Những nét độc đáo trong "Thuốc" của Lỗ Tấn - Pdf 11

Những nét độc đáo trong "Thuốc" của
Lỗ Tấn

Trong di sản văn học của Lỗ Tấn, Thuốc là truyện ngắn đặc biệt và luôn giữ
một vị trí quan trọng, độc đáo trong cách thức kết cấu, tổ chức không gian, bố trí nhân
vật và tái hiện nhân vật.
Với kết cấu bốn phần, mạch lạc tạo ra cảm giác kết cấu khai - thừa - luận - kết
hay khai - thừa - chuyển - hợp tương tự như kết cấu của một bài thơ cổ điển, được
đánh số thứ tự từ I đến IV, câu chuyện mang tiêu đề vừa thực vừa biểu trưng – Thuốc
- được chia thành hai không gian rất đặc trưng gắn với nhan đề tác phẩm: không gian
quán trà nhà lão Hoa với ba phần và không gian nghĩa địa với phần còn lại mà độ dài
không kém ba phần kia là bao.
Phần khai truyện, tương ứng với phần khai đề của một bài thơ cổ điển, được
mở ra từ không gian thứ nhất bằng một buổi sáng sớm, chưa sáng hẳn song cũng đã
chuyển sang một ngày mới với nội dung chính là mua thuốc. Đó là “một đêm thu gần
về sáng, trăng lặn rồi, nhưng mặt trời chưa mọc”. Bóng tối bao trùm lên không gian
ấy, trời không trăng cũng chẳng có sao nên “ngoài những giống đi ăn đêm, còn thì ngủ
say cả”. Để xua đi cái bóng tối ấy, lão Hoa, chủ nhân của ngôi nhà vừa để ở vừa để
bán hàng, đã “đánh diêm, thắp cái đèn nhầy nhụa những dầu là dầu” để tạo ra một thứ
ánh sáng “trắng xanh sáng khắp hai gian quán trà”. Ánh sáng ấy không làm cho ngôi
nhà ấm lên, hay sáng thêm mà chỉ làm cho nó chìm ngập sâu hơn vào bóng tối đang
phủ dày xung quanh, khiến sự trầm lắng có chiều sâu và hoàn cảnh buồn bã thê thảm
hơn. Ánh sáng ấy cũng mang tính chất khác thường. Đã thế sau khi thắp ngọn đèn
lồng, lão Hoa lại “tắt ngọn đèn con”, tắt luôn thứ “ánh sáng trắng xanh” đầy vẻ ma
quái, hăm dọa ấy. Cảm giác về bóng tối bao trùm lại hiện ra khi lão bước ra “ngoài
đường, trời tối om và hết sức vắng”. Trong bóng tối ấy, lão đi vừa với tràn trề hi vọng,
vừa nơm nớp lo cho gói bạc cồm cộm trong túi. Lão đi đến nơi sẽ có phương thuốc
diệu kì chữa bệnh cho con lão, phương thuốc được truyền khẩu trong dân gian song
không phải ai cũng biết, kể cả lão Hoa.
Sự dịch chuyển thời gian được đánh dấu bằng: “Trời cũng sáng dần và đường
cũng càng lâu càng rõ” và lão cũng đến được nơi lão cần đến: một ngã ba đường nơi

bạc để đi mua thuốc, tay lão Hoa cứ “run run”, và cả khi đưa tiền để lấy chiếc bánh
bao đẫm máu người tay lão cũng “run run”, khi gặp người lạ thì lão “trố mắt lên”.
