VAI TRò CủA TTCK Đối với sự phát triển kinh tế (2) - Pdf 23

Lời mở đầu
Sau cuộc cải cách kinh tế Việt Nam đã có nhiều thành công trong sự
nghiệp phát triển kính tế của mình.Cuộc cải cách này đã có những tác động rất
lớn tới toàn bộ đời sống kính tế xã hội và tạo ra những chuyên biến tích cực trong
nền kinh tế. Chính vì vậy mà đã xuất hiện những cơ sở vững chắc và ngày càng
lớn mạnh để hình thành thị trờng tài chính ,quan trọng nhất là sự hình thành thị
trờng chứng khoán tại Việt Nam. Cách đi từng bớc và chính xác trên con đờng để
đi tới một nền kinh tế thị trờng phát triển là một điều rất hoan nghênh. Tiến trình
cải cách cũng cho ra đời một thị trờng tiền tệ với sự xuất hiện hàng loạt các hợp
tác xã tín dụng, ngân hàng thơng mại cổ phần, công ty tài chính song song với sự
chuyển đổi các ngân hàng quốc doanh trở thành những ngân hàng chuyên doanh.
Một số ngân hàng liên doanh với nớc ngoài và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài
cũng bắt đầu đợc cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Điều này đã chứng tỏ
nhu cầu về vốn ngày càng tăng mà đòi hỏi phải có những biện pháp và công cụ
hữu hiệu để mở rộng việc huy động vốn nhãn rỗi cả của khu vực dân c ở trong n-
ớc và của nớc ngoài. Để làm đợc điều này vào năm 1990, Việt Nam đã ban hành
đạo luật về công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần. Các doanh nghiệp
theo mô hình cổ phần, đặc biệt trong lĩnh vực: dịch vụ, thơng mại, tài chính, ngân
hàng đã đợc thành lập. Thêm vào đó từ năm 1993 trở đi, nhà nớc Việt Nam cũng
đã thực hiện rộng rãi việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc gần đây Luật đầu t
nớc ngoài tại Việt Nam cũng đợc sửa đổi cho phép ngời nớc ngoài tham gia trực
tiếp đâù t dới hình thức góp vốn cổ phần vào các công ty cổ phần tại Việt Nam.
Tất cả các điều trên nói lên một thị trờng vốn mà đỉnh cao là thị trờng
chứng khoán đã có cơ sở để hình thành tại Việt Nam. Sự ra đời của thị trờng
chứng khoán tại Việt Nam cũng là một yêu cầu tất yếu. Cách thức huy động vốn
1
trên thị trờng chứng khoán rất thuận tiện khắc phục đợc những nhợc điểm của các
biện pháp huy động vốn hiện nay. Hiện tại cách huy động vốn của Việt Nam hiện
nay là phát hành tín phiếu, kỳ phiếu kho bạc và tiền gửi tiết kiệm. Theo cách huy
động vốn này, chỉ khi đến hạn ngời sở hữu các loại kỳ phiếu mới đợc thanh toán
cả gốc và lãi, còn đối với ngời gửi tiền tiết kiệm nếu rút tiền trớc thời hạn thanh

