TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA:
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
CHUYÊN
NGÀNH:
KINH TẾ
ĐỐI
NGOẠI
KHÓA
LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
Cơ HỘI
VÀ
THÁCH
THỨC
CỦA
CÁC
DOANH
NGHIỆP
BẢO
HIỂM
VIỆT
NAM TRONG
N
.GAI
ĨI,J2SE
:
Lê
Thị
Mai
:
Anh
li
:
41D
-
KTNT
: T.s
Vũ
Thị
Kim
Oanh
ULM15A
2006
Hà
Nội,
11/2006
MỤC LỤC
Lòi nói đầu Ì
CHƯƠNG
Ì:
MỘT
số VẤN
bảo
hiểm:
4
1.1.2.
Các nguyên
tắc
của
bảo
hiểm:
8
1.1.3.
Vai
trò
của
bảo
hiểm
với
nền
kinh tế
quốc dân:
11
1.2.
Những
cam
kết
về
dịch
vụ bảo
hiểm
trong
BẢO
HIỂM
VIỆT
NAM TRONG
VIỆC
THỰC
HIỆN
CAM KẾT VỀ BẢO
HIỂM
TRONG
HIỆP
ĐỊNH
THƯƠNG MẠI
VIỆT
NAM- HOA
KỲ.
2.1.
Tổng
quan
về
ngành
bảo
hiểm
Vit
Nam: 26
2.1.1.
Sự
phát
triển
ngành bảo
Công
ty
tái
bảo
hiểm:
37
2.2.4.
Các
công
ty
môi
giới
bảo
hiểm:
38
2.3.
Đánh giá chung
về
hoạt
động của các
DNBHVN: 39
2.3.1.
Điểm
mạnh:
39
2.3.2.
Hạn
chế:
41
2.3.3.
51
2.4.1.
Cơ
hội:
52
2.4.2.
Thách
thức:
58
CHƯƠNG
3:
GIẢI
PHÁP PHÁT
TRIỂN
THỊ TRƯỜNG
BẢO
HIỂM
VIậT
NAM
ĐÁP
ÚNG CAM
KẾT
TRONG BTA.
3.1.
Xu
hướng phát
triển
của
thị
trường bảo
với
các
nhà
hoạch
định chính sách
và
điều
tiết
thị
trường:
79
3.3.2.
Đối
với
ngành bảo
hiểm
Việt
Nam:
87
3.3.2.
Đối
với
các
doanh
nghiệp
bảo
hiểm:
89
Kết luận
98
Khu
vực
Hợp
tác
kinh tế
Châu
Á
Thái
Bình Dương.
GATS:
Hiệp
định
chung
về
Thương
mại và
Dịch
vụ.
GATT:
Hiệp
định
chung
về
Thuế
quan
và
Mậu
dịch.
EU: Liên
minh
Hiện
nay xu
thế
toàn cầu
hoa, hội
nhập
và hợp tác
quốc
tế
đang
diễn ra
sôi
động
trong
mọi
lĩnh
vực
của đời
sống
kinh tế
xã
hội
đòi
hỏi
mõi
quốc
gia
và mỗi
ngành
kinh tế phải
từng
bước mở cửa
thị truồng
và đẩy
mạnh
tự
do hoa thương mại
trong
lĩnh
vực
dịch
vụ
tài
chính
trong
đó có bảo
hiểm
ngày càng
trở
nên
quyết
liệt.
Dịch
vụ tài chính là một
trong
nhịng
lĩnh
vực được
quan
tâm
thị
trường
đối
vói
các nhà bảo
hiểm
nước ngoài và bãi bỏ các
luật
lệ
ngăn cản các nhà đầu tư nước
ngoài được
cạnh
tranh
bình đẳng
với
các công
ty trong
nước.
Trước tình hình này
chính phủ các nước đang phát
triển
và các nền
kinh tế mới nổi
đang bước đẩu dỡ
bỏ
độc
quyền,
thúc đẩy
tự
do hoa
tham
gia
vào
kinh
doanh
bảo
hiểm.
Yêu cầu
tự
do hoa
thị
trường bảo
hiểm
Việt
Nam không
chỉ gia
tăng
dưới
sức
ép
của
đàm
phán
gia
nhập
WTO mà còn
từ
yêu
cẩu
phát
quan
trọng trong
quá trình bình thường hoa
quan
hệ thương mại và
đầu
tư
giữa
hai
nước, cũng
như quá trình
tự
do
hoa
thương mại
trong
lĩnh
vực bảo
hiểm.
