Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay cùng với những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế đem lại là
những thách thức mà nền kinh tế nói chung và thị trường ngân hàng tài chính
nói riêng của Việt Nam cần phải đối mặt. Trước sự phát triển không ngừng đó
các dịch vụ ngân hàng- tài chính ngày càng được đa dạng hóa và phát triển
linh hoạt với chất lượng ngày càng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Ngân hàng không còn chiếm vị thế độc tôn là trung gian trên thị trường tài
chính mà thêm vào đó còn có sự góp mặt của các công ty Tài chính cùng với
các dịch vụ tài chính truyền thống như tín dụng cá nhân,tín dụng doanh
nghiệp,chiết khấu giấy tờ có giá…bên cạnh những dịch vụ truyền thống đó,
các Công ty tài chính còn tung ra một số loại hình dịch vụ tài chính mới mẻ
nhằm cạnh tranh với các ngân hàng vào tạo chỗ đứng cho riêng mình. Đồng
thời khi nền kinh tế phát triển, ngày càng có nhiều cá nhân, tổ chức sở hữu
khối lượng tài sản lớn dẫn đến nhu cầu quản lý tài sản và đầu tư tài sản đó sao
cho hiệu quả nhất. Nắm bắt được những điều kiện và nhu cầu đó,Tổng công
ty cổ phần Tài chính Dầu khí(PVFC) đã đi tiên phong trong việc triển khai
một dịch vụ hoàn toàn mới: dịch vụ ủy thác đầu tư. Đây là dịch vụ hứa hẹn
nhiều tiềm năng phát triển nên việc này đặt ra cho Tổng công ty Tài chính
Dầu khí(PVFC) nhu cầu cấp thiết để có những giải pháp nhằm hoàn thiện và
nâng cao chất lượng dịch vụ.
Trong quá trình thực tập tại Tổng công ty cổ phẩn Tài chính Dầu khí, em
đã có cơ hội được tiếp xúc với các quy trình, văn bản hướng dẫn thực hiện
nghiệp vụ này .Đồng thời nhận thấy những nét mới lạ, tiềm năng, vai trò của
dịch vụ ủy thác đầu tư trong chiến lược kinh doanh chung của cả Tập đoàn
Tài chính Dầu khí và những hạn chế cần khắc phục của nghiệp vụ em đã chọn
đề tài cho khoá luận tốt nghiệp là: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
1
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy
động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn
về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp
luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi
dưới 1 năm.
• Đặc trưng cơ bản của công ty tài chính:
- Tuy cũng là một trung gian tài chính nhưng hình thức thu hút vốn của
công ty tài chính khác với các ngân hàng thương mại, hình thức thu hút
vốn chủ yếu là thông qua việc phát hành các loại chứng khoán (trái
phiếu, cổ phiếu, tín phiếu), đặc biệt là không nhận tiền gửi của các tổ
chức và dân cư.
1
Federic S. Minskhin
3
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
- Công ty tài chính huy động các nguồn vốn lớn và cho vay chủ yếu là
các món tiền nhỏ, đặc biệt thích hợp với nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp nhỏ và người tiêu dùng.
- Kỳ hạn của các khoản cho vay của các công ty tài chính chủ yếu là
trung và dài hạn.
- Công ty tài chính thực hiện các nghiệp vụ cho thuê và thuê
mua( leasing)
- Thực hiện cầm cố các giấy tờ có giá, kinh doanh tiền tệ
- Tư vấn tài chính, marketing, giám định các công việc chuẩn bị để ký
kết hợp đồng, thành lập các công ty liên doanh, tư vấn phát hành cổ
phiếu…
- Trợ cấp tài chính cho các dự án phát triển kinh tế ký thuật( các dự
án được xét duyệt bởi Nhà nước hay dự án của tập đoàn đối với các
công ty tài chính trực thuộc tập đoàn)
và tiện lợi hơn tại nơi mua hàng
- Công ty tài chính người tiêu dùng: thực hiện các món cho vay cho
người tiêu dùng để mua những món hàng riêng như đồ đạc và dụng
cụ gia đình để cải thiện nhà cửa hoặc để giúp thanh toán những món
nợ nhỏ. Các công ty tài chính người tiêu dùng là các công ty riêng
biệt hoặc do các ngân hàng sở hữu. Các công ty này cho người tiêu
dùng vay mà không có tín dụng từ những nguồn khác và thu lãi suất
cao hơn.