Nhân vật Thuyên được giới thiệu bằng “một cơn ho” và lời dặn dò của lão Hoa mà
không hiện ra cụ thể, song qua cách giới thiệu như vậy độc giả đã nắm bắt được lí do
ra đi vào buổi tờ mờ sáng, khi còn chưa rõ mặt người, của lão Hoa với gói bạc dành
dụm được từ lâu. Cơn ho còn là động lực thúc đẩy lão Hoa phải đi, vừa tạo ra sự thấp
thỏm đợi chờ của bà Hoa. Một nhân vật khác được miêu tả qua bộ “áo quần đen
ngòm”, song có khác hơn một chút là hắn có cặp “mắt sắc như hai lưỡi dao” với cử
chỉ và cách nói dứt khoát: “Này! Tiền trao cháo múc, đưa đây!”. Nhân vật này hiện ra
với cách thức của một kẻ đao phủ chuyên nghiệp, lọc lõi chuyên buôn máu người
chết. Hắn cũng chẳng nói nhiều và cũng biết chẳng cần nói nhiều nhưng đã nói thì lời
của hắn phải là mệnh lệnh.
Số nhân vật khác hiện dưới dạng các đám đông “tụm năm tụm ba” mà không
thể biết số lượng là bao. Ngoài ra, còn “mấy người lính” được phân biệt không phải
qua tên người hay khuôn mặt mà qua dấu hiệu quần áo có đính “miếng vải tròn màu
trắng ở vạt áo trước và vạt áo sau”. Đây là loại nhân vật được định danh bằng kí hiệu
qui ước, song cũng thuộc loại nhân vật đám đông. Tất cả họp thành một cái chợ đặc
biệt. Kẻ bán, bán loại thuốc “đặc biệt”, còn người mua tuy ngại ngùng song không thể
không mua. Cái vô giá của mặt hàng ấy không phải ở chất liệu bánh mì làm nên chiếc
bánh bao mà ở chỗ nó được tẩm máu phạm nhân chết chém. Người phải chết đã chết
rồi nhưng phần cơ thể của họ, hiện hình qua những giọt máu đỏ tươi còn rỏ dài theo
bước chân của kẻ bán, tạo nên một nghịch cảnh trớ trêu, đầy nước mắt. Số lượng
người đến mua không đếm được song không phải là ít ỏi dưới mức bình thường, càng
cho thấy rõ hơn nỗi đau của đám dân chúng cuồng tín mê muội mà tác giả ngầm gửi
gắm trong câu chuyện.
Con đường mà lão Hoa đi bắt đầu từ nhà lão và kết thúc tại ngã ba đường, nơi
có “ngôi nhà còn đóng cửa kín mít” mà lão đã đứng chờ để mua phương thuốc thần
diệu, nơi những người “tụm năm tụm ba lúc nãy” “dồn lại một chỗ”, “xô nhào tới như
nước thủy triều”, “quây lại thành một nửa vòng tròn”. Con đường đưa lão trở về hiển
nhiên cũng chính là con đường ấy, song điều khác biệt là đám người “tụm năm tụm

Số lượng nhân vật ở đây cũng chỉ có bốn song vợ chồng lão Hoa chủ quán
cũng chỉ được giới thiệu qua các động tác, cử chỉ là chủ yếu, ngoại trừ hình ảnh “bà
Hoa từ trong bếp chạy ra, giương to đôi mắt, đôi môi run run”. Còn thằng Thuyên đứa
con còn lại của một gia đình “mười đời độc đinh” được giới thiệu kĩ hơn. Trước hết là
hình dáng với “hai xương vai gồ lên thành chữ “bát” in nổi” cho thấy căn bệnh của nó
đã vô phương cứu chữa và vì thế sự tuyệt vọng của gia đình càng tăng hơn.