Đây là
hiệp
định toàn
diện
nhất
mà
Việt
Nam
từng
ký
kết
là một ngành
kinh
tế
đặc
biệt-kinh
doanh
rẩi
ro.
Bảo
hiểm
là
ngành
dịch
vụ
tài
chính đặc
biệt
mang tính toàn
cẩu,
đóng
vai
trò
quan
trọng
đối
với
sự ổn định cẩa nền
kinh
tế
quốc
kinh tế
quốc tế
nói
chung
và trước mắt
là
Hiệp
định BTA quả
là
một thách
thức
to lớn.
Theo
lộ
trình cẩa
Việt
Nam
trong
lĩnh
vực bảo
hiểm
được quy định
trong
BTA, tính đến
thời
điểm
này,
BTA đã có
hiệu lực
được 4 năm và do đó
nhập
thị
trường.
Điều
này
đặt
ra
cho ngành bảo
hiểm
Việt
Nam nói
chung
và các
doanh
nghiệp
Việt
Nam nói riêng hàng
loạt
cơ
hội
cũng
như thách thúc
to
lớn.
Các
doanh
nghiệp
đã và đang
phải
đối
định BTA, tác
giả
đã
chọn
đề tài "Cơ
hội
và thách
thức
cẩa
các
doanh
nghiệp
bảo
hiểm
Việt
Nam
trong việc
thực
hiện
các cam
kết
về
bảo
hiểm
cẩa
Việt
Nam
trong
Hiệp
định Thương mại
dung khoa
luận
được
chia
thành 3 chương như
sau:
Chươngl: Một số
vấn
đề
chung
về bảo
hiểm
và
những
cam
kết
về bảo
hiểm
của
Việt
Nam
trong
Hiệp
định BTA.
Chương
2:
Cơ
hội
và thách
thức
Nam đáp ứng cam
kết
trong
Hiệp
định BTA.
Tác
giả xin
chân thành cảm ơn các
thấy
giáo, cô giáo trường
Đại
học
Ngoại
thương Hà
Nội
đặc
biệt
là
Tiến
sĩ Vũ Thị Kim Oanh,
người
đã
tận
tình
hướng
dẫn tôi
trong
suốt
quá trình hoàn thành
khoa
nụhiỀặt
CHƯƠNG
1:
MỘT
số VÂN
ĐỂ CHUNG VẾ BẢO
HIỂM
VÀ NHỮNG
CAM KẾT VỀ BẢO
HIỂM
CỦA
VIỆT
NAM TRONG
HIỆP
ĐỊNH
THƯƠNG
MẠI
VIỆT
NAM-HOA
KỲ.
1.1.
Một
sô
vân đề
chung
về
bảo
hiểm:
1.1.1.
Khái
người
ta
vẫn
chưa
xác
định được bảo
hiểm
xuất hiện
từ
khi
nào.
Tuy
nhiên,
trong
số
nhọng
dấu tích
vật
chất
gây ấn
tượng
của mình
thời tiền
sử,
thời
cổ
đại,
thời
trung
cổ và
quan
thuế
sẽ
xuất
ra
lương
thực
dự
trọ
để
nuôi
sống
cư
dân
thành
phố.
Vào
cuối thế
kỷ XV,
khi
Châu
Âu
thực hiện
nhọg chuyến
đi
khai
phá
tới
Châu
Á và
xuất hiện
cùng
một
lúc.
Các
đội
tàu nhỏ
tìm
cách
đi từ
Châu
Âu
tới
Inđônêxia,
mua
bán
hàng
hoa
tại
đó
và
trờ
vê
với
nhiều
loại
hàng
hoa
hấp
dẫn
lạc
đường,
bị chìm
do quá
tải, Nhọng người tham
gia
vào
nhọng
chuyến
đi
mạo
hiểm
đó đã cảm
thấy
sự cần
thiết
phải
cùng
nhau
chia
xẻ
rủi
ro
để
tránh tình
trạng
một
số
nhà
đầu
ứng nhu
cầu này. Cách
thứ
nhất
là
thành
lập
một
liên
doanh
có
góp
vốn
cổ
Mi Ghì Mai
4 Mép
dinh
11-OL41
r
O JCJQlQ
DỈẤitìá luân ỈM
tttịfaỉệjji
phẩn,
theo
đó,
một nhóm nhà đầu tư cùng đầu tư vào một
đội
thuyền
chở hàng
chung,
để
nghị
trả
một số
tiền
mụt cho
những người
khác nếu
những người
này đổng ý sẽ
bổi
thường cho các chủ hàng
thuộc
con tàu
khi
con tàu đã nêu tên không hoàn thành một
chuyến
đi cụ
thể
nào
đó.
