Đặc trưng của sự phát triển kinh tế trong xã hội ngày nay và những ảnh hưởng đến của nó - Pdf 12


I. MỞ ĐẦU
Trong những thập kỷ qua, tình hình kinh tế thế giới đã có những biến đổi
hết sức nhanh chóng. Nhất là từ những năm 80 của thế kỉ XX trở lại đây, các
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ đặc biệt về công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến nền
kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người đưa con người đi vào thời đại kinh
tế tri thức. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một
trong những xu thế tất yếu đối với sự phát triển kinh tế của các nước trên thế
giới.
Khóa họp lần thứ 27 Đại hội đồng Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa
thuộc Liên hợp quốc (UNESCO) họp tại Pari 1993 với sự tham gia của 117
đoàn đại biểu trong tổng số 181 thành viên đã nhận định về những đổi thay
trong thế giới ngày nay, chủ yếu là: Những chuyển biến liên quan đến khoa
học- công nghệ, đặc biệt là phương tiện thông tin. Những chuyển biến liên quan
tới kinh tế, nhất là liên quan tới tổ chức và phân công lao động. Những chuyển
biến liên quan tới biến động dân cư. Các vấn đề trên đều ảnh hưởng tới biến đổi
sinh thái và môi trường và là cơ sở suy nghĩ cho sự biến đổi giáo dục của các
quốc gia.
Với tư cách là một hiện tượng xã hội, giáo dục chịu sự chi phối và quy
định bởi nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Đặc biệt, sự phát triển
kinh tế -xã hội, sự tiến bộ của cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ, tính
phức tạp và muôn vẻ của môi trường kinh tế - xã hội có ảnh hưởng trực tiếp và
sâu sắc tới mọi lĩnh vực hoạt động của giáo dục và đào tạo.
Ngày nay, đất nước ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa –
hiện đại hóa, nền kinh tế đã có nhiều khởi sắc và có nhiều tác động ảnh hưởng
tích cực đến giáo dục, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với nền giáo
dục đất nước. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn những ảnh hưởng của sự phát
triển kinh tế ngày nay để nhận thức cụ thể về yêu cầu nhiệm vụ của giáo dục
nước nhà trong tình hình mới, em chọn viết đề tài: “Đặc trưng của sự phát
triển kinh tế trong xã hội ngày nay và những ảnh hưởng của nó đến giáo

thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri
thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và
việc làm trong tất cả các ngành kinh tế. Tri thức thực sự trở thành “sức sản xuất
với năng xuất lao động rất cao”, đồng thời giữ vai trò quyết định thúc đẩy năng
xuất lao động chung của con người vươn tới.
- Công nghệ cao: Công nghệ cao thâm nhập vào mọi mặt hoạt động của
con người từ sản xuất của cải vật chất đến văn hoá - nghệ thuật. Ví dụ như:
công nghệ thông tin, công nghệ nano, công nghệ sinh học, tự động hoá, mô hình
hoá tự động, vv…
- Toàn cầu hoá: Theo xu thế này, tất cả các nền kinh tế địa phương ở các
quốc gia sẽ phụ thuộc lẫn nhau và dựa vào nhau để cùng phát triển, đưa toàn bộ
nền kinh tế toàn cầu lên những đỉnh cao mới vì phồn vinh của toàn nhân loại.
- Cạnh tranh có kiểm soát: Sự cạnh tranh khốc liệt theo quy luật giá trị và
lợi nhuận sẽ được kiểm soát. Ví dụ: các việc làm xoa dịu cạnh tranh và hài hoà
giữa các nền kinh tế trong cộng đồng WTO; vụ sữa Trung Quốc chứa độc tố
Melamine đã bị phát hiện, vụ công ty Vedan xả thải độc tố ra sông Thị vải đang
bị lên án và trừng trị thích đáng, v.v… ;
- Phát triển bền vững: Đây là xu thế cao đẹp nhất và mang tính nhân bản
nhất: ‘bảo vệ môi trường thiên nhiên và sinh thái cho muôn đời sau’ và cũng chỉ
với phương châm này ‘nền kinh tế của mọi quốc gia mới bền vững được’.
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật – công nghệ là yếu tố tiền đề chủ yếu
của nền kinh tế tri thức, động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế ngày
nay.
Trang 2
1.3. Các đặc điểm của cách mạng khoa học kĩ thuật – công nghệ và xu thế
phát triển của giáo dục
1.3.1. Lượng thông tin khoa học – công nghệ tăng nhanh
Sự bùng nổ thông tin do sự phát triển nhanh khoa học công nghệ dẫn đến
kết quả là xuất hiện nhanh, nhiều những tri thức, những kĩ năng và những lĩnh
vực nghiên cứu mới. Đồng thời những tri thức cũ nhanh chóng trở nên lỗi thời,

Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, máy vi tính đã đóng một vai trò
quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng của công việc và quản lí.
Trong nhà trường hiện nay, việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại, nhất
là máy vi tính đã là một xu hướng để nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học.
1.3.3. Do yêu cầu của cuộc sống và thực tiễn, thời gian từ lúc phát minh ra
các nguyên lí khoa học đến khi áp dụng nó vào quá trình sản xuất ngày càng rút
ngắn. Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Có thể dẫn ra các số liệu thống kê sau đây:
Trang 3
Tên các phát minh sáng chế Năm phát minh Năm sản xuất Thời gian
Máy hơi nước 1660 1780 120 năm
Máy ảnh 1727 1839 112 năm
Máy chiếu bóng 1756 1844 88 năm
Phim ảnh 1832 1895 65 năm
Máy bay 1897 1911 4 năm
Pin mặt trời 1953 1955 2 năm
La ze 1954 1954 6 tháng

Quá trình công nghiệp hóa ở các nước dần dần cũng rút ngắn. Nước Anh:
120 năm; một số nước Tây Âu và Mỹ: 80 năm; Nhật Bản: 60 năm; Các nước
công ngiệp mới – các con rồng châu Á (Đài Loan, Singapo, Hồng Kông, Hàn
Quốc): 20 – 25 năm.
Trong xu thế phát triển chung của khoa học - công nghệ, các trường Đại
học trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, ở nhiều nước (Mỹ, Nhật, Trung
Quốc, Nga, ) các “thung lũng khoa học” được hình thành và phát triển, tập
trung nhiều nhà khoa học nổi tiếng của đất nước. Nơi đây vừa là trung tâm
nghiên cứu vừa là nơi thực thi các dự án khoa học.
Trước yêu cầu này, người lao động ngày nay phải là người có khả năng
bắt kịp các tri thức khoa học mới, biết vận dụng sáng tạo các thành tựu ấy vào
thực tiễn. Giáo dục ngày nay không chỉ đào tạo ra những người có tri thức, am

hiện đại hóa cơ cấu kinh tế trên cơ sở tăng nhanh các ngành sản xuất có hàm
lượng khoa học cao. Xu thế này vừa thuận lợi, song cũng là khó khăn cho các
nước đi sau. “Chuyển giao công nghệ” đã tạo điều kiện cho các nước đang phát
triển có thể rút ngắn thời gian công nghiệp hóa của đất nước mình, mang lại cho
họ những bài học quý giá về môi trường và bảo vệ sinh thái. Song nếu cứ chấp
nhận công nghệ lạc hậu, lỗi thời do các nước phát triển chuyển giao, nghĩa là tự
nguyện duy trì sự lạc hậu về công nghệ thì các nước đang phát triển không thể
nào theo kịp các nước phát triển. Đây là thách thức rất lớn đối với các đang phát
triển trong đó có Việt Nam. Để chấm dứt sự lạc hậu và trì trệ này, vai trò và
nhiệm vụ của giáo dục là hết sức quan trọng. Giáo dục phải đào tạo ra được đội
ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật thông minh, sáng tạo, những con người có khả
năng đi tắt, đón đầu các thành tựu của khoa học kĩ thuật – công nghệ thế giới.
1.3.5. Đội ngũ các nhà khoa học, các cán bộ khoa học kĩ thuật tăng nhanh
chóng do đòi hỏi của cách mạng khoa học kĩ thuật - công nghệ
Có đến 9/10 các nhà khoa học của nhân loại từ trước đến nay là những
người đang sống cùng thời đại với chúng ta. Theo các nhà khoa học, bình quân
cứ 10 năm, số cán bộ khoa học kĩ thuật tăng gấp 2 lần. Trong xã hội tương lai,
xã hội dựa vào tri thức, cơ cấu phân công lao động trong xã hội là: cán bộ có
trình độ trung cấp: 60%, cán bộ có trình độ đại học: 34 % và cán bộ nghiên cứu
khoa học là 6 %.
Tất cả các đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật – công nghệ
đang có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện đến tất cả các lĩnh vực khác
nhau trong đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo.
1.4. Khái quát sự phát triển kinh tế ngày nay
- Thế giới đang diễn ra sự chuyển đổi mạnh mẽ của nền sản xuất, từ nền
sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. Tăng hàm lượng tri thức trong
sản phẩm, giảm dần hình thức lao động chân tay nặng nhọc, đẩy mạnh sản xuất
bằng công nghệ dây chuyền, tự động hóa.
- Nền kinh tế thị trường xã hội phát triển, là nền thị trường kết hợp giữa
kinh tế thị trường tự do và công bằng xã hội. Kinh tế thị trường xã hội đã

