Phân tích Những nét độc đáo trong “Thuốc” của Lỗ Tấn - văn mẫu - Pdf 12

Trong di sản văn học của Lỗ Tấn, Thuốc là truyện ngắn đặc biệt và luôn giữ một vị trí quan trọng, độc
đáo trong cách thức kết cấu, tổ chức không gian, bố trí nhân vật và tái hiện nhân vật.
Với kết cấu bốn phần, mạch lạc tạo ra cảm giác kết cấu khai – thừa – luận – kết hay khai – thừa – chuyển
– hợp tương tự như kết cấu của một bài thơ cổ điển, được đánh số thứ tự từ I đến IV, câu chuyện mang
tiêu đề vừa thực vừa biểu trưng – Thuốc – được chia thành hai không gian rất đặc trưng gắn với nhan đề
tác phẩm: không gian quán trà nhà lão Hoa với ba phần và không gian nghĩa địa với phần còn lại mà độ
dài không kém ba phần kia là bao.
Phần khai truyện, tương ứng với phần khai đề của một bài thơ cổ điển, được mở ra từ không gian thứ nhất
bằng một buổi sáng sớm, chưa sáng hẳn song cũng đã chuyển sang một ngày mới với nội dung chính là
mua thuốc. Đó là “một đêm thu gần về sáng, trăng lặn rồi, nhưng mặt trời chưa mọc”. Bóng tối bao trùm
lên không gian ấy, trời không trăng cũng chẳng có sao nên “ngoài những giống đi ăn đêm, còn thì ngủ say
cả”. Để xua đi cái bóng tối ấy, lão Hoa, chủ nhân của ngôi nhà vừa để ở vừa để bán hàng, đã “đánh diêm,
thắp cái đèn nhầy nhụa những dầu là dầu” để tạo ra một thứ ánh sáng “trắng xanh sáng khắp hai gian quán
trà”. Ánh sáng ấy không làm cho ngôi nhà ấm lên, hay sáng thêm mà chỉ làm cho nó chìm ngập sâu hơn
vào bóng tối đang phủ dày xung quanh, khiến sự trầm lắng có chiều sâu và hoàn cảnh buồn bã thê thảm
hơn. Ánh sáng ấy cũng mang tính chất khác thường. Đã thế sau khi thắp ngọn đèn lồng, lão Hoa lại “tắt
ngọn đèn con”, tắt luôn thứ “ánh sáng trắng xanh” đầy vẻ ma quái, hăm dọa ấy. Cảm giác về bóng tối bao
trùm lại hiện ra khi lão bước ra “ngoài đường, trời tối om và hết sức vắng”. Trong bóng tối ấy, lão đi vừa
với tràn trề hi vọng, vừa nơm nớp lo cho gói bạc cồm cộm trong túi. Lão đi đến nơi sẽ có phương thuốc
diệu kì chữa bệnh cho con lão, phương thuốc được truyền khẩu trong dân gian song không phải ai cũng
biết, kể cả lão Hoa.
Sự dịch chuyển thời gian được đánh dấu bằng: “Trời cũng sáng dần và đường cũng càng lâu càng rõ” và
lão cũng đến được nơi lão cần đến: một ngã ba đường nơi có “một cửa hiệu còn đóng kín mít”. Tại đó,
như một người lạc đường vào một xứ sở mới, lão “ngước đầu nhìn xung quanh” và “thấy bao nhiêu người
kì dị hết sức, cứ hai ba người một, đi đi lại lại như những bóng ma. Nhưng nhìn kĩ thì lại chẳng lấy gì làm
quái lạ nữa”. Đúng là lão đang rơi vào trạng thái trông gà hóa cuốc, thần hồn nát thần tính mà tất cả cũng
chỉ vì phương thuốc mà nhà lão đang rất cần để chữa bệnh cho con. Thứ ánh sáng ở đây tạo cho lão cái
nhìn ảo giác, vừa thực vừa hư mà cho dù không viết một lời bình nào nhưng tác giả cũng hé lộ cho ta thấy
trạng thái tâm lí lưỡng phân của lão Hoa. Nếu có ai đó nhìn lão thì cũng nhìn bằng “ánh mắt cú vọ ngời
lên, như người đói lâu ngày thấy cơm” hoặc nhìn lão với đôi mắt “sắc như hai lưỡi dao chọc thẳng vào
lão”. Những cặp mắt ấy cùng với những cái nhìn kia gia tăng sức nặng cho phương thuốc “đặc biệt lắm”,

biệt. Kẻ bán, bán loại thuốc “đặc biệt”, còn người mua tuy ngại ngùng song không thể không mua. Cái vô
giá của mặt hàng ấy không phải ở chất liệu bánh mì làm nên chiếc bánh bao mà ở chỗ nó được tẩm máu
phạm nhân chết chém. Người phải chết đã chết rồi nhưng phần cơ thể của họ, hiện hình qua những giọt
máu đỏ tươi còn rỏ dài theo bước chân của kẻ bán, tạo nên một nghịch cảnh trớ trêu, đầy nước mắt. Số
lượng người đến mua không đếm được song không phải là ít ỏi dưới mức bình thường, càng cho thấy rõ
hơn nỗi đau của đám dân chúng cuồng tín mê muội mà tác giả ngầm gửi gắm trong câu chuyện.