Theo
cách
thức
này,
thay
cho
việc
phát
triển
tích.
Những
người
bảo
hiểm
này
tạo lập
một quỹ
chung
mà họ cam
kết
sử
dụng
để
thanh
toán cho
người
được bảo
hiểm
khi
xảy
ra tổn
thất.
Đó là
những
hình
thức
đẩu tiên góp
phần
vào sự
quốc dân.
Tuy
nhiên,
cho đến nay chưa có một khái
niệm
thống
nhất
về
dịch
vụ vì tính vô hình,
đa
dạng
và
phức
tạp
của
loại
hình
sản
phẩm này.
Theo
quan
điểm
của
Các
Mác, cha
đẻ
của chủ nghĩa
duy
vật biện
con
người thì dịch
vụ ngày
càng phát
triển.
Người
ta
cũng
đã đưa
ra rất
nhiều
định
nghĩa về
bảo
hiểm,
tuy
nhiên,
chưa
có một định
nghĩa
nào
mang
tính
thống
nhất.
Theo
Hiệp
hội
các nhà bảo
hiểm
thất
tài
Mĩ
QllỊMai
5 Mép
cành
11
3C411)-OC&Ql<j
Díĩttìá
luận tứ
tụfíiìệft
chính cho
người
được bảo
hiểm.
trách
nhiệm
thanh
toán
những
tổn
thất
này được
chuyển
giao
từ người tham gia
bảo
hiểm sang người
bảo
hiểm.
ro
Hoa Kỳ:
"Bảo
hiểm là
việc
chuyển
giao
những
rủi
ro
do các
tổn
thất
bất
ngờ và
ngẫu
nhiên
gày
ra từ người
được bảo
hiểm sang người
cho
người
bảo
hiểm khi
họ cam
kết
bổi
thường cho
nhũng
ngữ
kinh
tế,
bảo
hiểm
là
bất
cứ hình
thức
nào được sử
dụng
để
giảm
thiểu
những
mặt tiêu cực do
rủi
ro
gây
ra.
Hình
thức
thông thường
nhất
của
bảo
hiểm
là đơn bảo
hiểm
do một công
trợ
sẵn
sàng
khi
rủi
ro xảy
ra".
Tại Việt
Nam,
theo
giáo trình Bảo
hiểm
trong kinh
doanh của
Trường
Đại
học Ngoại
thương Hà
Nội:
"Bảo
hiểm
là một sự cam
kết bồi
thường của
người
bảo hiểm
đối với
người
được bảo
hiểm
tiền
gọi
là phí
bảo hiểm".
Ngoài
ra, trong
kinh
doanh bảo hiềm
người
ta
còn dùng
những
khái
niệm
như
sau:
- Kinh doanh bảo
hiềm:
là
hoạt
động
của doanh
nghiệp
bảo
hiểm
nhứm mục đích
sinh lợi
theo
đó
doanh
hoặc
bồi
thường cho
người
được bảo
hiểm
khi
xảy
ra sự
kiện
bảo
hiểm.
- Doanh
nghiệp
bảo
hiểm:
là
doanh
nghiệp
được thành
lập,
tổ chức
và
hoạt
động
theo
quy định
cữa Luật
kinh
doanh
hiểm.
Bên mua bảo
hiểm
có
thể
đồng
thời
là người
được bảo
hiểm
hay
người
thụ
hưởng.
- Người được bào
hiểm:
là
tổ chức,
cá nhân được bên mua bảo
hiểm chỉ
định để
nhận
tiền
bảo
hiểm theo
họp đồng bảo
hiểm
con
người.
- Quyền
là sự
kiện
khách
quan
do các bên
thỏa
thuận
hoặc
pháp
luật
quy
định mà
khi
sự
kiện
đó xảy
ra
thì
doanh
nghiệp
bảo
hiểm
phải trả
tiền
bảo
hiểm
cho
người thụ
hưởng
hoặc
hiểm
cữa
doanh
nghiệp
bảo
hiểm
khác để cam
kết bồi
thường cho các trách
nhiệm
đã
nhận
bảo hiểm.
