lợi nhuận hay
không và có đảm bảo hiệu quả kinh doanh để trả khoản tiền lãi của số tiền vay cho
\
Trang 18
chi phí ban đầu hay không. Khi quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, một dự
án hay một tài sản ta phải quan tâm tới chênh lệch giữa lợi nhuận đem lại và số
tiền vay phải trả. Khi chênh lệch này là dương, thì nguồn lực sẽ được phân bổ tới
đó và là sự phân bổ hiệu quả.
7. Lãi suất vai trò của nó đối với Ngân Hàng Thương mại
NHTM với hai nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh của mình là huy
động vốn và sử dụng vốn đã phản ánh quy mô hoạt động của các NHTM. Với
phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong
các doanh nghiệp và dân cư để cho vay phát triển kinh tế và các nhu cầu tiêu dùng
khác của nhân dân. Để huy động vốn và cho vay có hiệu quả, NHTM phải xác
định lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay một cách hợp lý. Nừu lãi suất huy động
tiền gửi quá thấp thì không khuyến khích các doanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào,
dẫn đến NHTM không đủ vốn cho vay để đáp ứng yêu cầu khách hàng.
Lãi suất Ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh
doanh của NHTM và khách hàng. Nừu lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng

vay trung và dài hạn, kết quả là lỗ.
- Lãi suất cho vay < lãi suất huy động vốn và mức lạm phát nên ngân hàng
trong tình trạng bao cấp đối với doanh nghiệp vay vốn và thông qua hệ thống tín
dụng lãi suất thấp luôn trong tình trạng lỗ hoạt động Ngân hàng không ổn định.
2. Đối với doanh nghiệp.
\
Trang 20
- Vì lãi suất cho vay < lạm phát nên các doanh nghiệp thị nhau vay vốn, tìm
mọi cách , mọi cơ hội vay vốn để được hưởng bao cấp.
- doanh nghiệp vay nhiều nhưng lợi nhuận thu được không phải do sản xuất
kinh doanh mà do hưởng bao cấp của NHTM tạo mức lợi nhuận giả cho các doanh
nghiệp.
II. Từ tháng 3/1989 đến 1993
Chính sách lãi suất thực dương đã phát huy hiệu quả với lãi suất tiết kiệm
không kỳ hạn là 109% năm, lãi suất tiết kiệm 3 tháng là 12% tháng, huy động
được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực
tới NHTM và doanh nghiệp.
1. Tác động tích cực của chính sách lãi suất thực dương.
* Đối với NHTM
Chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất dương tức là ngành ngân hàng đã từng
bước thực hiện một cách nhất quán đẳng thức quan trọng trong cơ chế thị trường:
lãi suất cho vay tín dụng> lãi suất tiền gửi tiết kiệm> tỷ lệ lạm phát. Do đó NHTM
không còn phải bao cấp đối với các doanh nghiệp vay vốn thông qua tín dụng nữa.
Lãi suất thực dương cao đã thu hút một số lượng tiền gửi lớn vào các ngân
hàng làm lượng tiền dự trữ cuả các ngân hàng tăng cao đáp ứng được nhu cầu vay
vốn của doanh nghiệp.
* Đối với doanh nghiệp.
Lãi suất tiền gửi cao dẫn đến lãi suất cho vay cao buộc các doanh nghiệp phải
cân nhắc việc vay vốn đầu tư, phải xem xét và lựa chọn các phương án đầu tư có
hiệu quả nhất.