Con đường mà lão Hoa đi bắt đầu từ nhà lão và kết thúc tại ngã ba đường, nơi có “ngôi nhà còn đóng cửa
kín mít” mà lão đã đứng chờ để mua phương thuốc thần diệu, nơi những người “tụm năm tụm ba lúc nãy”
“dồn lại một chỗ”, “xô nhào tới như nước thủy triều”, “quây lại thành một nửa vòng tròn”. Con đường
đưa lão trở về hiển nhiên cũng chính là con đường ấy, song điều khác biệt là đám người “tụm năm tụm
ba” kia, đám người “quây thành nửa vòng tròn” kia đã biến mất từ lúc nào và thay vào đó chỉ là tấm bia
có “cái biển mục nát”, bốn chữ chỉ còn ba. Sức gợi của mạch văn ở đây là rất lớn mà nếu chỉ đọc bàng
bạc lướt qua thì chắc hẳn sẽ bỏ rơi những giá trị nhận thức cần thiết không chỉ để hiểu câu chuyện mà còn
để hiểu thời đại mà câu chuyện đề cập tới nữa. Đám người biến mất tăm mất dạng ở ngã ba đường, lão
Hoa cũng chỉ đến ngã ba đường rồi quay lại. Ngã ba đường nơi người ta bán bánh bao tẩm máu người,
nơi người ta tận dụng cái chết để tạo thành thuốc “đặc biệt”, nơi nuôi dưỡng niềm tin mù quáng và cuồng
tín. Ngã ba đường là nơi người ta phải chọn lựa, song sự chọn lựa của lão Hoa chỉ là quay về nhà với
niềm tin vào chiếc bánh tẩm máu người mang sức mạnh thần bí. Ngã ba đường này vừa thực lại vừa hư,
một ngã ba đường với cái nhà bia tưởng niệm với cái biển đề mục nát. Ngã ba đường kiểu này thường gắn
với hình tượng con đường vốn tiêu biểu cho tài năng và trí tuệ của Lỗ Tấn.
Phần thừa đề diễn ra ngay trong ngôi nhà – quán trà ấy mà ta có thể tóm gọn nội dung bằng cụm từ dùng
thuốc. Ánh sáng cũng không sáng hơn cho dù có “ngọn lửa đỏ sẫm bốc lên” từ trong gian bếp, tuy nhiên
với ánh sáng ấy cũng đủ để nhận ra “trên đĩa có vật gì tròn tròn, đen thui” qua màu đen của vỏ chiếc bánh
bao bị “cháy sém” và “làn hơi trắng” bốc ra từ chiếc bánh bị bẻ làm đôi, tiếp đó là ruột bánh bằng “bột mì
trắng”. Hành động diễn ra ở đây không nhiều nhưng đều được thể hiện một cách rất cẩn trọng, đầy xác
tín. Hình ảnh “thằng Thuyên đang ngồi ăn cơm ở cái bàn dãy phía trong, mồ hôi trán nhỏ từng giọt to
tướng, chiếc áo kép dính vào sống lưng, hai xương vai gồ lên thành chữ “bát” in nổi” trong mở đầu đoạn
II với cách thức “Thuyên nghe tim mình đập mạnh không sao cầm nổi, đưa tay vuốt ngực” khi kết thúc
phần II, gợi ra cảm giác mong manh, vô nghĩa của phương thuốc “đặc biệt lắm” mà lão Hoa mua về.
