I CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TẢN ĐÀ
1. Cuộc đời :
Tản Ðà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu. Ông sinh ngày 08 tháng 5 năm 1888, ở làng Khê
Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
Ông xuất thân từ một gia đình thuộc dòng dõi phong kiến quí tộc. Cha là Nguyễn Danh
Kế, từng làm quan đến Án sát, Ngự sử, Anh cả là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng, làm Ðốc
học, sau tham gia ban Tu thư, làm Hiệu trưởng trường Qui Thức, là những tổ chức do
Pháp lập ra để đối phó vào phong trào Ðông Kinh nghĩa thục. Mẹ ông là một cô đào hát có
tài có sắc, lấy lẽ Nguyễn Danh Kế lúc ông làm Tri phủ Lý Nhân. Từ lúc nhỏ Nguyễn Khắc
Hiếu đã theo cha và anh sống ở những nơi họ làm việc, ở Nam Ðịnh, Sơn Tây, Vĩnh Yên.
Tản Ðà từng theo học chữ nho. Ông cũng là một trong những học trò đầu tiên của trường
Qui Thức. Ông đi thi mãi nhưng không đỗ đạt gì cả.
Ông là một nhà nho rời nông thôn ra thành thị. Cuộc sống thành thị lúc bấy giờ đã ảnh
hưởng đến tư tưởng, tình cảm và thái độ trước cuộc sống hiện tại của ông.
Ông là người đầu tiên đã mạnh dạn bước vào một nghề mới: Nghề viết văn, xem việc sáng
tác như một cách kiếm sống “Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”. Ông từng tham gia vào
hoạt động báo chí: làm chủ bút cho tờ Hữu Thanh, thành lập tờ An Nam tạp chí. Tản Ðà
mất ngày 07 tháng 6 năm 1939 ở Ngã Tư Sở trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu.
2. Sự nghiệp sáng tác :
Tản Ðà bắt đầu sáng tác từ năm 1913. Ðến năm 1915 ông mới bắt đầu công bố tác phẩm
của mình trên tờ Ðông Dương tạp chí”
Tác phẩm của ông gồm nhiều thể loại :
- Tác phẩm phiên dịch : Ðại học, Ðàn bà Tàu, Kinh thi, Liêu trai chí dị.
- Tác phẩm luận thuyết : Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ, Ðài gương.
- Thơ : Lên sáu, lên tám, Khối tình con I, II
- Tiểu thuyết và truyện ngắn : Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Thề non nước, Trần ai tri
kỷ, Kiếp phong trần.
- Kịch : Thần tiền.
Lúc sinh thời Tản Ðà rất tự hào về văn xuôi của mình, ông từng nói : “Văn đã nhiều thay
lại lắm lối. Thế nhưng độc giả, những người nghiên cứu lại đánh giá cao những tác phẩm
Phong cảnh không khác tình khác xa”.
Ông nhớ về những chiến công hiển hách của tổ tiên
“Ôi ! Lý Trần Lê đâu mất cả
Mà thấy hươu nai đứng đỉnh chơi”.
(Chơi trại hàng hoa)
Có những lúc ông còn công nhiên ca ngợi những người anh hùng dân tộc đương thời
(viếng Ðình Công Tráng). Ông đã tỏ rõ thái độ căm thù đối với những kẻ bán nước, làm
tay sai cho giặc. Ông từng làm thơ mỉa mai Hoàng Cao Khải.
“Hoạ mi, ai vẽ nên mi ?
Trông mi mi đẹp, hót thì mi hay
Ai đưa mi đến chốn này ?
Nước trong gạo trắng mi ngày ăn chơi
Lồng son cửa đỏ thảnh thơi
Mi bay mi nhảy sướng đời nhà mi
Nghĩ cho mi cũng gặp thì
Rừng xanh mi có tiếc gì nữa không”.
(Chim hoạ mi trong lồng)
Ông châm biếm những kẻ theo giặc :
“Anh tiếc cho em phận gái má đào
Tham đồng bạc trắng mà gán mình cho chú Tây đen”
(Cô Tây đen)
Với ý thức lo đời và mong muốn đóng góp cho đời Tản Ðà luôn đi tìm giải pháp cứu
nước. Ðể thực hiện được việc lớn Tản Ðà đã đi tìm người đồng chí cùng với mình gánh
vác trọng trách đối với non sông nhưng tìm mãi mà không thấy.
“Chung quanh những đá cùng cây
Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm”
(Vô đề)
Trước hoàn cảnh hiện tại của đất nước, Tản Ðà nhận thấy cần phải có sức mạnh của đoàn
đến củng cố trật tự xã hội.
Tản Ðà là một người có chí hướng, hoài bão lớn, nhưng hoàn toàn bất lực. Tất cả những
giải pháp của ông đều không đưa đến kết quả tốt đẹp. Cuối cùng ông chỉ còn có thể tưởng
tượng về một xã hội lý tưởng. “Cõi đời mới” của Tản Ðà trong “Giấc mộng con II” không
có chợ búa, không có tiền bạc, cảnh sống rất vui, “Không có sự thiên tai, không có sự địa
biến, không có sự trộm cướp, không có sự án tù, không có sự kiện cáo, không có sự buôn
danh bán lợi không có câu thế thái nhân tình. Ngoài sự lo ăn lo dùng, chỉ chuyên ý suy
cầu nhẽ tiến hóa”. Ðây là một bằng chứng Tản Ðà là một người luôn ôm ấp trong lòng
giấc mơ tốt đẹp về cuộc đời, cũng có thể xem đó là một nét lãng mạn tích cực.