- Hoạt động
đại
lý
bảo
hiểm:
là
hoạt
động
giới thiệu,
chào bán bảo
hiểm, thu
xếp
việc
giao
kết
hợp đồng bảo
hiểm
kiện
bảo
hiểm,
mức phí bảo
hiểm,
doanh
Mi QUỊ Mai
7 £áp. cành 11-X4 tnOOCQQiQ
DCltoá luân
tết
nựjiiê&
nghiệp
bảo
hiểm
và các công
việc
liên
quan
đến
việc
đàm
phán,
thu
xếp và
thực
hiện
hợp đồng bảo
hiểm
theo
yêu
hiểm phi
nhân
thọ.
Căn cứ vào
đối
tượng
bảo
hiểm
có bảo
hiểm
tài
sản,
bảo
hiểm
trách
nhiệm,
bảo
hiểm
con
người.
Theo
quy định
của
pháp
luổt
có
thể
phân
ra
bảo
sự của chủ
xe cơ
giới.
• Bảo
hiểm
trách
nhiệm
dân sự
của người vổn chuyển hang
không
đối với
hành
khách.
• Bảo
hiểm
trách
nhiệm nghề
nghiệp đối
vói
hoạt
động tư
vấn
pháp
luổt.
• Bảo
hiểm
trách
nhiệm nghề
nghiệp
của doanh
tức
là
bảo
hiểm
cho một
sự cố,
một
tai
họa,
tai
nạn xảy ra
bất ngờ, ngẫu
nhiên ngoài ý
muốn
của con
người
chứ không bảo
hiểm
cho một cái
chắc chắn
xảy
ra,
cũng
như chỉ bổi
thường
những
thiệt hại,
mất mát do
rủi
ro
thực
tế,
điều
đó có
nghĩa
là không được phép có
bất
kỳ hành
vi gian
lổn
hay
âm mưu
toan
tính
lừa
đảo
nào.
Điều
này không có
nghĩa là người
bán có bổn
Mi
Qhị
Mai 8
Móii dinh
11 X.4lD-JV7Qi&
3£hná luân Ị
tít nựỉtỉêfi
phận
phải
đưa
ra
các câu
trả
lời
trung thực.
Có
thố
nói, người
yêu cầu bảo
hiốm
là
người
biết
được
tất
cả
những
yếu tố
liên
quan
đến
"vật
dụng"
được bảo
hiốm, người
đó có trách
nhiệm
phải khai
báo
tin
mà công
ty
bảo
hiốm
cần được
cung
cấp được
gọi
là yếu
tố
quan
trọng.
Ví
dụ, đối
với
bảo
hiốm
cho một ngôi
nhà:
tuổi
của nhà,
xây
bằng
gạch
hay
gỗ,
.Chúng
ta
có
nào.
Nếu
người
yêu
cầu
bảo
hiốm
không
khai
báo
"yếu
tố
quan
trọng"
thì
công
ty
bảo
hiốm
có
thố
từ
chối bồi
thường cho
khiếu nại.
Tuy
nhiên,
một
vấn
đề mà
gian
hợp đồng có
hiệu
lực (ví
dụ là
thời
điốm
khi ta
tuyên bố
rằng
đã có một hợp đổng
hiện
hữu
giữa
người
được bảo
hiốm
và công
ty
bào
hiốm).
Khi tái tục
hợp
đồng,
người
được bảo
hiốm
cũng
phải
khai
những
tình
huống
đã
hiện
hữu
khi
ký
kết
hợp đồng.
Mi Ghi Mai
9 Móp. cành li-XềiD-DCQQƯữ
DClitìá
luân
tất
itíịhỉỀp.
Nguyên
tắc bồi
thường:
Mục đích của bảo
hiểm
là khôi
phục
vị trí tài chính ban đầu cho
người
được
bảo
hiểm
ngay
sau
Có
tặ
điển
đã định
nghĩa
tặ
"bồi
thường" là sự bảo vệ
hoặc
đảm bảo cho
thiệt
hại
hay
tổn
thất
phát
sinh
tặ
trách
nhiệm
pháp
lý.
Ý tưởng về bảo vệ và đảm
bảo
rất
phù hợp
với
những
gì
ta
ty
bảo
hiểm
sử
dụng
để
cung
cấp
khoản bồi
thường
tài chính,
với
mục đích khôi
phục
tình
trạng
tài chính ban đầu cho
người
được
bảo hiểm
sau
khi
tổn
thất
xảy
ra.
Vì
vậy, ta
có
thể kết
bổi
thường và
quyền
được bảo
hiểm.