Ngoài màu đen của vỏ chiếc bánh bị cháy sém và màu trắng của làn hơi bốc lên từ chiếc bánh bị bẻ đôi

Nhân vật thứ tư xuất hiện trong phần này là nhân vật có tên: “cậu Năm Gù”- cái tên này trước hết là một
số thứ tự tạo ra ấn tượng về kiểu nhân vật vô danh, kiểu nhân vật mang kí hiệu qui ước, kèm theo đặc
điểm nhân dạng qua biểu hiện tật nguyền của con người đó: nhân vật bị “gù”. Xét về bản chất, đây là loại
nhân vật vô công rồi nghề, thể hiện ở chỗ: “cậu ta ngày nào cũng lê la ở cái quán này, thường đến sớm
nhất mà cũng về muộn hơn ai hết”. Cái mà cậu ta cảm nhận được là mùi vị bốc ra từ gian bếp. Cái mùi
đối với vợ chồng lão Hoa là “quái lạ” thì lại được nhân vật cảm nhận thành mùi cơm rang: “Thơm ghê nhỉ
!”. Sự tật nguyền của cơ thể chưa đủ, tác giả cho nhân vật này tật nguyền luôn cả khứu giác. Con người
này, bao giờ cũng đến sớm nhất và ra về muộn nhất, tại nơi mà một con bệnh đang hấp hối khiến cho
không gian ngôi nhà – quán trà trở thành không gian đầy tử khí, nơi đó sự sống đang dần bị mất đi, cái
chết đang lấn tới, bởi cái chết không chỉ hiện diện trong ngôi nhà – quán trà đó mà còn cả cái chết được
mua, mang từ ngoài về. Nhưng những con người đó không chỉ chết dần về mặt thể xác mà điều quan
trọng hơn là họ đang chết cả về tâm hồn lẫn trí tuệ.
Không gian ngôi nhà – quán trà ấy tiếp tục được mở ra trong phần III – phần luận đề hay chuyển đề của
câu chuyện, với số lượng người có vẻ tấp nập hơn, ồn ào hơn nhưng cũng buồn bã hơn. Nội dung câu
chuyện được bàn ở đây là công dụng của thứ thuốc “đặc biệt” và nguồn gốc của thứ thuốc ấy. Ánh sáng
cũng không sáng hơn, chỉ đủ để phân biệt màu huyền trên chiếc áo và chiếc thắt lưng của nhân vật Cả
Khang. Ngoài cậu Năm Gù vốn đã ngồi sẵn từ lâu ở đấy, xuất hiện thêm một người có “râu hoa râm”-
nhân vật không có tên mà chỉ được định danh bằng đặc điểm cơ thể – sẽ đóng vai người khơi mở ra câu
chuyện được bàn ở đây.
Nhân vật Cả Khang với cái tên mang vẻ quyền uy kẻ cả trong làng, thể hiện luân lí tôn ti thứ bậc của văn
hóa Trung Hoa, được mọi người trong quán “cung kính”, được miêu tả qua trang phục áo “không cài
khuy”, “xộc xệch”, vào quán chẳng thèm chào hỏi đã nói “oang oang” như thể trấn áp những người khác,
với lối nói dồn dập chứa nhiều câu hỏi, với giọng điệu kể công, ban ơn. Nhân vật này còn được miêu tả
bằng một đặc điểm nhân dạng đặc biệt “người mặt thịt ngang phè”, khi nói thì “những thớ thịt trên mặt
nổi từng cục”và cách nói cũng khác thường, kẻ cả: “cứ giương cổ nói oang oang”. Nhân vật này bốn lần
“cam đoan thế nào cũng khỏi” và một lần khẳng định như đinh đóng cột “nhất định sẽ khỏi thôi mà”. Bởi
theo lão thì sự hiệu nghiệm của phương thuốc nằm ở chỗ nó còn “nóng hôi hổi”, “lấy về còn nóng hôi
hổi” và “ăn cũng còn nóng hôi hổi”, kèm theo đó là một sự so sánh thẳng thừng, không úp mở “bánh bao
tẩm máu người như thế, lao gì mà ăn chẳng khỏi”. Bí mật của phương thuốc “đặc biệt lắm” đã xuất đầu lộ