- Công ty tài chính kinh doanh: cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt
cho các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền sẽ thu (các
hóa đơn của hãng) có chiết khấu. Việc cung cấp tín dụng này được
gọi là bao thanh toán. Ngoài việc bao thanh toán các công ty tài
chính kinh doanh cũng chuyên môn hóa trong việc cho thuê thiết
5
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
bị,là những thứ mà họ mua và cho các nhà kinh doanh thuê một số
năm( leasing).
• Phân loại theo quan hệ sở hữu
2
: theo điều 3 Nghị định 79/2002/NĐ-
CP.
- Công ty tài chính Nhà nước: là Công ty Tài chính do Nhà nước
đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh.
- Công ty tài chính cổ phần: là Công ty Tài chính do các tổ chức và
cá nhân cùng góp vốn theo quy định của pháp luật, được thành lập
dưới hình thức Công ty cổ phần.
- Công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng: là Công ty Tài chính
do một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm
chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư
quy định của pháp luật.
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy
tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
theo quy định của pháp luật hiện hành;
- Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong, ngoài nước và các tổ
chức tài chính quốc tế.
- Tiếp nhận vốn uỷ thác của Chính phủ, các tổ chức và cá
nhân trong và ngoài nước.
So với các ngân hàng, nguồn vốn huy động được của các công ty tài chính
phải chịu mức chi phí cao hơn do họ chỉ được phép huy động các nguồn vốn
trung và dài hạn. Bên cạnh đó, công ty tài chính không được phép vay từ cửa
sổ chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước dễ dàng như các NHTM. Ở Mỹ, các
công ty tài chính không được tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân
hàng nên họ không cần phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà chỉ cần trích lập
quỹ dự phòng rủi ro và duy trì tỷ lệ đảm bảo an toàn.
1.1.2.2.Hoạt động tín dụng.
3
Điều 17/ NĐ 79/2002/ NĐ-CP
7
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
Các công ty tài chính được phép hoạt động tín dụng dưới các hình thực
cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê (leasing) và bao thanh
toán( factoring). Hoạt động tín dụng của công ty tài chính cũng có những nét
khác biệt các NHTM, thể hiện qua 3 đặc điểm sau: Công ty tài chính chủ yếu
cho vay trung và dài hạn, họ chủ yếu thực hiện vay các món lớn rồi chia thành
các món nhỏ để cho vay- điều này hoàn toàn ngược lại so với các NHTM.
Đồng thời vì chi phí vốn vay lớn hơn các NHTM nên công ty tài chính thường
gặp khó khăn hơn trong việc tìm kiếm các hợp đồng cho vay hoặc phải chấp
nhận cho vay các hợp đồng hay dự án có rủi ro cao.
vi mối quan hệ của họ và theo hợp đồng thỏa thuận. Hoạt động ủy thác làm
này sinh mối quan hệ: một bên hoạt động cho lợi ích của bên kia theo như
hợp đồng thỏa thuận và người hưởng thụ sẽ cũng có thể là bên thứ ba. Trên
thế giới, dịch vụ ủy thác ra đời từ rất sớm, đầu tiên xuất hiện ở Mỹ và Anh.
Trong giai đoạn đầu này các chức năng ủy thác được thực hiện bởi các công
ty bảo hiểm hoặc các cá nhân. Một đặc điểm quan trọng trong giai đoạn này
đó là chưa có sự tham gia của pháp luật trong điều hành hoạt động ủy thác vì
vậy các bên chỉ thỏa thuận trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau, đôi bên cùng có lợi.
Ở Mỹ, mãi đến năm 1913, các ngân hàng mới được quyền thực hiện các dịch
vụ ủy thác và cho đến bấy giờ,hoạt động ủy thác thường gắn liền với hoạt
động của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty chứng
khoán…Ở Việt Nam,các công ty tài chính là cha đẻ của các loại hình dịch vụ
ủy thác và ngày nay cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt
Nam càng có nhiều các quỹ ủy thác đầu tư xuất hiện.