Rồi các động tác ăn bánh của nó, ngoan ngoãn hiền lành, bảo ăn thì ăn, bảo
uống thì uống, bảo nằm thì nằm, không hề hé răng nửa lời bởi nó chẳng còn đủ sức
mà nói mà phô nữa, tới mức mới vừa nuốt khỏi cổ nó cũng quên tuốt luôn “mùi vị”
của cái bánh mà nó vừa nhai nuốt, bởi lẽ nó cũng đã mất đi cảm giác ngon miệng, bởi
bệnh đã trầm trọng lắm rồi. Cách hành động của Thuyên được thể hiện rõ nhất lúc hắn
cầm chiếc bánh: “Thuyên cầm lấy vật đen thui, nhìn một lúc, có cảm giác rất lạ không
biết thế nào mà nói, như đang cầm tính mệnh của chính mình trong tay”. Cái “lạ” trở
thành cảm giác chung được mọi nhân vật nhận biết nhưng cả cha mẹ lẫn đứa con đều
không nói cho nhau nửa lời về chuyện đó. Cái “lạ” dường như chứa đựng một điều gì
đó bí ẩn, khác thường, mà tuy nhận ra cái khác thường ấy, khác thường bởi đó là chiếc
bánh bao tẩm máu người, song cả lão Hoa lẫn bà Hoa đều có cảm giác như là vật
thiêng cứu mạng. Cách trả lời duy nhất của thằng Thuyên là “ho”, là những “cơn ho”.
Cho nên khi thấy đứa con ăn có vẻ ngon lành thì hai ông bà cứ “trố mắt lên” như thể
đang đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác hoặc giả cũng có thể quá đỗi lo sợ vì
đứa con đang ăn nhanh để mà chết chứ không phải để kéo dài cuộc sống thì cả hai đều
không thể nói ra lời nên đành phải “trố mắt” mà nhìn vậy. Hình ảnh “lão Hoa đứng
một bên, bà Hoa đứng một bên”, còn ở giữa là đứa con tạo ra cảm giác như thể hai
người đó đang đứng hai bên chiếc quan tài trong một đám tang. Cảnh tượng đó thật
hãi hùng song có tính biểu tượng rất lớn và kèm theo đó là nỗi đau tuyệt vọng, vừa
của người đang sống mòn mỏi vô vọng lẫn của cả người đang chết dần một cách tuyệt
vọng. Tác giả khi miêu tả hai ông bà này cũng chỉ đặc tả trạng thái bất bình thường
của họ qua đôi mắt mà cụm từ được sử dụng nhiều nhất là “trố mắt lên”, còn khi phải
hành động thì luôn “run run”. Bà Hoa “run run” sợ chồng không mua được thuốc, lão
Hoa “run run” khi đón nhận chiếc bánh bao tẩm máu người từ tên đao phủ. Hoàn cảnh

thớ thịt trên mặt nổi từng cục”và cách nói cũng khác thường, kẻ cả: “cứ giương cổ nói
oang oang”. Nhân vật này bốn lần “cam đoan thế nào cũng khỏi” và một lần khẳng
định như đinh đóng cột “nhất định sẽ khỏi thôi mà”. Bởi theo lão thì sự hiệu nghiệm
của phương thuốc nằm ở chỗ nó còn “nóng hôi hổi”, “lấy về còn nóng hôi hổi” và “ăn
cũng còn nóng hôi hổi”, kèm theo đó là một sự so sánh thẳng thừng, không úp mở
“bánh bao tẩm máu người như thế, lao gì mà ăn chẳng khỏi”. Bí mật của phương
thuốc “đặc biệt lắm” đã xuất đầu lộ diện. Thằng Thuyên, người trực tiếp sử dụng thứ
thuốc ấy, không nói không rằng, chỉ lấy tiếng ho để minh họa. Nó phải “ho lên” để
“phụ họa”, nó phải “hai tay ôm lấy ngực, ho lấy ho để”, nó phải “thừa dịp ho cố
mạng”. Còn động tác của nó thì “bước chậm rãi”, người thì “mồ hôi ướt đầm, trên đầu
hơi bốc phừng phừng”. Đặt hai nhân vật này trong quan hệ đối sánh thì công dụng của
thứ thuốc “đặc biệt” nổi bật lên mà tác giả cũng chẳng cần thêm lời bình luận. Đồng
thời cũng khu biệt được kiểu người Cả Khang. Điều này càng được khắc họa rõ hơn
bằng chính lời của hắn, khi trả lời câu hỏi của người “râu hoa râm”.