diện. Thằng Thuyên, người trực tiếp sử dụng thứ thuốc ấy, không nói không rằng, chỉ lấy tiếng ho để

cháu ra thú thì cả nhà mất đầu hết. Nay thì được bao nhiêu là bạc!”. Trong cách tán thưởng ấy còn thấy rõ
sự tiếc rẻ của hắn vì hắn chẳng có một cơ hội nào tương tự. Hắn gọi Hạ Du bằng những từ ngữ ngạo mạn,
khinh rẻ: “thằng quỉ sứ”, “thằng nhãi con”, là “giặc”, coi những người dưới tuổi hắn “chẳng ra cái thá gì
hết”. Một mình Cả Khang “nói oang oang” độc chiếm diễn đàn của cử tọa nơi quán trà ấy. Hắn vừa là
người phân giải, vừa là kẻ phán quyết phải trái theo cách của hắn hiểu và suy nghĩ hành động theo đúng
cách nghĩ, cách hiểu ấy, nghĩa là phải đem những người có quan điểm: “thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là
của chúng ta”, những người bênh vực cho lẽ phải, nộp cho chính quyền để lấy về, để được thưởng, chí ít
là “hai mươi lạng bạc trắng xóa”. Hắn thu lời bằng cách bán cả lương tâm và tình nghĩa và chính là hậu
duệ đích thực của cụ Ba mà hắn thường nhắc đi nhắc lại với một vẻ vừa đề cao vừa ganh tị bởi hắn cũng
chẳng hề thua kém. Hai lần hắn nói “thật đáng thương hại” và hai lần “đáng thương hại” tương hợp với
bốn lần “cam đoan thế nào cũng khỏi” của hắn, cho thấy kiểu người lầm lạc đang càng ngày càng chìm
sâu vào trong mê muội cuồng tín, song càng ngày càng gây ra tác hại lớn cho xã hội bởi lẽ hắn là “kẻ cả
trong làng”. Câu nói “Lần này tớ chẳng nước mẹ gì” và “Nay thì được bao nhiêu là bạc!”cho thấy bản
chất đích thực của hắn.
Nhân vật cậu Năm Gù xuất hiện ra ở đây như là kiểu người vừa có vẻ a dua vừa có nhận thức nhất định.
Đây là kiểu người ngoại lệ vì tật nguyền, trở thành vô công rồi nghề, bất lực trước mọi việc ở đời nhưng
cũng đủ khả năng để nhận biết mọi thứ mà trước hết là sự ốm yếu của ông Hoa là bởi đứa con bệnh tật,
nhận biết “lão Nghĩa là tay võ nghệ rất cừ”, và khi nghe xong câu chuyện Cả Khang kể thì gật gù: “Điên
thật rồi”. Cách xưng hô của tác giả ở đây cũng thể hiện một sự trân trọng đối với con người tật nguyền
nhưng có óc suy nghĩ và hiểu biết này. Ông gọi nhân vật này bằng “cậu”.
Nhân vật “trạc hai mươi tuổi” không có danh tính, cũng không có đặc điểm ngoại hình nhưng lại là biểu
tượng cho một cách nghĩ khác, cho một thế hệ khác. Anh ta không đơn giản chỉ nghe câu chuyện về cái
chết của Hạ Du một chiều. Anh ta chỉ tán thưởng con người mà Cả Khang coi là “nhãi con”, là “giặc” ấy
khi được biết người tử tù ấy “nằm trong tù rồi mà còn dám rủ lão đề lao làm giặc”. Anh ta cũng “vỡ nhẽ”
khi được biết kẻ “đáng thương hại” chính là lão Nghĩa và cũng đi tới khẳng định điều đó là:“Điên thật”.
Vấn đề tại sao khi nhắc tới câu nói của người tử tù coi lão Nghĩa là người “đáng thương hại” thì cả người
có “râu hoa râm” lẫn cậu Năm Gù và anh chàng “trẻ tuổi” này đều nói là “điên”? Lão Nghĩa tuy chỉ xuất
hiện qua lời kể của Cả Khang song lại rất tiêu biểu cho loại người công cụ trong xã hội ấy. Loại người
này là công cụ sát nhân của các thế lực thống trị, chẳng biết phải trái, lại càng không biết đến công lí là gì.