Qua hai khái niệm trên ta hiểu về bản chất ủy thác biểu hiện mối quan hệ
giữa hai hay nhiều bên tham gia, bao gồm:
- Người ủy thác: trustor
- Người nhận ủy thác: trustee
9
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
- Người thụ hưởng: beneficiary (người thụ hưởng thường là chính người
ủy thác)
Trong mối quan hệ này, người ủy thác phải giao quyền nắm giữ tài sản cho
người nhận ủy thác và “tài sản” được hiểu theo nghĩa rộng là tiền mặt, bất
động sản,giấy tờ có giá hoặc một công việc ý muốn nào đó cần được thực
hiện.
Ủy thác có 4 đặc điểm cơ bản sau:
- Ủy thác dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người này với người khác, do đó
thuật ngữ Trust được sử dụng để chỉ nghiệp vụ này.
tế, đầu tư cũng luôn là hoạt động quan trọng của bất kỳ thành phần
kinh tế nào, đó là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lời cho tương lai. Vì
vậy đầu tư được hiểu là một quy trình từ khi xác định nguồn tài trợ,
phương thức tài trợ, chi phí của nguồn tài trợ, đầu tư vào đâu, xác
suất hiệu quả như thế nào… Đầu tư là hoạt động lâu dài vì thế luôn
luôn phải cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích kỳ vọng trong
tương lai, đòi hỏi người đầu tư phải am hiểu thị trường,kiến thức tài
chính... Bản thân hoạt động đầu tư luôn tiềm ẩn những rủi ro mà
nhiệm vụ của người đầu tư là tối đa hóa lợi ích, tối thiểu hóa rủi ro.
Do đó, không phải cá nhân hay tổ chức nào có vốn cũng có thể thực
hiện tốt hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, để đầu tư nhiều khi cần
phải bỏ ra một lượng chi phí khá lớn để thu thập thông tin mà chi
phí này đôi khi lớn hơn cả lợi nhuận thu được. Từ thực tế và những
đòi hỏi trên mà dịch vụ ủy thác đầu tư ra đời nhằm đầu tư hiệu quả
những nguồn vốn để mang lại lợi nhuận tối đa.
Thuật ngữ “ủy thác đầu tư” được hiểu là: hình thức khách hàng giao
một số vốn nhất định của mình bên nhận ủy thác để tham giam gia đầu tư vào
11
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
dự án, doanh nghiệp hoặc lĩnh vực cụ thể nhằm thu được các lợi ích nhất định
từ hoạt động đầu tư nói trên.
Thực chât ủy thác đầu tư là một hình thức đầu tư gián tiếp, vậy lợi
ích của ủy thác đầu tư so với các hình thức đầu tư khác là gì? Khi một người
nắm giứ một khoản tiền nhàn rỗi, có có thể đứng trước nhiều chọn lựa đầu
tư:gửi tiết kiệm ngân hàng,mua trái phiếu chính phủ, chứng khoán hoặc trực
tiếp đem vốn đi đầu tư…Mua trái phiếu hay công trái chính phủ, gửi tiết kiệm
ngân hàng,đây là những giải pháp an toàn, mức độ rủi ro thấp nhưng tương
xứng với nó là mức lợi nhuận thu về không cao. Thông thường trong một vài
năm gần đây lãi suất trái phiếu chính phủ thường chỉ ở mức 8.5%/năm và tiền
hóa các cổ phần đem lại một tỷ lệ lợi tức lớn hơn. Như vậy,dù cho bản chất
hay nguồn gốc của nguồn vốn được ủy thác là gì đi chăng nữa thì bên thụ thác
phải tìm kiếm được lợi tức cao nhất trong phạm vi giới hạn của sự lựa chọn
các tài sản đầu tư. Nhiều giới hạn đối với việc đầu tư ủy thác, đầu tư qua các
quỹ ủy thác đã được giới hạn bởi hệ thống pháp luật và bởi chính các hợp
đồng ủy thác.