Nhân vật người có “râu hoa râm”, là đại diện cho một tầng lớp xã hội đông đảo
hiện diện trong Thuốc và được đặt đối sánh với “anh chàng trạc hai mươi tuổi” để từ
đó làm nổi bật khả năng nhận thức cũng như để minh chứng cho sự u mê lầm lạc của
lớp người như thế. Cùng loại với nhân vật “râu hoa râm” này trước hết là ông bà Hoa,
là lão Nghĩa “đề lao” “mắt đỏ như mắt cá chép” và hiển nhiên là cả lão Cả Khang.
Nhân vật “râu hoa râm” tuy có nhận ra vẻ bất thường trên nét mặt lão Hoa, nhưng
cũng không phân định được là ông ta có ốm thật hay không, lại còn đưa ra câu bình
tán có vẻ thức thời nhưng lại không đúng đối tượng: “đánh cái đồ ấy, thương hại cái
gì?” cho dù có biết “người bị chém hôm nay là người họ Hạ”. Đây là kiểu nhân vật u u
mê mê, muốn hiểu không được hiểu, muốn biết không được biết, kiểu người tự mình
mò mẫm tìm đường đi. Bởi thế dù nhân vật có đi tới khẳng định: “Lão Nghĩa mà đáng
thương hại à?” thì vế tiếp theo của lời phát ngôn ấy: “Điên! Hắn điên thật rồi!” lại
càng nhấn mạnh thêm tính chất thức tỉnh qua việc “vỡ nhẽ” của con người này.
Cho dù được gọi kèm theo đại từ “bác” qua cửa miệng của bà Hoa song Cả
Khang là kiểu người cơ hội, vụ lợi, chuyên rình mò kiếm chác từ cái chết của người
khác, coi thường mạng sống của người khác: “Cái thằng nhãi con ấy không muốn

vừa có nhận thức nhất định. Đây là kiểu người ngoại lệ vì tật nguyền, trở thành vô
công rồi nghề, bất lực trước mọi việc ở đời nhưng cũng đủ khả năng để nhận biết mọi
thứ mà trước hết là sự ốm yếu của ông Hoa là bởi đứa con bệnh tật, nhận biết “lão
Nghĩa là tay võ nghệ rất cừ”, và khi nghe xong câu chuyện Cả Khang kể thì gật gù:
“Điên thật rồi”. Cách xưng hô của tác giả ở đây cũng thể hiện một sự trân trọng đối
với con người tật nguyền nhưng có óc suy nghĩ và hiểu biết này. Ông gọi nhân vật này
bằng “cậu”.
Nhân vật “trạc hai mươi tuổi” không có danh tính, cũng không có đặc điểm
ngoại hình nhưng lại là biểu tượng cho một cách nghĩ khác, cho một thế hệ khác. Anh
ta không đơn giản chỉ nghe câu chuyện về cái chết của Hạ Du một chiều. Anh ta chỉ
tán thưởng con người mà Cả Khang coi là “nhãi con”, là “giặc” ấy khi được biết
người tử tù ấy “nằm trong tù rồi mà còn dám rủ lão đề lao làm giặc”. Anh ta cũng “vỡ
nhẽ” khi được biết kẻ “đáng thương hại” chính là lão Nghĩa và cũng đi tới khẳng định
điều đó là:“Điên thật”.