Nông, lâm, thủy sản 21.6 % 19.7 % 18.4 %
Công nghiệp, xây dựng 40.2 % 38.6 % 38.3 %
Dịch vụ 38.2 % 41.7 % 43.3 %
Biểu đồ cơ cấu kinh tế các năm 2011, 2012, 2013:
- Sau gần 30 năm thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, từ một nước nghèo
Trang 6
nàn, thiếu đói do hậu qảu chiến tranh, trở thành một trong những nước xuất
khẩu hàng đầu về các lĩnh vực nông - thủy sản. Việc thu hút, sử dụng đầu tư
nước ngoài thời gian qua cơ bản đã đáp ứng những mục tiêu đề ra về thu hút
vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động,
tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại. Tuy vậy việc thực thi chính
sách đổi mới và tốc độ phát triển nền kinh tế thị trường của Việt Nam suốt gần
30 năm qua chưa đạt được kết quả như mong đợi. Kinh tế Việt Nam vẫn chưa
thật sự thoát khỏi khu vực các nước thu nhập trung bình thấp. Doanh nghiệp tư
nhân còn phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Các tập đoàn, tổng công ty nhà
nước vẫn là thành phần chủ đạo, chiếm gần 50% tín dụng ngân hàng, hiệu suất
thấp, lãng phí cao, nợ xấu, nợ khó đòi chồng chất.
- Khoa học kĩ thuật – công nghệ được xác định là động lực then chốt trong
công cuộc CNH-HĐH, bước đầu đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực
như: tin học, y tế, giáo dục, xây dựng, giao thông vận tải, nông nghiệp Song
còn nhiều hạn chế, chuyển giao nhiều công nghệ lạc hậu (từ những năm 50-60
của thế kỉ XX), tỷ lệ công nghệ-thiết bị hiện đại thấp, trình độ cơ khí hóa của
nền kinh tế chưa cao, tiêu hao nhiều năng lượng trong sản xuất…
- Quá trình hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, đồng thời với việc tham gia
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) vào tháng 7-1995; là thành viên
đồng sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) vào tháng 3-1996; tham gia
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11-
1998; Việt Nam đã sớm nhận thức tầm quan trọng của việc tham gia vào Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) và từ tháng1- 2007, Việt Nam là thành viên

Dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân
tộc, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên lật đổ chế độ thực dân - phong kiến, chế
độ bóc lột. Với sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, nhân dân
ta bước sang xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ XHCN. Từ sau Đại hội Đảng
toàn quốc khóa VI, dân tộc ta đang trong thời kì đổi mới, CNH-HĐH đất nước.
2.2. Đặc điểm giáo dục Việt Nam ngày nay:
- Mang tư tưởng giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lê nin: Trên cơ sở kế thừa
tư tưởng giáo dục của các nhà XHCN không tưởng thế kỉ IX và nhà trường của
các nước tư bản thế kỉ IX, Mác và Ăng ghen đã xây dựng hệ thống lí luận giáo
dục (gọi là học thuyết giáo dục Mác – Ăng ghen). Học thuyết này được Lê nin
bổ sung, phát triển và được phổ biến sâu rộng trong các nước XHCN.
- Mang tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận
dụng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn nước ta, cụ thể là:
+ Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng của cách mạng Việt Nam.
+ Giáo dục trực tiếp đào tạo con người XHCN theo yêu cầu của cách
mạng, của công cuộc đấu tranh và xây dựng CNXH.
+ Đào tạo thế hệ trẻ thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt và mai sau là những
công dân dũng cảm, cán bộ gương mẫu, người chủ xứng đáng của chế độ
XHCN, là những người vừa có khả năng lao động trí óc vừa có khả năng lao
động chân tay.
+ Coi trọng nội dung giáo dục toàn diện, cả đức lẫn tài.
+ Phương pháp giáo dục cần kết hợp chặt chẽ lí luận với thực hành, giáo
dục với lao động sản xuất, chống học vẹt, học gạo, phát huy tính tích cực, tự
giác.
+ Trong quá trình giáo dục cần kết hợp giáo dục của nhà trường với giáo
dục của gia đình, xã hội, giữa nhà trường với các đoàn thể.
+ Giáo dục là sự nghiệp cách mạng của quần chúng.
+ Coi trọng vai trò của thầy giáo trong giáo dục, nếu không có thầy giáo
thì không có giáo dục, nghề dạy học là nghề rất quan trọng và vẻ vang. Yêu cầu
cao đối với giáo viên cả về chuyên môn, năng lực và phẩm chất.

tránh được những rủi ro và tìm được cho mình đường đi, cách đi phù hợp, ngắn
nhất và hiệu quả nhất.
Sự đổi mới và cải cách giáo dục ở khắp các nước trên thế giới đang diễn
ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội tốt cho giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp
cận được với nhiều xu thế mới, những tổ chức hệ thống và phương thức mới;
tận dụng được nhiều kinh nghiệm hay của các nền giáo dục tiên tiến. Chính
sách mở cửa của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi thu hút các
nguồn lực đa dạng trong sự hợp tác, liên kết song phương và đa phương với
nhiều quốc gia và tổ chức giáo dục, khoa học-công nghệ tiên tiến và hịên đại
cho phát triển giáo dục.
- Nhân dân ta với truyền thống hiếu học và chăm lo cho giáo dục, với
những điều kiện thuận lợi sẽ tiếp tục dành sự quan tâm và đầu tư cao cho giáo
dục và đào tạo, phát huy những tiềm năng to lớn của trí tuệ Việt Nam (Sự kiện
Ngô Bảo Châu đã tạo một niềm hứng khởi lớn cho giới khoa học, giáo dục cả
nước).
3.2. Thách thức:
- Nguồn lực Nhà nước và khả năng của phần đông gia đình đầu tư cho giáo
dục và đào tạo, nhất là về tài chính còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu
Trang 9
đảm bảo chất lượng giáo dục trong khi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội
nhập quốc tế tạo sức ép về số lượng cũng như chất lượng đối với nguồn nhân
lực, đòi hỏi giáo dục phải đổi mới.
- Nguồn nhân lực Việt Nam đạt chất lượng chưa được cao, tuy công dân
Việt Nam có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có trình độ dân trí, văn hóa,
kỹ thuật, công nghệ và tay nghề cao, tác phong công nghiệp và đạo đức, lối
sống lành mạnh nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu CNH-HĐH và hội nhập của
đất nước, cũng như đáp ứng nhu cầu nền kinh tế tri thức. Để đáp ứng nhu cầu
trên cần quan tâm, chú ý đến các vấn đề như : Chiến lược trong phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới là phải tăng nhanh về số
lượng để nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề,