• Lợi ích giữa các bên trong hoạt đầu ủy thác đầu tư:
- Lợi ích đối với bên ủy thác: một hợp đồng ủy thác đầu tư sẽ là một
giải pháp tốt để trung hòa giữa hai thái cực rủi ra và lợi nhuận cho bên ủy
thác. Thông qua việc ủy thác đầu tư cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp( bên
thụ thác), các cá nhân, tổ chức ủy thác có thể yên tâm hơn về lợi nhuận của
các khoản đầu tư từ tài sản của mình bởi hơn ai hết những nhà đầu tư chuyên
nghiệp kia hiểu rõ nên lựa chọn đầu tư vào đâu, vào tài sản nào,có lợi nhất với
mức rủi ro thích hợp. Bên ủy thác không những được biết rõ tài sản của mình
được đầu tư vào đâu mà còn theo dõi được khả năng sinh lời của khoản vốn
đó trong suốt quá trình đầu tư.
13
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
- Lợi ích đối với bên nhận ủy thác( thụ thác): thông qua dịch vụ nhận
ủy thác đầu tư, bên thụ thác có thể huy động được một nguồn vốn nhàn rỗi
lớn với thời hạn dài,đồng thời họ cũng được chia sẻ phần nào gánh nặng rủi ro
với các bên tham gia. Đối với bên nhận ủy thác là các tổ chức tín dụng, việc
nhận ủy thác đầu tư sẽ giải quyết được vấn đề về hạn mức đầu tư mà pháp
luật qui định với các tổ chức tín dụng do đầu tư bằng nguồn vốn của người ủy
thác, huy động vốn cho các dự án một cách tốt hơn. Dịch vụ ủy thác đầu tư
góp phần làm đa dạng hóa các dịch vụ tài chính của các công ty tài chính,tổ
chức tín dụng, đông thời giúp các tổ chức này mở rộng quan hệ với khách
hàng của mình.
1.2.2.4.Các nguyên tắc và quy trình của hoạt động ủy thác đầu tư.
cấp thông tin, thủ tục chuyển nhượng vốn đầu tư và các điều kiện liên
quan khác phải được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng thời hạn.
• Nguyên tắc bảo mật thông tin.
Mọi thông tin về hoạt động nhận ủy thác đầu tư và toàn bộ các
thông tin liên quan khác đều phải được bảo mật và không được tiết lộ
cho bất cứ bên thứ ba nào khác trừ khi có yêu cầu hoặc đồng ý của bên
thụ thác và bên ủy thác.
• Nguyên tắc tôn trọng quyền lựa chọn phương thức ủy thác đầu tư
của bên ủy thác.
Bên cung cấp dịch vụ ủy thác đầu tư có quyền giới thiệu đầy đủ các
sản phẩm và đặc tính của các sản phẩm ủy thác đầu tư mà mình cung
cấp song quyết định lựa chọn sử dụng loại hình nào phải là quyết định
cuối cùng của khách hàng, được pháp lý hóa bằng hợp đồng ủy thác.
1.2.2.4.2.Quy trình hoạt động ủy thác đầu tư.
• Bên ủy thác đầu tư:
15
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
- Lựa chọn một hoặc một nhóm các cơ hội đầu tư trên cơ sở danh mục các
cơ hội đầu tư do bên thụ thác giới thiệu hoặc đưa ra yêu cầu của mình.
- Ký hợp đồng ủy thác đầu tư, giao vốn và ủy quyền cho bên thu thác
thực hiện đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định.
- Được hưởng mọi kết quả đầu tư bao gồm lợi nhuận,giá trị gia tăng
và rủi ro- nếu có theo cơ chế phân chia kết quả đầu tư như trong hợp
đồng thỏa thuận.
- Trả phí dịch vụ cho bên thụ thác theo thỏa thuận.
• Bên nhận ủy thác đầu tư
- Thay mặt người ủy thác thực hiện hoạt động đầu tư và giám sát quy
trình đó trong thời hạn được ủy thác.
- Định kỳ báo cáo kết quả đầu tư thực tế và trả lợi nhuận theo thỏa
Trong đó:
- Người ủy thác là người cung cấp vốn thiếp lập ủy thác. Người ủy thác
còn được gọi là người tài trợ( trustor, grantor, donor..)
- Người nhận ủy thác(trustee) là cá nhân hoặc tổ chức có quyền hợp pháp
đối với vốn được ủy thác,có trách nhiệm quản lý vốn đó theo đúng thỏa thuận
đã ký kết trong hợp đồng ủy thác
- Người thụ hưởng (beneficiary): là người nhận được quyền hoặc lợi ích
phát sinh từ quan hệ ủy thác.