chứng khoán đợc giao dịch trên thị trờng.
Với cách hiểu nh vậy thì thị trờng chứng khoán bao gồm cả hoạt động mua
bán trong sở giao dịch và ngoài sở giao dịch, bao gồm cả hoạt động mua bán
chính thức và không chính thức.
Nh vậy khái niệm thị trờng chứng khoán bao trùm lên khái niệm sở giao
dịch chứng khoán .Sở giao dịch chứng khoán thờng gắn với một địa danh nào đó
nh New York, Tokyo, Lndon, Paris . . .
Ngay từ khi sở giao dịch chứng khoán đầu tiên đợc thành lập năm 1531 tại
Anwerpen (Bỉ) tại toà trụ sở của nó đã có dòng chữ nổi tiếng "Phục vụ khách
hàng tất cả các dân tộc và tiếng nói khác nhau". Điều đó một phần nào giải thích
phạm vi và quy mô hoạt động của thị trờng chứng khoán, nó không giới hạn
trong một không gian mà ngày từ đầu nó đã thể hiện tính chất quốc tế. Với sự
thành lập của hãng Hà Lan-Đông ấn năm 1602 sở giao dịch chứng khoán
Amsterdam (Hà Lan) đợc thành lập, nó trở thành sở giao dịch chứng khoán quan
trọng nhất trên thế giới vào thời kỳ đó với kỹ thuật kinh doanh chứng khóan ở
một trình độ khá cao. Sau đó các sở giao dịch chứng khoán đợc thành lập ở một
loạt nớc nh Đức vào cuối thế kỷ 17, ở Anh và Mỹ thế kỷ 18, Thụy sĩ năm 1850,
và ở Nhật bản năm 1878.
Ngày nay có khoảng 160 sở giao dịch chứng khoán ở 55 nớc t bản. Các sở
giao dịch chứng khoán này đều có mối liên hệ trực tiếp hoặc gian tiếp với nhau
3
bởi vì việc buôn bán chứng khoán đã từng bớc đợc quốc tế hoá. Tuy có sở giao
dịch chứng khoán nh vậy, nhng chỉ có một số sở giao dịch chứng khoán nh New
York, Tokyo, London, Frankfurt, Zurich và Paris. . . chiếm vị trí quan trọng nhất,
đặc biệt là sở giao dịch chứng khoán New York .
Khi một quốc gia bàn đến việc thiết lập thị trờng chứng khoán , chúng ta
hiểu đó là việc thiết lập một thị trờng chứng khoán có tổ chức (sở giao dịch
chứng khoán). Đó là ly do để ngời ta đồng nghĩa thị trờng chứng khoán với Sở
Giao dịch chứng khoán. Nhiều ngời nghĩ rằng Sở Giao dịc chứng khoán là nơi
mua vào và bán ra các loại chứng khoán. Sở Giao dịch chứng khoán không phải

quan quyết định. Vì vậy thị giá của cùng một loại chứng khoán trên các thị trờng
khác nhau không chênh lệch nhau nhiều lắm, do đó làm giảm sự di chuyển chứng
khoán giữa các thị trờng.
Tóm lại, thị trờng chứng khoán hoạt động lấp đi hố ngăn cách giữa cung và
cầu về vốn, giữa ngời mua và bán chứng khoán. Đặc biệt thị trờng chứng khoán
đã đáp ứng đợc nhu cầu vay vốn dài hạn trong nền kinh tế vì các chứng khoán dài
hạn vẫn đợc các nhà đầu t ngắn hạn mua, khi cần tiền họ có thể bán các chứng
khoán đó trên thị trờng chứng khoán. Nh vậy thị trờng chứng khoán đã đáp ứng
đợc đồng thời nhiều yêu cầu tồn tại trong nền kimh tế.
II. VAI TRò CủA THị TRờng chứng khoán
Sự tạo lập và phát triển thị trờng chứng khoán có ý nghĩa rất quan trọng
trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nớc có nền kinh tế phát triển. Nó là
kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hàn cho Nhà nớc và doanh nghiệp. Nó
là yêu tố hạ tầng quan trọng nhất, một công cụ có rất nhiều lợi thể. Chính vì vậy,
ở hầu hết các nớc có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trờng đều tồn tại một
thị trờng chứng khoán với các vai trò chủ yếu sau đây :
5
1). Tạo vốn cho sự phát triển kinh tế
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, không có khái niệm về giao lu
vốn và cũng không tạo ra nhu cầu về tiền và vốn để đầu t cho sản xuất kinh
doanh. Nền kinh tế của cơ chế này là nền kinh tế gần nh đơn nhất, chỉ tồn tại chủ
yếu kinh tế quốc doanh hoạt động theo sự chỉ đạo tập trung thống nhất của nhà n-
óc. Nhà nớc giao chỉ tiêu cho các xí nghiệp quốc doanh , xí nghiệp này làm ra
sản phẩm giao cho thơng nghiệp quốc doanh là hoàn toàn kế hoạch. Bên cạnh đó,
cơ chế phân phối bình quân theo giá cả bao cấp cho cả sản xuất và tiêu dùng đã
làm tê liệt các chức năng của đồng tiền, phá vỡ mối quan hệ cung cầu và quy luật
giá trị. Trên thực tế, đồng tiền trong kế hoạch hoá tập trung không phản ánh đợc
bản chất của sự vận động kinh tế xã hội.
Khi chuyển sang cơ chế thị trờng, xí nghiệp quốc doanh chủ động trong sản
xuất kinh doanh, mọi vấn đề về vốn đợc thay đổi sự phát triển các thành phần