Mối
liên
hệ
này
thể
hiện
ở
quyền
lợi
của
người
được bảo
hiểm đối với đối
tượng được bảo
hiểm.
Khi
có
khiếu
nại,
số
tiền
trả
cho
người
được bảo
sinh
mạng
hoặc
bổi
thường thương
tật
con
người
chúng
ta
không
thể
đưa
ra
số
tiền
chính xác.
Nguyên
tắc
thế quyền:
Một
điều
rất
hợp lý và công
bằng
là sau
khi
công
ty
bảo
DClitìú
tuân
lết
ttựiiĩệp
Vây,
sau
khi
thanh
toán
bồi
thường cho
khiếu
nại,
công
ty
bảo
hiểm
sẽ được
hưởng
mọi
quyền
lợi
hợp pháp
của người
được bảo
hiểm
để
giảm bớt tổn
thất.
"Thế quyền là quyền của
Nguyên
tắc
lợi
ích
bảo hiểm:
Người
được bảo
hiểm
muữn mua bảo
hiểm
phải
có
lợi
ích bảo
hiểm. Lợi
ích bảo
hiểm
có
thể
là quyền
lợi
đã có
hoặc sẽ
có
trong
đữi
tượng bảo
hiểm.
Lợi
ích bảo
đó
sẽ
được bảo đảm nếu
đữi
tượng bảo
hiểm
đó an toàn
hoặc
ngược
lại,
quyền
lọi
của người
đó sẽ bị phương
hại
nếu
đữi
tượng bảo
hiểm
đó gặp
rủi ro.
Nói cách
khác,
người
có
lợi
ích bảo
hiểm
là
người
hiểm vì
có
lợi
ích bảo
hiểm
mới được ký
kết
hợp đổng bảo
hiểm. Khi
xảy
ra tổn
thất,
người
được bảo
hiểm
đã
phải
có
lợi
ích bảo
hiểm
rồi
thì
mới được
bổi
thường.
1.1.3.
Vai
trò
của
phẩn
ổn định
kinh
tế
cho người tham
gia
bảo
hiểm
để
từ
đó khôi
phục
và phát
triển
sản
xuất,
đổng
thời
tạo nguồn
vữn cho sự phát
triển
của
đất
nước.
Có
thể nói,
xã
hội
ngày càng văn
minh
tổn
thất:
Đây là
vai
trò
quyết
định cho sự
ra đời
của bảo
hiểm.
Bồi
thường cho phép cá nhân và hộ
gia
đình khôi
phục
tình
trạng
tài chính của
mình
sau khi tổn
thất
xảy
ra.
Qua
đó,
họ có
thể
duy
trì
được
trợ
tài
chính
của
họ hàng và bạn
bè. Việc bồi
thường
đối với
các công
ty
cũng
có
vai
trò
hết sức to
lớn.
Sau
khi tổn
thất
xảy
ra,
bồi
thường cho phép các
công
ty
tiếp
tục hoạt
dộng
kinh
doanh
lại,
việc bồi
thường
thể hiện
rõ
nhất
chức
năng bảo vệ của bảo
hiểm,
đóng
góp
rất
nhiều
vào
sự
ổn định
kinh
tế
cho
các hộ
gia
đình
cũng
như
toàn
xã
hội.
Giảm bớt lo âu và sơ
hãi:
Điều
tham
gia
bảo
hiểm
dài hạn
sẽ
không
phải lo lắng nhiều
đến
thu
nhỗp
của
mình nếu không may
bị
ốm
nặng
hay gặp
tai
nạn bất
ngờ và
những
chủ tài sản
một
khi
đã
tham
gia
bảo
hiểm
tài sản của
vốn từ
các cổ đông và
người
tham
gia
bảo
hiểm.
Đầu tư là một
lĩnh
vực mà các
công
ty
bảo
hiểm
nhân
thọ rất
quan
tâm,
điều
này có được nhờ tính
chất hoạt
động
kinh
doanh
của
họ.
Các hợp đổng bảo
hiểm
nhân
thọ
£ềfi dinh 11-3C41<V-X7Ql<ĩĩ
OưtữÁ luân im nựhiêặt
thất,
hàng năm các công
ty
bảo
hiểm
nhân
thọ
luôn có
những khoản
tiền
nhàn
rỗi
rất
lớn.