tiêu cực xuất hiện trong giáo dục do chạy theo mặt trái của nền kinh tế thị
trường, hoạt động vì lợi nhuận, trái với mục đích phát triển con người, phát
Trang 10
triển đất nước. Đòi hỏi phải coi trọng giáo dục đạo đức, giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc.
- Khoảng cách phát triển về kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ giữa
nước ta và các nước tiên tiến có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên sự tụt hậu hiện
tại của nền giáo dục Việt Nam tạo ra một khoảng cách tương đối lớn so với các
nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới. Giáo dục nước ta vừa phải phát
triển mạnh để thu hẹp khoảng cách, vừa phải khắc phục những mất cân đối nội
tại, những mâu thuẫn đang tồn tại hiện nay:
+ Quy mô và chất lượng còn rất mất cân đối. Chất lượng, hiệu quả giáo
dục đại trà còn thấp và rất không đồng đều ở các bậc, ở các vùng miền khác
nhau, giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư có thu nhập khác
nhau. Chúng ta cũng chưa có chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử
dụng nhân tài hợp lý.
+ Cung và cầu giáo dục có khoảng cách lớn. Cung ứng giáo dục không
theo được nhu cầu giáo dục mà thị trường lao động, việc làm đang đòi hỏi;
không đáp ứng được nhu cầu của người học và có khoảng cách xa trong việc
đáp ứng sự đòi hỏi của phát triển kinh tế-xã hội. Việc dạy và học không gắn
chặt với thực tiễn, nhất là các trường đại học. Đa phần các chương trình đào tạo
hiện nay là những gì nhà trường và các thầy cô đem áp đặt cho người học, chứ
chưa phải là những cái xã hội cần.
+ Cá thể và toàn thể: giáo dục hiện nay chưa đáp ứng được nguyện vọng
của mỗi người học cũng như đòi hỏi của cộng đồng.
+ Giáo dục và tính nhân văn: hiện nay chưa làm tốt việc dạy cho học sinh
các kỹ năng sống như diễn đạt, tư duy, ra quyết định, giải quyết vấn đề, và hiểu
biết được chính mình.
+ Hợp tác và cạnh tranh: Giáo dục cần mở rộng hợp tác toàn diện cả
trong và ngoài nước.

dạy học còn chủ yếu hướng đến việc chuẩn bị cho các kì thi, hạn chế khả năng
thực hành, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn đối với người học.
- Chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng: từ giữa thế kỷ XX mâu thuẫn
gay gắt giữa số lượng và chất lượng đã xuất hiện phổ biến trong phát triển giáo
dục ở hầu hết các nước trên thế giới. Việt Nam càng không phải là ngoại lệ đến
nay việc tiếp thu bài kinh nghiệm từ các nước về giải quyết vấn đề này còn
nhiều hạn chế.
- Khó khắc phục năng lực yếu kém của bộ máy tham mưu, quản lý và
điều hành: Nguyên nhân quan trọng nhất, khó khắc phục nhất, là năng lực yếu
kém của bộ máy tham mưu, quản lý và điều hành. Xây dựng giáo dục để hội
nhập thành công trong thời toàn cầu hoá và kinh tế tri thức đòi hỏi một trình độ
chuyên nghiệp cao và một tinh thần trách nhiệm lớn.
Tóm lại, với sự phát triển của nền kinh tế đã có sự tác động mạnh mẽ đến
giáo dục, giáo dục đổi mới mục tiêu, nội dung và cả phương pháp, phương tiện
dạy học, trên phương diện đa phương hoá, đa dạng hoá loại hình đào tạo, phù
hợp với sự đổi mới của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế thị trường
có định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam nói riêng. Phấn đấu xây dựng
một nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, đảm bảo công bằng về cơ
hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt
đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
4. Giáo dục Việt Nam cần phải làm gì trong bối cảnh kinh tế hiện
nay?
Với vai trò trang bị kỹ năng học tập tri thức trong bối cảnh hội nhập quốc
tế, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, bước vào nền kinh tế tri thức, giáo dục Việt
Nam cần quan tâm, thực hiện những vấn đề sau:
- Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo là “đổi mới những
vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội
dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện đổi mới từ
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các
cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản

khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng
sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.”
- “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa
các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá,
hiện đại hoá giáo dục và đào tạo.”
- “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào
tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các
vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc
biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và
các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào
tạo.” (Nghị quyết Trung ương 8-khóa XI)
III. KẾT LUẬN
Giáo dục có ý nghĩa và vai trò quan trọng để thực hiện nhiệm vụ ổn định và
phát triển kinh tế xã hội, Hội nghị Trung ương 8 (Khóa XI) đã xác định “Giáo
Trang 13
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của
toàn dân”. Đại hội Đảng lần thứ VII đã đề ra mục tiêu giáo dục của nước ta
trong giai đoạn hiện nay là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành,
tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và năng
lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần”.
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn lực còn hạn hẹp,
được sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, với những nỗ
lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc: thực hiện giáo dục toàn dân, nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài; góp phần giáo dục ý thức công dân, phẩm chất chính trị, lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status