Loại người công cụ ấy có tác hại rất lớn, lại càng không thể giác ngộ, cũng không thể tự thức tỉnh. Loại

không gian nghĩa địa. Nhân vật chính của bức tranh này là hai bà mẹ. Họ đều có điểm chung là có con bị
chết trẻ, họ cùng đến nghĩa địa để viếng con. Những người con của họ đều được chôn tại “miếng đất dọc
chân thành phía Tây vốn là đất công”. Điều khác biệt là những đứa con ấy được chôn ở hai phía của nghĩa
địa được ngăn cách bằng “con đường mòn, nhỏ hẹp, cong queo” do “những người hay đi tắt giẫm mãi mà
thành”. Con đường tạo ra bởi thói quen, bởi thành kiến ngự trị lâu ngày, thói quen ăn sâu thành nếp nghĩ
trong đầu óc mọi người, bởi thế con đường này không chỉ để đi mà con đường này còn là con đường của
thành kiến, được tạo ra bằng sự u mê, dẫn tới sự đối xử không bình thường, thành sự ngăn cách tự nhiên,
bất khả kháng của những con người trong xã hội ấy. Đứa con của bà Hoa được chôn ở “phía tay phải” nơi
dành cho “những người nghèo”, còn đứa con của bà Hạ thì chôn ở phía tay trái, nơi dành cho “những
người chết chém hoặc chết tù”. Con đường trở thành ranh giới ước định giữa “dân” và “giặc”. Điểm nổi
bật lên từ nghĩa địa này là “cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng
thọ” mà từ đó toát lên ý nghĩa biểu trưng là các nhà giàu, tức tầng lớp thống trị trong xã hội Trung Hoa
thời đó, tồn tại trên sự hi sinh xương máu của “dân” và của “giặc”, “dân” bị bóc lột, bị bần cùng hóa mà
chết dần chết mòn trong đói khổ, còn nếu chống đối thì bị qui là “giặc” và tất yếu là phải chết. Cả hai loại
chết đều cùng vì khổ đau, vì bị áp bức nhưng lại bị phân biệt đối xử rõ ràng qua hai nửa của nghĩa địa
được ngăn cách bằng con đường của thành kiến mê muội ấy. Điều đó thể hiện qua hình ảnh “bà kia ngập
ngừng không dám bước tới nữa, sắc mặt xanh xao bỗng đỏ lên vì xấu hổ”, bởi lẽ phần mộ của con bà nằm
bên phía dành cho người “chết tù hoặc chết chém” tuy “nấm mộ” của con bà “với nấm mộ của thằng
Thuyên nằm cùng một hàng, chỉ cách con đường mòn ở giữa”.
Việc vượt qua ranh giới định kiến ấy mang một ý nghĩa biểu tượng quan trọng song để có điều ấy thì phải
có một biến cố. Đó là vòng hoa trên mộ Hạ Du, “một vòng hoa, hoa hồng hoa trắng xen lẫn nhau, nằm
khoanh trên nấm mộ khum khum”. Vòng hoa ấy đã làm cho bà Hạ “tay chân hơi run lên, rồi loạng choạng
lùi lại mấy bước, mắt trợn trừng ngơ ngác” mà nhìn thấy sự việc đó bà Hoa “cầm lòng không đậu” đã
“bước sang bên kia đường mòn”. Như vậy động lực thúc đẩy bà Hoa vượt qua con đường ranh giới giữa
những ngôi mộ của người chết nghèo với những ngôi mộ của người chết chém chính là tình thương. Có
thể bà Hoa không biết chiếc bánh bao mà con bà đã ăn với hi vọng khỏi bệnh song điều đó không thành,
đã được tẩm bằng máu của chính Hạ Du, nhưng nếu bà có biết sự thật đó thì, trước hết, bà đau nỗi đau
đồng cảm, nỗi đau của những bà mẹ mất con, cho nên bà “sợ bà kia thương con quá” mà “phát điên”. Và
rồi cũng như bà Hạ, bà Hoa ngạc nhiên: “Cả hai bà, mắt mờ từ lâu rồi, nhưng nhìn những cánh hoa trắng
hoa hồng kia thì còn thấy rõ”. Để so sánh, “bà Hoa vội nhìn về phía mộ con mình và những nấm mộ khác