Vấn đề tại sao khi nhắc tới câu nói của người tử tù coi lão Nghĩa là người
“đáng thương hại” thì cả người có “râu hoa râm” lẫn cậu Năm Gù và anh chàng “trẻ
tuổi” này đều nói là “điên”? Lão Nghĩa tuy chỉ xuất hiện qua lời kể của Cả Khang
song lại rất tiêu biểu cho loại người công cụ trong xã hội ấy. Loại người này là công
cụ sát nhân của các thế lực thống trị, chẳng biết phải trái, lại càng không biết đến công
lí là gì. Loại người công cụ ấy có tác hại rất lớn, lại càng không thể giác ngộ, cũng
không thể tự thức tỉnh. Loại người chìm đắm trong mê muội cuồng tín, lầm đường lạc
lối ấy quả là “đáng thương hại” thật. Nhưng hướng tới loại đối tượng ấy để giác ngộ
tuyên truyền mà người tử tù đã làm là không ổn. Huống hồ, cái áo mà người tử tù cởi
ra lão cũng nhanh chóng “lấy mất”. “Điên” ở đây đồng nghĩa với việc không đúng
hướng, không đúng đối tượng, do đó, dẫn tới sự “vỡ nhẽ” của nhiều người. Đây cũng
chính là sự thức tỉnh của người có “râu hoa râm”, của cậu Năm Gù và của anh chàng
“trạc tuổi hai mươi”. Họ đã có những suy nghĩ khác về cái chết của Hạ Du, về cái chết
của con người mà máu của người đó được biến thành thứ thuốc “đặc biệt” chữa bệnh
lao trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ. Họ đã nghĩ tới cái “đặc biệt” nhưng bất
thường của loại thuốc đó. Và tuy không ai nói ra hay bàn tới công dụng của thứ thuốc

vốn là đất công”. Điều khác biệt là những đứa con ấy được chôn ở hai phía của nghĩa
địa được ngăn cách bằng “con đường mòn, nhỏ hẹp, cong queo” do “những người hay
đi tắt giẫm mãi mà thành”. Con đường tạo ra bởi thói quen, bởi thành kiến ngự trị lâu
ngày, thói quen ăn sâu thành nếp nghĩ trong đầu óc mọi người, bởi thế con đường này
không chỉ để đi mà con đường này còn là con đường của thành kiến, được tạo ra bằng
sự u mê, dẫn tới sự đối xử không bình thường, thành sự ngăn cách tự nhiên, bất khả
kháng của những con người trong xã hội ấy. Đứa con của bà Hoa được chôn ở “phía
tay phải” nơi dành cho “những người nghèo”, còn đứa con của bà Hạ thì chôn ở phía
tay trái, nơi dành cho “những người chết chém hoặc chết tù”. Con đường trở thành
ranh giới ước định giữa “dân” và “giặc”. Điểm nổi bật lên từ nghĩa địa này là “cả hai
nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ” mà từ đó
toát lên ý nghĩa biểu trưng là các nhà giàu, tức tầng lớp thống trị trong xã hội Trung
Hoa thời đó, tồn tại trên sự hi sinh xương máu của “dân” và của “giặc”, “dân” bị bóc
lột, bị bần cùng hóa mà chết dần chết mòn trong đói khổ, còn nếu chống đối thì bị qui
là “giặc” và tất yếu là phải chết. Cả hai loại chết đều cùng vì khổ đau, vì bị áp bức
nhưng lại bị phân biệt đối xử rõ ràng qua hai nửa của nghĩa địa được ngăn cách bằng
con đường của thành kiến mê muội ấy. Điều đó thể hiện qua hình ảnh “bà kia ngập
ngừng không dám bước tới nữa, sắc mặt xanh xao bỗng đỏ lên vì xấu hổ”, bởi lẽ phần
mộ của con bà nằm bên phía dành cho người “chết tù hoặc chết chém” tuy “nấm mộ”
của con bà “với nấm mộ của thằng Thuyên nằm cùng một hàng, chỉ cách con đường
mòn ở giữa”.
Việc vượt qua ranh giới định kiến ấy mang một ý nghĩa biểu tượng quan trọng
song để có điều ấy thì phải có một biến cố. Đó là vòng hoa trên mộ Hạ Du, “một vòng
hoa, hoa hồng hoa trắng xen lẫn nhau, nằm khoanh trên nấm mộ khum khum”. Vòng
hoa ấy đã làm cho bà Hạ “tay chân hơi run lên, rồi loạng choạng lùi lại mấy bước, mắt
trợn trừng ngơ ngác” mà nhìn thấy sự việc đó bà Hoa “cầm lòng không đậu” đã “bước
sang bên kia đường mòn”. Như vậy động lực thúc đẩy bà Hoa vượt qua con đường
ranh giới giữa những ngôi mộ của người chết nghèo với những ngôi mộ của người
chết chém chính là tình thương. Có thể bà Hoa không biết chiếc bánh bao mà con bà
đã ăn với hi vọng khỏi bệnh song điều đó không thành, đã được tẩm bằng máu của

hạn và ngột ngạt như không gian ngôi nhà - quán trọ. Tính chất ảm đạm, thê lương
của không gian nghĩa trang cũng được giảm bớt khi sự sống mới bắt đầu trở lại, khi
con người đã nhận ra được con đường tất yếu mà họ phải đi, khi tình người được nối
lại, khi khối đoàn kết dân tộc thống nhất được tạo ra.