Với
những khoản
tiền
nhàn
rỗi
và vốn
tự
có,
trước
kia
họ thường đẩu tư
vào trái
phiếu
chính phủ và các
đầu tư xây
dựng
và
kinh
doanh bất
động
sản,
cho các
doanh
nghiệp
vừa và nhỏ
vay,
bảo lãnh phát hành
chứng
khoán,
bảo
trợ
cho
các dự án phát
triển
sản
phẩm và công
nghệ mới.
Nhờ
những khoản
đẩu tư
của
các công
ty
bảo
tổn thất
và đổt
được
điều
này là một
lợi
ích
quan
trọng
của bảo
hiểm.
Các công
ty
bảo
hiểm
đã
tích cực
tham
gia
vào các chương
trinh
đề phòng và hổn
chế
tổn
thất.
Họ
cũng
sử
dụng
một
thường
hay
tham
gia
như:
an toàn cho
đường
cao
tốc,
giảm
tai
nổn
chết
người,
ngăn
ngừa
hoa
hoổn,
giâm các
bệnh nghề
nghiệp,
chống
mất cắp ô
tô,
ngăn
ngừa
và bảo vệ
những
tổn thất
do phá
mang
lổi lợi
ích
cho
toàn xã
hội.
Đẩy manh
tín
dung: bảo
hiểm
là một công cụ hữu
hiệu
của các
tổ chức
tín
dụng
trong việc
hổn
chế
rủi
ro thu hồi
các
khoản
nợ thông qua
việc
yêu cấu
người
đi vay
tham
gia
chấp
bị phá huy
hoặc
Mi Qkị Mu!
13
£ẻn
dinh 11-OC41<V-JC&QIQ
~Kíioá
luân
iồt
tụậhitp.
người
đi vay
chết
hoặc
bị thương
tật
không có khả nàng
thanh
toán nợ
thì
các
tổ
chức
tín
dụng
vẫn có
thể thu hổi
nợ trên cơ sở
bổi
tài sản
này.
1.2.
Những cam
kết
về
dịch
vụ bảo
hiếm
trong
hiữp
định thương mại
Viữt
Nam
-
Hoa Kỳ:
1.2.1.
Khái quát
về Hiữp
định
BTA:
Sau
4 năm tích cực đàm
phán,
ngày
13/07/2000,
tại
Washington,
Bộ trưởng
Bộ thương mại
kinh
tế
thương mại
giữa
hai
nước,
tạo
tiền
đề cho
những
bước hợp
tác
sâu
rộng
hơn
trong
quan
hữ
song
phương
hai
nước.
Hiữp
định BTA có
hiữu
lực từ
ngày 10 tháng 12
năm
2001. Hiữp
định BTA được
kết Hiữp
định BTA là dấu
hiữu
cho
thấy
Viữt
Nam đang
phải đối
mặt
với
những
tiêu
chuẩn
cao
bất
thường của
WTO
nhung
thực
tế
điều
này hoàn toàn không
đúng.
Hiữp
định BTA
thực
sự có ý
nghĩa
to lớn đối với
Viữt
Viữt
Nam mà không có
Hiữp
định thương mại
song
phương.
Mĩ QhỊ Mai 14
jẼấỊi dính 11-DC41D-3CQQI<3
DOtoá luận
tát
nghiện
Mục đích
của Hiệp
định BTA này
là
đảm bảo cho
những
luật
lệ
thương mại được
rõ
ràng,
kích thích và làm
gia
tăng thương
mại,
giúp
Việt
Nam
hội
vụ nói
chung
và
dịch
vụ bảo
hiểm
nói
riêng,
gặn
giống
vói
nại
dung
Hiệp
định
của
WTO mà
Việt
Nam đang
tiến
hành đàm phán để
xin gia
nhập.
Chính vì
vậy, nhiều
nhà nghiên cứu cho
rằng
ký được
Hiệp
định BTA là
vị thế của
Việt
Nam trên trường Quốc
tế
được nâng
cao
mà còn có
thể
có được
nhiều
ảnh hưởng
từ
các
tổ
chức
quốc
tế
nói
trên
trong
quá trình phát
triển
kinh tế.
Thứ ba,
Hoa Kỳ là một
thị
trường
rộng lớn với
dân số đứng
thứ
Nam.Với nguyên
tắc Tối
huệ
quốc
(MFN) và nguyên
tắc
Đối
xử
quốc
gia (NT), Hiệp
định sẽ
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
doanh
nghiệp
Việt
Nam mở
rộng
thị
trường,
đẩy
mạnh
xuất
khẩu
sang
Hoa Kỳ.
kiện
cho các
doanh
nghiệp thuộc
mọi thành
phặn
kinh
tế
kinh
doanh
một
cách bình
đẳng.