triển và ổn định nền kinh tế, bởi vì nó có những vai trò sau đây :
_ Giúp nhà nớc thực hiện chơng trình phát triển kinh tế :
Bất kỳ một nhà nớc nào cũng có nhiệm vụ ổn định và phat triển kinh tế.
Nguồn kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ này đợc lấy từ ngân sách nhà nớc.
Ngân sách nhà nớc càng lớn thì các chơng trình phát triển kinh tế càng có điều
kiện thuận lợi để đạt đợc thành công. Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nớc
là thuế. Nhng thông thờng, thuế không đủ để cho chính phủ chi tiêu vì vậy cần
thêm các khoản thu phụ khác đó là từ các kỳ phiếu, tín phiếu kho bạc. Xét về ph-
ơng diện kinh tế, đó là biện pháp tích cực. Nhà nớc không phải thông qua Ngân
hàng trung ơng để phát hành thêm tiền mặt mà phát hành kỳ phiếu vay vốn trong
dân c cho nên lợng tiền mặt trong dân c không tăng lên và không gây nên lạm
phát.
Hiện nay ở hầu hết các nớc, nhà nớc phát hành kỳ phiếu thông qua thị tr-
ờng chứng khoán. Không có thị trờng chứng khoán thì nhà nớc vẫn phát hành đợc
7
kỳ phiếu. Nhng có thị trờng chứng khoán thì nhà nớc bán đợc một cách dễ dàng.
Vì kỳ phiếu của nhà nớc cũng là một loại chứng khoán chuyển nhợng đợc và có
thể mua bán trên thị trờng chứng khoán.
Vì vậy thị trờng chứng khoán là một công cụ hữu hiện giúp nhà nớc trong
việc huy động vốn cho việc thực hiện chơng trình phát triển kinh tế xã hội.
_ Điều tiết vốn đầu t :
+ TTCK là công cụ thu hút và kiểm soát vốn đầu t nớc ngoài : thị trờng
chứng khoán là công cụ cho phép vừa thu hút, vừa kiểm soát vốn đầu t nớc ngoài
một cách tốt nhất, vì nó hoạt động theo nguyên tắc công khai. Nghĩa là mọi đối t-
ợng tham gia mua bán chứng khoán phải công khai hóa và cập nhật hóa toàn bộ
những thông tin liên quan đến giá trị chứng khoán, và công khai khả năng tài
chính trong các giao dịch mua bán chứng khoán.
Nh vậy, có thị trờng chứng khoán sẽ khắc phục đợc tình trạng thiếu thông
tin hoặc thông tin không trung thực, thiếu chính xác. Đầu t qua thị trờng chứng
khoán, tức là đầu t mua bán chứng khoán tại một thị trờng chứng khoán có tổ

lợng vốn lu hành. Do đó hệ thông ngân hàng thơng mại sẽ hạn chế cho vay đối
với những dự án có khả năng sinh lời thấp. Trong khi đó, thị trờng chứng khoán
sẽ bù vào khoản thiếu hụt này và gây áp lực để các dự án đầu t đạt hiệu quả cao.
Nh vậy, thị trờng chứng khoán cũng giúp làm giảm nguy cơ lạm phát.
+ Khắc phục tính trạng suy thoái của nền kinh tế :
Nh chúng ta đã biết khi nền kinh tế đang trong tính trạng suy thoái , đó là
tổng sản phẩm sản xuất ra trong nền kinh tế giảm đi. Nó ảnh hởng một cách
mạnh mẽ và trực tiếp đến đời sống kinh tế, đặc biệt là tất cả chúng ta nh khi sản
phẩm sụt giảm thì để tìm đợc một việc làm tốt là rất khó khăn. Để khôi phục vấn
đề này một trong những biện pháp hữu hiện là mở rộng đầu t sản xuất(cung tạo ra
câu).
9
Nói đến đầu t mở rộng sản xuất phải nái đến vốn mà trong đó thị trờng
chứng khoán là mọt tổ chức tài chính huy động vốn có hiệu quả nhất. Thông qua
thị trờng chứng khoán các doanh nghiệp có thể huy động đợc vốn bằng cách phát
hành cổ phiếu hoặc trái phiếu bán ra để mở rộng quá trình sản xuất kinh doanh,
đồng thời chính phủ có thể mua các loại cổ phiếu, trái phiếu để tạo vốn cho việc
đẩy mạnh mở rộng sản xuất tăng sản phẩm cho nền kinh tế. Khi đó nền kinh tế sẽ
đợc khôi phục lại.
_ Thúc đẩy hiệu quả kinh tế :
Thị trờng chứng khoán là một công cụ tuyệt vời cho các nhà kinh doanh có
thể vay vốn để đầu t vào sản xuất nhng cũng đòi hỏi rất cao ở họ. Ban quản trị thị
trờng chứng khoán chỉ cho phép cổ phiếu, trái phiếu của các công ty có đủ điều
kiện nh : kinh doanh hợp pháp, tài chính lành mạnh, có doanh lợi . . . đợc lu hành
trên thị tròng và công chúng chỉ mua cổ phiếu của những công ty thành đạt.
Thêm vào đó, luật lễ thị trờng chứng khoán bắt buộc các doanh nghiệp có chứng
khoán lu hành trên thị trờng chứng khoán phải công bố công khai các báo cáo tài
chính, kết quả kinh doanh qua đó công chúng có cơ hội đánh giá kết quả hoạt
động của công ty.
Nếu một công ty làm ăn có lãi, thị giá chứng khoán của nó sẽ tăng trên thị