Nhìn chung, Tản Ðà có một tinh thần dân tộc cao, được thể hiện ở lòng yêu nước, nỗi lo
đời của ông. Có điều những tình cảm ấy còn mang tính chung chung, mơ hồ. Hơn nữa,
Tản Ðà cũng không dám nói thẳng mà Tản Ðà thường phải ngụy trang bằng nhiều hình
thức khác nhau, khi nói về tấm lòng của mình đối với quê hương đất nước. Tản Ðà cũng là
một người có nhiều mâu thuẫn trong tư tưởng, lòng yêu nước của ông thể hiện chưa thật rõ
ràng và nhất quán.
2. Tư tưởng lãng mạn thoát ly trong thơ văn Tản Ðà :
2.1- Một số biểu hiện của tư tưởng lãng mạn thoát ly :
Lãng mạn thoát ly là khuynh hướng chủ yếu trong thơ văn Tản Ðà. Ông xuất thân từ tầng
lớp phong kiến đang thời suy thoái. Bản thân sống ở thành thị, gần gũi với tầng lớp tiểu tư
sản bất lực lưng chừng, ông lại đứng ngoài các cuộc đấu tranh của dân tộc. Cuộc đời ông
phải trải qua nhiều thất bại, éo le nên tư tưởng trở nên tiêu cực thoát ly, điều này được thể
hiện qua nhiều khía cạnh.
Thơ văn Tản Ðà nói nhiều đến chữ sầu: Tản Ðà đã xướng lên một nỗi buồn đặc biệt, lãng
mạn. Cái buồn của Tản Ðà là nỗi buồn thầm kín, như nằm tận đáy sâu của lòng người có
thể bật dậy bất cứ lúc nào. Nó không sầu não, tang tóc nhưng da diết, khó nguôi. Tản Ðà
buồn bởi các nguyên nhân :
+ Buồn về thân phận tài tình của mình, của những người cùng cảnh ngộ :
“Ngắn dài sáu lớp mươi câu hát
Vui khóc năm canh một cuộc đời
làm thằng Cuội, Hầu trời, Tống biệt…).
Tản Ðà còn tìm nguồn vui ở thú đi chơi, ông đi rất nhiều nơi, biết nhiều chỗ. Và với ông
mỗi điểm dừng chân đều in lại những kỉ niệm khó quên (Thú ăn chơi).
2.2- Ðặc điểm của tư tưởng lãng mạn thoát ly trong thơ văn Tản Ðà :
- Lãng mạn thoát ly nhưng không quay lưng lại với cuộc sống :
Tản Ðà vì gặp cảnh ngộ éo le, thất chí nên tìm cách lánh đời, coi đời là cõi tục là nơi ở trọ.
Nhưng Tản Ðà thoát ly mà không thoát tục. Tản Ðà chủ trương trốn đời nhưng lại muốn
nhập thế. Ở ông có sự giằng xé giữa chán đời và gánh lãnh trách nhiệm. Ông có ý định
trốn đời để quên đời, mượn thú nhàn tản để tìm sự thanh thản cho tâm hồn nhưng cuối
cùng đã không quên được và luôn phiền não, lo lắng cho cuộc đời.
- Cái tôi lãng mạn có tư tưởng thoát ly vẫn còn bị chi phối bởi ý thức hệ phong kiến: Tư
tưởng thoát ly của Tản Ðà gắn liền với ý thức muốn đứng ra ngoài cuộc đời nhơ bẩn để
giữ lấy thanh cao trong sạch cho mình :
“Trung hiếu vẹn toàn hai khối ngọc
Thanh cao phô trắng một nhành mai
Bạc tiền gió thoảng thơ đầy túi
Danh lợi bèo trôi rượu nặng vai”.
(Tự vịnh)
Tản Ðà sống vào thời kỳ xã hội trên con đường tư sản hóa, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
chi phối mạnh mẽ sinh hoạt của con người, chủ nghĩa cá nhân được công nhiên bộc lộ.
Cho nên nội dung thoát ly của Tản Ðà in dấu vết của thời đại. Hưởng lạc của Tản Ðà bắt
đầu bê tha, chủ nghĩa cá nhân bộc lộ rõ. Tuy nhiên, Tản Ðà chưa bị sa vào trụy lạc, chưa
hủy hoại thể xác và tinh thần như một số tác giả của văn học lãng mạn ở giai đoạn 1939 –
1945. Ở Tản Ðà trong cái tôi thoát ly hưởng lạc vẫn còn bóng dáng của cái gì thuộc nề nếp
đạo đức phong kiến (Giấc mộng con, Thề non nước…).
III N GHỆ THUẬT THƠ VĂN TẢN ĐÀ
1. Vận dụng một số thành tựu nghệ thuật của văn học dân gian :
- Thể loại : Các làn điệu xẩm, lý, chèo, ca cổ bản, các thể loại dân ca ở cả miền Bắc lẫn
miền Trung đều được Tản Ðà chú ý khai thác. Sự am hiểu dân ca làm cho Tản Ðà viết