Hơn
nữa,
các nhà đặu tư
hoạt
động
tại
Việt
Nam sẽ có một
thị
trường
thuận
lợi
hơn
với
mức
thuế
ưu dãi
tạo
thêm công ăn
việc
làm,
tăng
thu
nhập
cho
người
dân và xã
hội
mà còn
thu
lợi
lâu dài và căn bản là có cơ
hội tiếp
cận
với
kỹ
thuật,
công
nghệ
tiên
tiến,
kinh
nghiệm,
phương
thức
quản
lý
sọ nét chung
vé
Hiệp
đinh BTA :
Hiệp
định thương mại
Việt
Nam - Hoa Kỳ được đàm phán, ký
kết
cơ bản
dựa
trên
những
nguyên
tắc,
quy định
của
Tổ
chức
thương mại
thế
giới
(WTO) và
trong
đó có
nhiều
quy phạm pháp lý và kỹ
thuật
còn mới mẻ
đọi với Việt
thương
mại
hàng
hoa,
sở hữu
trí
tuệ,
thương mại
dịch vụ,
đầu
tư, tạo
thuận
lợi
cho
kinh
doanh
và tính
minh bạch
công
khai.
Đó là
hiệp
định toàn
diện
nhất
mà
Việt
Nam
từng
ký
đề cập
tới
4
nội
dung
chủ
yếu:
thương mại hàng
hoa,
thương mại
dịch
vụ,
sở hữu
trí tuệ
và
quan
hệ đẩu tư.
Mở đẩu
hiệp
định là cam
kết
chung
của Chính phủ 2 nước
Việt
Nam, Hoa
Kỳ
mong
muọn
thiết
lập
những
vấn đề chủ yếu
sau:
Quy
chế tôi
huệ
quọc
và không
phân
biệt
đọi
xử;
đọi
xử
quọc
gia;
những nghĩa
vụ
chung
về thương
mại;
mở
rộng
£i Ghi Mai
16
£ên
dính 11-OC4 iDDCdQlCý
~KÍIOÍI
luật! tết nụhỉep
và thúc đẩy thương
quyền
sở
hữu
trí
tuệ,
gồm có 18
điều,
trong
đó
hai
bên cam két
bảo
vệ
quyền
sở hữu trí tuệ của
công dân nước
kia
không kém sự bảo hộ mà công
dân nước đó đang được
hưởng
mà không yêu cổu công dan nước đó tuân
thủ bất
kỳ thủ tục nào.
Chương 3 về thương mại
dịch
vụ,
gồm 11
điều
và các phụ
lục F,
Phụ
lục
G đi kèm
Hiệp
định còn nêu cụ
thể
những
cam
kết
của
Việt
Nam
cho
các công
ty
dịch
vụ của Hoa Kỳ vào
hoạt
động
theo
lộ
trình và
nhũng
giới
hạn Việt
Nam
đặt ra đối với
các
loại
hình đổu
trong
nước hay dự án của nước
thứ
3 trên lãnh
thổ
của
mình,
tuy
thuộc
vào cái nào
thuận
lợi
hơn. Cam
kết
như
vậy
có
nghĩa
là các dự án đổu tư
của
Hoa Kỳ
cũng
chỉ
cẩn đăng ký thành
lập
mà
không cổn
xin giấy
phép đổu tư
chẳng
lượng
nguyên
tử,
dịch
vụ
tài
chính.
Các bức thư
giữa
Bộ trưởng thương mại
Việt
Nam, ông Vũ
Khoan,
và
Đại
diện
thương mại
thuộc
p
ỊÍr-Tơng
Ihối
THÍT
VIÊN
•° .r.iu.'"HÓC
-
ti
TNCC\Ổ
IM.
Min*
ig
bao gồm 3 điều
khoản
chủ yếu
đề cập
tới
những
cam
kết của hai
bên
tạo
thuận
lợi
cho
hoạt
động
kinh
doanh
của
các
doanh
nghiệp
hai
nước.
Chuông 6 về các quy định liên
quan
đến tính
minh
bạch,
công
khai
như
trách
nhiệm
công bổ
của
các bên mỗi
khi
có sự
thay đổi
về
luật
pháp,
quy định
ảnh
hưởng đến
hoạt
động của các
doanh
nghiệp.
Việc
công bổ
phải
được
thực
hiện
trước
khi thay đổi
có
hiệu lực.