Con quạ là một hình ảnh đặc biệt và có ý nghĩa biểu trưng trong phần kết
truyện. Khi đang cố nhìn ngó xung quanh để xem ai đã đến đặt vòng hoa lên mộ con
bà thì bà Hạ chỉ nhìn thấy “một con quạ đen đậu trên cành khô trụi lá”. Tiếng khóc
của bà Hạ cất lên sau đó là lời kết án, theo luật nhân quả báo ứng trong tâm thức của
những người dân bình thường: “chúng nó giết con thì rồi chúng nó sẽ bị báo ứng
thôi”. Con quạ trong văn hóa Trung Hoa có một ý nghĩa khác với quan niệm dân gian
của Việt Nam. Ở Việt Nam, con quạ là kẻ tham ăn, vì thế nó đã phải mang bộ lông
màu đen suốt đời, là biểu tượng của điềm dữ, thường gắn liền với những bất hạnh của
con người. Con quạ vốn là loài chim phổ biến ở các nước xứ lạnh. Trong văn hóa
Trung Hoa cũng như trong văn hóa Nhật Bản, con quạ là biểu tượng của “đức hiếu
thảo”(1), cho nên lời cầu khẩn của bà Hạ: “Nếu hồn con quả thật đang ở đây nghe lời
mẹ nói thì con ứng vào con quạ kia, đến đậu vào nấm mộ con cho mẹ xem, con ơi!”
cũng cho thấy quan niệm văn hóa đặc biệt đó. Cho dù “con quạ vẫn đậu trên cành khô
trụi lá, rụt cổ lại, im lìm như đúc bằng sắt” thì trong cảm thức bà Hạ vẫn sống dậy một
niềm tin. Ngoài ra, người Hán xem quạ như một dấu hiệu thần kì để tái lập trật tự xã
hội, người Nhật xem quạ là biểu tượng của tình cảm gia đình. Đối với người Trung
Hoa, quạ là con chim của mặt trời, là hiện thân của mặt trời, là “kim ô” mà câu chuyện
Hậu Nghệ bắn mặt trời luôn được truyền tụng đã cho thấy điều đó. Số là thượng đế
phái mười con quạ mang ánh sáng từ cây dâu của mặt trời đi khắp bốn phương tám
hướng, nhưng chúng thường tụ tập với nhau một chỗ khiến cho mặt đất nứt nẻ, bốc
cháy. Hậu Nghệ đã bắn chết chín con, chỉ còn một con sợ quá trốn biệt sau phải nhờ
con gà cất tiếng gáy để gọi về.
Hình ảnh hai bà già cùng đi về, bên nhau, có thể sóng đôi hoặc kẻ sau người
trước, song đều cùng về, tạo ra sự tiếp nối mà ghép tên của hai bà, Hoa và Hạ, thì sẽ
có ngay tên gọi của Trung Hoa hùng mạnh, thống nhất và thái bình cổ xưa: đất nước
Hoa Hạ. Họ cùng bước trên một con đường chung, con đường đó không có ngã ba

những sáng tạo nghệ thuật tài ba của nhà văn Lỗ Tấn. Thứ thuốc mà quần chúng
nghèo khổ Trung Hoa cần có đã được chỉ ra. Đấy cũng là thứ thuốc mà độc giả thu
nhận được qua thông điệp nghệ thuật của nhà văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status