thường gắn liền với những bất hạnh của con người. Con quạ vốn là loài chim phổ biến ở các nước xứ
lạnh. Trong văn hóa Trung Hoa cũng như trong văn hóa Nhật Bản, con quạ là biểu tượng của “đức hiếu
thảo”(1), cho nên lời cầu khẩn của bà Hạ: “Nếu hồn con quả thật đang ở đây nghe lời mẹ nói thì con ứng
vào con quạ kia, đến đậu vào nấm mộ con cho mẹ xem, con ơi!” cũng cho thấy quan niệm văn hóa đặc
biệt đó. Cho dù “con quạ vẫn đậu trên cành khô trụi lá, rụt cổ lại, im lìm như đúc bằng sắt” thì trong cảm
thức bà Hạ vẫn sống dậy một niềm tin. Ngoài ra, người Hán xem quạ như một dấu hiệu thần kì để tái lập
trật tự xã hội, người Nhật xem quạ là biểu tượng của tình cảm gia đình. Đối với người Trung Hoa, quạ là
con chim của mặt trời, là hiện thân của mặt trời, là “kim ô” mà câu chuyện Hậu Nghệ bắn mặt trời luôn
được truyền tụng đã cho thấy điều đó. Số là thượng đế phái mười con quạ mang ánh sáng từ cây dâu của
mặt trời đi khắp bốn phương tám hướng, nhưng chúng thường tụ tập với nhau một chỗ khiến cho mặt đất
nứt nẻ, bốc cháy. Hậu Nghệ đã bắn chết chín con, chỉ còn một con sợ quá trốn biệt sau phải nhờ con gà
cất tiếng gáy để gọi về.
Hình ảnh hai bà già cùng đi về, bên nhau, có thể sóng đôi hoặc kẻ sau người trước, song đều cùng về, tạo
ra sự tiếp nối mà ghép tên của hai bà, Hoa và Hạ, thì sẽ có ngay tên gọi của Trung Hoa hùng mạnh, thống
nhất và thái bình cổ xưa: đất nước Hoa Hạ. Họ cùng bước trên một con đường chung, con đường đó
không có ngã ba nào. Kết hợp hình ảnh hai người cùng đi ấy với hình ảnh con quạ cất lên một tiếng kêu
“rất to”, rồi “xòe đôi cánh, nhún mình” và “vút bay thẳng về phía chân trời xa”, “như một mũi tên” và gắn
với kiểu thức tư duy của Trung Hoa coi quạ là mặt trời thì con quạ bay lên đồng nghĩa với mặt trời đã
mọc, là dấu hiệu của một trật tự xã hội mới đã xuất hiện, thì ta sẽ thấy rõ hơn niềm tin của Lỗ Tấn vào
tương lai, vào sự thức tỉnh của những người dân vốn trước đây mê muội, đã từng sử dụng bánh bao tẩm
máu người để làm thuốc. Họ đã thức tỉnh, họ đã biết cùng sát cánh bên nhau. Con đường ngăn cách hai
loại người chết trong cùng một nghĩa địa không còn là ranh giới ngăn cách hai bà mẹ nữa. Ranh giới ấy
đã bị xóa nhòa. Vòng hoa trên mộ Hạ Du trở thành vòng hoa biểu trưng cho sự chiến thắng, của tình
người vốn bị cuồng tín, mê muội chia cắt nay đã lại nối liền thành một khối thống nhất. Một sức mạnh
mới đã hình thành. Phần IV mang lại cho độc giả những kết luận quan trọng mà tác giả gửi gắm và gợi
mở một tương lai, thắp sáng và thức tỉnh mọi người, bằng sự hợp nhất những con người vốn bị chia rẽ.
Câu chuyện nhẹ nhàng, không có xung đột gay cấn, song với cách thức tổ chức theo hệ thống khai – thừa
– luận – kết, khai – thừa – chuyển – hợp, đã tạo thành một cốt truyện hoàn chỉnh, chặt chẽ, mang nhiều ý
nghĩa sâu sắc, vừa đẹp về mặt kết cấu, tổ chức nghệ thuật, vừa chuyển tải được một nội dung mang tính
cách mạng cao. Câu chuyện được tái hiện trong hai không gian khác nhau, mỗi không gian đều có những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status