Trang 22
0,2%/ tháng và cho vay cao hơn mức lãi suất trần là 2,1%/tháng. chế độ lãi suất
này đã ít nhiều giúp cho hd của NHTM và DN có những chuyển biến tốt.
1. Tác động tích cực
- Nhờ những định mức trần lãi suất mà hạn chế được phần nào tình trạng lãi
suất thực dương quá cao trong thời kỳ trước và do đó trong các NHTM cũng dần
cân bằng giữa tài sản nợ và tài sản có, đảm bảo được lợi nhuận. Các doanh nghiệp
cũng cần có thêm cơ hội vay vốn kinh doanh và mở rộng quy mô vốn đầu tư.
- Nhờ có lãi suất thoả thuận mà hoạt động tín dụng giữa NHTM và doanh
nghiệp linh hoạt hơn phù hpj với ccs đặc điểm hoạt động và tình hình cung cầu
vốn, chính sách khách hàng và cạnh tranh của từng tổ chức tín dụng và chủ động
điều hoà quan hệ cung cầu về vốn kinh doanh bằng công cụ lãi suất.
2. Tác động tiêu cực
- Trong điều kiện lạm phát gia tăng lãi suất thực không còn bao nhiêu và nhiều
loại tièn gửi không còn được bảo toàn giá trị khi gửi.
- Nguồn vốn để cho vay trung hạn không có.
- Loại tiết kiệm 12 tháng lãi suất cao hơn lãi suất cho vay trung hạn nên các
NHTM không huy động loại tiết kiệm này.
- Lãi suất cho vay trung hạn thấp hơn lãi suất cho vay ngắn hạn là trái với
thông lệ quóc tế, đối lập với huy động vốn có thời hạn 6 tháng.
*Đối với NHTM
nguyên lý phổ biến về mặt thời hạn sử dụng vốn tín dụng trong cùng một thời
điểm cho vay cho thấy, mức lãi suất cao thường đáp ứng cho nhu cầu vay vốn dài
hạn, lãi suất thấp cần cho việc huy động vốn ngắn hạn. Nhưng trong giai đoạn này
lãi suất tín dụng ngắn hạn lại được quy định cao hơn dài hạn, do đó NHTM chủ
yếu huy động được vốn ngắn hạn trong khi tỷ lệ vốn huy động trung bà dài hạn rất
\
Trang 23
nhỏ. Nừu lấy vốn ngắn hạn cho vay đầu tư trung và dài hạn thị NHTM phải chịu
thua thiệt.

- Địa bàn thành thị: 1,75%
Đồng thời khống chế lãi suất chênh lệch lãi suất cho vay và huy động là 0,35%
tháng
Sau đó năm 97,98,99 có sự thay đổi cho phù hợp :
+ Trần lãi suất cho vay ngắn hạn 1,2% tháng
+ Trần lãi suất cho vay trung và dài hạn 1,25% tháng.
+ Trần lãi suất tín dụng cho vay thành viên 1,5% tháng.
Bỏ mức lãi suất huy động chênh lệch vốn 0,35%tháng.
-Ngày 21/10/1998:
+ Tăng trần lãi suất cho vay ngắn hạn lên 1,1% - 1,2% tháng.
+ Trần lãi suất cho vay trung và dài hạn 1,2- 1,25% tháng
Năm 1999 lãi suất có xu hướng giảm
- 2/1999 lãi suất cho vay bằng Việt NamĐ đối với khách hàng ở khu vực thành
thị của các NHTMQD giảm xuống 1,1 – 1,15% tháng. Tổ chức tín dụng khác vẫn
theo mức 1,2% tháng với ngắn hạn, 1,25% tháng đối với trung và dài hạn.
-6/1999 nền kinh tế có dấu hiệu phát triển chậm lại sức mua giảm sút NHNN
quyết định hạ trần lãi suất cho vay bằng VND xuống 1,15%tháng, không phân biệt
thành thị, nông thôn, ngắn hạn, trung, dài hạn.
\
Trang 25
-8/1999 hạ trần lãi suất xuống mức 1,05% tháng cho mọi đối tượng.
-9/1999 lãi suất cho vay bằng VND của NHTMQD với khu vực thành thị giảm
xuống 0,95% tháng.
- 10/1999 khu vực thành thị 0,85%, khu vực nông thôn 1% tháng.
1. Chính sách lãi suất trần tác động đến các NHTM.
- Tích cực: việc tổ chức quản lý lãi suất trần cho phép các tổ chức tín dụng
được tự do ấn định các mức lãi suất cho vay và tiền gửi trong phạm vi trần do
NHnn cho phép. Sự ra đời của chính sách lãi suất trần đã chấm dứt thời kỳ NHNN
qui định các mức lãi suất do đó:
+ NHTM linh hoạt hơn trong môi trường kinh doanh – xây dựng chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status