chuyên môn hóa theo ngành, nghề trong cơ cấu sản xuất của nền kinh tế. Quá
trình chuyên môn hoá theo ngành càng cao thì tất yếu sẽ đòi hỏi sự giao lu, sự
luân chuyển các yếu tố của lực lợng sản xuất, trong đó có sự luân chuyển các
nguồn vốn tài chính giữa các doanh nghiệp và công cụ thuận lợi nhất để thực hiện
sự giao lu nói trên là các cổ phiếu và trái phiếu mà chủ yếu hoạt động mua bán
các công cụ này thờng diễn ra thông qua thị trờng chứng khoán và thị trờng
"ngầm".
Trong mục tiêu phát triển kinh tế, Việt Nam hiện nay cần rất nhiều vốn.
Theo các chuyên gia kinh tế, để duy trì nhịp độ tăng trởng hang năm từ 9-10%
trong giai đoạn 1996-2000, cần đảm bảo mức đầu t hàng năm ít nhất là 27-30%
GDP. Với tỉ lệ đầu t nói trên, khối lợng cần cho đầu t trong 5 năm tới sẽ là 40-50
tỷ USD, nghĩa là mỗi năm Việt Nam phải huy động đợc hơn 8 tỷ USD cho đầu t
phát triển. Thị trờng ra đời sẽ giúp giải quyết một phần đáng kể số vốn này .
Thông qua thị trờng chứng khoán , nhiều nớc một số nớc đã huy động một khối l-
12
ợng vốn khổng lồ. Ví dụ ở thị trờng chứng khoán New York năm 1995 tổng giá
trị chứng khoán đợc niêm yết là 6.013 tỷ USD, ở thị treoèng chứng khoán
London là 1.344,425 tỷ USD. Xem xét tổng nguồn vốn đợc huy động tại các nớc
trong khu vực ta thấy (số liệu năm 1993);: tổng giá trị chứng khoán trên Sở giao
dịch chứng khoán Kualalumpur là 220,328 tỷ USD, trên Sở giao dịch chứng
khoán Thailand là 130,953 tỷ USD, trên Sở giao dịch chứng khoán Jakarta là
32,953 tỷ USD.
Thị trờng chứng khoán ra đời sẽ thu hút đợc các món tiền còn đang nằm
không trong dân c, trong các quĩ bảo hiểm, quĩ phục lợi xã hội. Qua các đợt thu
đổi tiền tệ đã cho thấy nguồn vốn bằng tiền nằm trong dân c chiếm từ 65-70%
tổng tiền tệ trong lu thông. Theo ớc đoán số đôla nằm trong dân c là khoảng 2 tỷ
USD, số lợng vàng bạc đá quý có giá trị từ 7-10tỷ USD. Đây là nguồn vốn không
nhỏ để đầu t phát triển.
Thị trờng chứng khoán cũng sẽ thu hút ngời nớc ngoài đầu t vào trong nớc.
Trong 45 tỷ USD mà Việt Nam cần tới năm 2000, vốn đầu t nớc ngoài sẽ chiếm

tốt các yếu tố về kinh tế, pháp lý, kỹ thuật và để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động của thị trờng chứng khoán.
Yếu tố kinh tế :
Đây là yếu tố rất quan trọng làm nền tảng để đảm bảo cho khả năng có các
loại chứng khoán lu thông trên thị trờng. Yếu tố này đợc quyết định bởi các chính
sách phát triển kinh tế và các định chế tài chính của nhà nớc.
Việc thông qua các Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp
và Công ty . . . là cơ sở để các thành phần kinh tế t nhân, các công ty liên doanh,
công ty cổ phần ngày càng phát triển cùng với các đơn vị kinh tế quốc doanh.
Đây là các đơn vị kinh tế có thể phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu là hàng
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status