- Vốn ủy thác( trust property): có thể là cổ phiếu, bất động sản,tiền mặt,
công việc kinh doanh hoặc bảo hiểm..
- Hợp đồng ủy thác (trust agreement): là hợp đồng được ký kết giữa các
bên theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc được ủy
quyền được đưa ra trong hợp đồng.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động ủy thác đầu tư
1.2.3.1.Chỉ tiêu phản ánh qui mô ủy hoạt động ủy thác đầu tư
- Tổng giá trị nguồn vốn ủy thác.
- Số lượng hợp đồng ủy thác.
- Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn ủy thác và số lượng hợp đồng.
- Danh mục các dự án đầu tư, giá trị các dự án đầu tư…
17
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
- Tỷ trọng thu nhập do nghiệp vụ ủy thác đầu tư mang lại trong tổng doanh
thu.
Các tiêu chí trên đực xác định căn cứ vào kế hoạch của từng công ty tài
chính. Nghiệp vụ ủy thác đầu tư của công ty tài chính được coi là phát triển
xét về lượng nếu các chỉ tiêu số lượng hợp đồng ủy thác, tổng giá trị ủy thác
và tỷ trọng thu nhập do nghiệp vụ này đem lại đạt được kế hoạch đề ra hàng
năm và tăng theo thời gian.
1.2.3.2.Chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động ủy thác đầu tư
=
E
i
Trong đó: r
Ei
là tỷ suất sinh lời vốn tự có năm i
E
i
là vốn tự có bình quân năm i
W
i
là lợi nhuận thuần năm i
Ý nghĩa: chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận từng năm trên 1 đơn vị
vốn tự có bình quân của năm đó.
- Số lần quay vòng vốn lưu động.
O
i
L
wi
=
W
i
Trong đó: L
wi
: là số lần quay vòng vốn lưu động trong năm
O
i
: Doanh thu thuần bình quân năm I của dự án.
W
kết quả đó trong một thời kỳ nhất định. Hiệu quả đầu tư được biểu
hiện bởi chính công thức:
Các kết quả mà DN thu được do đầu tư
E
tc
=
E
tc
hiệu quả khi E
tc
> Etc(định mức)
Hiệu quả đầu tư là một trong những chỉ tiêu quan trọng mà các khách hàng
quan tâm và cân nhắc khi quyết định lựa chọn sử dụng dịch vụ. Dự án đầu tư
có khẳ năng sinh lời cao, thời gian quay vòng vốn nhanh mới có thể tạo uy tín
với các khách hàng uỷ thác và giúp các công ty tài chính cung cấp dịch vụ uỷ
thác thu hút khách hàng. Vì vậy để tạo dựng thương hiệu cho công ty và nâng
cao chất lượng dịch vụ uỷ thác của mình, các công ty tài chính cần không
ngừng nâng cao chỉ tiêu chất lượng đầu tư.
20
Số vốn đầu tư mà DN đã thực hiện để tạo ra kết quả
trên
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
Để đáh giá chỉ tiêu này cần so sánh E
tc
thực tế của công ty với chỉ tiêu E
tcđm
mà công ty đề ra và so sánh với mức chung toàn ngành…
• Mức độ chặt chẽ trong quy trình ủy thác đầu tư:
thiết bị, công nghệ, qui trình cho đến con người.
Nghiệp vụ uỷ thác đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của chiến lược phát triển
chung của một công ty tài chính bởi nghiệp vụ này vừa liên quan đến hoạt
động huy động vốn của công ty, vừa liên quan đến các lĩnh vực đầu tư – hai
mảng đầu ra và đầu vào chủ chốt. Nhờ có nguồn vốn từ ủy thác đầu tư mà các
dự án có nguồn tài trợ,ngược lại đầu tư vào chứng khoán và các dự án sẽ tạo
hàng hóa cho danh mục của dịch vụ ủy thác đầu tư. Chính vì vậy, dù công ty
tài chính có đẩy mạnh hoạt động đầu tư nhằm kiếm lời theo hướng nào thì
dịch vụ ủy thác đầu tư đều có những cơ hội tốt để phát triển.