Đổng
hành chính liên
quan
đến
hoạt
động
của họ.
Chương 7 về
những
điều
khoản
chung
gồm 8 điều
khoản
quy định về
giao
dịch
và
chuyển
tiền
qua biên
giới;
an
ninh
quổc
gia;
các
ngoại lệ
chung;
thuế;
tham
cam
kết
về dịch vụ bảo hiểm
trong
Hiệp
định
BTA:
Những cam
kết
về thương mại
dịch
vụ
trong
BTA nói
chung
và
dịch
vụ bảo
hiểm
nói riêng đều dựa trên
tinh
thẩn của
GATS
và được quy định
tại
Chương HI
và phụ
lục
G. Những nguyên
tắc
vụ đề cập
trong
Hiệp
định,
tiếp
cận
thị
trường cũng
được áp
dụng
đổi với
dịch
vụ bảo
hiểm.
Lộ trình
Mĩ QUỊ Mai
18 MáỊt cành 11 3C41<V-XJQl&
3Chơá
luận
tót
ntfiiiệfL
cam
kết
cụ
thể
về
dịch
vụ bảo
hiểm
được nêu
trình như
trong
Hiệp
định
chung
về Thương mại và Dịch vụ
của
WTO
(GATS). Điều
này
tạo
thuận
lợi
cho
Việt
Nam
trong
tiến
trình đàm
phán để
gia
nhập
WTO.
Cụ
thể, việc
đối
xử
với
các nhà
cung cồp dịch
Nguyên
tắc đối
xử
Tối
huê QUỐC (MFN1: được quy định
tại
điều
2
chương
IU.
Việt
Nam và Hoa Kỳ đồng ý dành
đối
xử
Tối
huệ
quốc
cho
dịch
vụ
và nhà
cung
cồp của
nhau.
Hai bên cam
kết:
"Mỗi bên dành
ngay
lập
tức
khác".
Nghĩa vụ này áp
dụng
cho
tồt
cả các
ngành
dịch
vụ bao gồm cả
dịch
vụ bảo
hiểm
và
tồt
cả các hình
thức
cung
cồp,
trừ
nhũng
trường hợp mà một Bên
coi
là
ngoại
lệ.
Những
ngoại lệ
này được
liệt
kê
kết
về
lĩnh
vực
dịch
vụ bảo
hiểm
đã được xác định
trong
Lộ trình của mình,
phải
dành
đối
xử
quốc
gia
cho các nhà
cung cồp dịch
vụ bảo
hiểm cua
Bên
kia.
Điều
này có
nghĩa
là các Bên đổng ý dành cho các
dịch
vụ bảo
hiểm
của Bên
hiểm
Ị
Nguyên
tắc
này yêu
câu các Bên đưa
ra
cam
kết
cụ
thể
về
biện
pháp mở
cửa
thị
trường bảo
hiểm,
xoa
Mĩ Ghì Mai
19
Mêp.cAnh11-JC4inữ-OCQQLQ
Jơioá luật!
lối
nụhìỀặi
bỏ
dần rào cản
thể
chế,
quy định của pháp
hạn
chế về
mở cửa
thị
trưống
bảo
hiểm
cho nhà
cung
cấp
dicchj
vụ bảo
hiểm
Hoa Kỳ. Lộ trình cam
kết
cụ thể
này là bộ
phận
không tách
rối
Hiệp
định và các bên có
nghĩa
vụ
thực
hiện
lộ
trình đó.
1,2.2,4.
Nguyên
các văn bản pháp
luật
kể cả các
điều
ước
quốc
tế
mà
hai
bên đã
tham
gia.
- Mỗi bên có
nghĩa
vụ
cung
cấp thông
tin
theo
đề
nghị
của của phía bên
kia
nhưng
những
thông
tin
đó không được liên
quan
đến bí mật
thực
hiện
minh bạch hoa.
Ị
.2.2.5.
Những cam
kết
cu
thể
của
Việt
Nam và Hoa Kỳ :
Theo
Hiệp
định BTA,
Việt
Nam cam
kết
mở cửa cho các
dịch
vụ bảo
hiểm
sau:
Bảo
hiểm
nhân
thọ
và
tai
nạn
dịch
vụ kể
trên,
cam
kết
giữa
Việt
Nam và Hoa Kỳ
đối
với
hoạt
động bảo
hiểm
có
thể
được tóm
tắt
như
sau:
Mi QUỊ Mai
20
j£é
t
i dinh 11-3C4in0-JV7Ql<7