Bên cạnh đó, để cạnh tranh với các ngân hàng thương mại thì ủy thác đầu
tư là chiêu bài chiến thuật giúp các công ty tài chính, giúp các công ty này
cạnh tranh tín dụng với các ngân hàng và là con đường đi riêng của họ. Do
các công ty tài chính có quy mô vốn hạn hẹp hơn các ngân hàng nên họ
thường hướng tới các dịch vụ đầu tư trong đó có việc khai thác triệt để nguồn
vốn ủy thác đầu tư.Vì vậy việc phát triển hoạt động ủy thác đầu tư trong hoạt
động của các công ty tài chính về cơ bản có nhiều thuận lợi.
- Chất lượng thẩm định dự án: để cung cấp một dịch vụ ủy thác đầu tư tốt
các công ty tài chính cần có những dự án đầu tư tốt để thu hút vốn ủy thác đầu
tư của khách hàng. Nghĩa là, công tác thẩm định dự án đầu tư phải kỹ lưỡng
và có chất lượng. Một dự án được xét duyệt vào danh mục đầu tư của công ty
cần phải được tiến hành rà soát, kiểm tra,thẩm định một cách khoa học, khách
quan và toàn diện mọi nội dung của dự án,các yếu tố liên quan đến dự
22
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
án( điều kiện kinh tế-xã hội, kỹ thuật, tài chính). Tất cả các công việc đó phải
được tiến hành theo đúng qui trình nhằm khẳng định tính hiệu quả và khả thi
của việc đầu tư. Như vậy chất lượng thẩm định dự án sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả của hoạt động ủy thác đầu tư từ đó tác động đến việc quyết định
ủy thác đầu tư của khách hàng, ảnh hưởng đến khả năng mời chào ủy thác đầu
thác mà công ty cung cấp, tăng thêm mức độ trung thành của các khách hàng
hiện tại và thu hút các khách hàng tiềm năng chính là nhờ vào một công tác
marketing tốt.
1.2.4.2.Nhân tố khách quan.
- Sự phân cấp đầu tư: Hướng phát triển của dịch vụ ủy thác đầu tư của
công ty tài chính độc lập phụ thuộc vào mức độ ưu tiên đầu tư của toàn công
ty, đối với các công ty tài chính mà tập đoàn nắm phần vốn góp chi phối thì
dịch vụ đó phụ thuộc vào chính sách đầu tư chung của toàn khối tập đoàn,sự
phân cấp trong đầu tư. Với các dự án mà tập đoàn phê duyệt, là trong tâm
trong chiến lược đầu tư của tập đoàn( thường là các dự án trong ngành) thì
các công ty tài chính luôn phải dành một phần vốn nhất định ưu tiên cho các
dự án này. Vì vậy đối với các công ty tài chính 100% vốn của tập đoàn thì
dịch vụ ủy thác đầu tư còn bị hạn chế phát triển ra bên ngoài.
- Tình hình kinh tế- xã hội: Tình hình kinh tế xã hội là những nhân tố tác
động không nhỏ đến hoạt động đầu tư, hiệu quả của dịch vụ ủy thác đầu tư.
Trong điều kiện kinh tế thuận lợi, tình hình sản xuất kinh doanh tiến triển tốt
sẽ tác động tích cực đến hiệu quả đầu tư và kéo theo đó là kích thích cho dịch
vụ ủy thác phát triển.Ngược lại nếu tình hình kinh tế,tài chính không thuận lợi
sẽ làm mức độ rủi ro trong đầu tư tăng lên ảnh hưởng xấu đến hoạt động ủy
thác đầu tư của các công ty tài chính. Đây là những tác động khách quan,
không thể tránh khỏi, đòi hỏi các công ty tài chính có khả năng dự báo tốt để
24
Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thái Hà - Lớp TCDN 46B
hạn chế tối đa những tác động xấu của thị trường đến hoạt động đầu tư của
mình.
- Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý được hiểu là tất cả những văn
bản pháp luật, những quy chế pháp lý liên quan đến nghiệp vụ ủy thác đầu tư
nói riêng và hoạt động đầu tư nói chung. Những văn bản này tạo nên một
khung pháp lý để điều chỉnh và kiểm soát các hoạt động. Nó mang tính cưỡng