Lời nói đầu :
Cácdoanh nghiệp tồn tại trong thị trường cạnh tranh phải có những vị trí nhất định ,
chiếm lĩnh những thị phần nhất định . Đây là điều kiện duy nhất duy trì sự tồn tại của
doanh nghiệp đó trong thị trường . Sự tồn tại của doanh nghiệp luôn bị các đối thủ khác
bao vây .Vì vậy để tồn tại các doanh nghiệp phải vận động và biến đổi ít nhất là ngang
bằng với đố thủ cạnh tranh .
Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO thì các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt
với rất nhiều thách thức . Ngành bán lẻ Việt Nam là một trong những ngành mở cửa đầu
tiên theo lộ trình gia nhập WTO , vì vậy phát triển ngành là hết sức quan trọng và có ý
nghĩa sống còn với các doanh nghiệp .
Bài viết của tôi chỉ tập trung nói về những cơ hội và thách thức của ngành bán lẻ Việt
Nam trước ngưỡng của WTO .Bài viết gồm nhưng phần chính sau :(Trang)
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tiến trình đàm phán gia nhập của Việt Nam(1)
Môi trường kinh doanh ở Việt Nam nhìn từ 10 tiêu chí (4)
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM (8)
phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam (13)
Định vị ngành bán lẻ Việt Nam(19)
Bán lẻ Việt Nam: Bắt tay hay sống lay lắt? (21)
Thị trường bán lẻ đang hấp đẫn (23)
Thấy gì từ thị trường bán lẻ Việt Nam ?(26
Định hướng thương hiệu cho ngành bán lẻ Việt Nam (30)
Cạnh tranh với các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài: Cần chuyên nghiệp hóa kênh phân
phối hàng hóa (35)
1
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tiến trình đàm phán
gia nhập của Việt Nam
I. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) ra đời ngày 1/1/1995. Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về
Thương mại và Thuế quan (GATT), thành lập 1947. Trong gần 50 năm hoạt
động, GATT là công cụ chính của các nước công nghiệp phát triển nhằm
điều tiết thương mại hàng hóa của thế giới…
ngoài - tất cả phải được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia - NT);
- Thúc đẩy thương mại tự do hơn (thông qua thương lượng loại bỏ các hàng rào cản thuế
quan và phi thuế quan);
- Đảm bảo tính ổn định/tiên đoán được bằng các cam kết minh bạch hoá (các công ty, các
nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài phải được đảm bảo rằng, các rào cản thương mại, kể
cả thuế, các rào cản phi quan thuế và các biện pháp khác, không được nâng lên một cách
độc đoán; ngày càng có nhiều mức thuế và cam kết mở cửa thị trường mang tính ràng
buộc tại WTO);
- Thúc đẩy cạnh tranh công bằng (bằng cách loại bỏ các hoạt động mang tính "không
công bằng" như trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá nhằm tranh giành thị
phần);
- Khuyến khích cải cách và phát triển kinh tế: Các nước đang phát triển chiếm ¾ thành
viên của WTO. WTO có các qui định dành cho các nước này nhiều thời gian hơn, điều
kiện linh hoạt hơn và một số ưu đãi đặc biệt hơn để điều chỉnh nền kinh tế trong quá trình
thực hiện các cam kết tự do hoá của mình. Tuy nhiên, việc chiếu cố này không phải mặc
nhiên, mà có được là trên cơ sở đàm phán với các thành viên WTO.
II. Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam
Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO tháng 1/1995. Năm 1996, tại WTO, Nhóm
Công tác (WP) về Việt Nam gia nhập WTO được thành lập với sự tham gia của trên 20
nước (hiện nay con số này là gần 40). Từ năm 1996 đến 2001, đàm phán tập trung chủ
yếu vào việc làm rõ chế độ và chính sách thương mại của ta, với việc ta phải trả lời hơn
2000 câu hỏi có liên quan đến chính sách thương mại, kinh tế, đầu tư.
Đến tháng 8/2001, ta chính thức đưa ra Bản chào ban đầu về hàng hóa và dịch vụ
(Ininitial Offer) để bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các
nước thành viên Ban Công tác.
Về đàm phán song phương: Với việc ta và Hoa Kỳ ký thỏa thuận chính thức kết thúc
đàm phán song phương về gia nhập WTO của Việt Nam (TP Hồ Chí Minh, ngày
31/5/2006), ta đã chính thức hoàn tất đàm phán với toàn bộ 28 đối tác yêu cầu đàm phán
với ta. Ta đang tích cực vận động Quốc hội Hoa Kỳ sớm thông qua quy chế thương mại
bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam.
nghiệp. Mỗi tiêu chí được đánh giá theo một số chỉ số và so sánh với các quốc gia khác
để xếp hạng
Tính tổng thể, Việt Nam xếp hạng 91 trong 187 nền kinh tế được khảo sát và thăng
hạng 13 bậc so với xếp hạng năm trước. Trong 10 tiêu chí xếp hạng chỉ có 5 tiêu chí có
thứ hạng cao hơn năm ngoái; một tiêu chí không đổi và 4 tiêu chí còn lại đều tụt hạng.
Tiêu chí 1: Thành lập doanh nghiệp
4
Để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50
ngày và một khoản chi phí tương đương với 20% thu nhập bình quân đầu người.
Tuy nhiên, Việt Nam đã tiến hành một số cải cách nhằm giảm thời gian thành lập
doanh nghiệp ở Việt Nam nhưng chưa được báo cáo cập nhật. Luật doanh nghiệp mới có
hiệu lực tháng 7/2006 giảm số ngày cấp phép đăng ký kinh doanh ở Việt Nam nhưng cải
cách này chưa được phản ánh trong chỉ số tương ứng của Việt Nam năm nay.
Việc thực hiện quy trình một cửa tiến hành tháng 3/2007 với 3 bước chính trong thủ
tục thành lập doanh nghiệp là giấy đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế, và giấy phép
khắc dấu cũng chưa được đưa vào báo cáo năm nay. Vì vậy, chỉ số “Thời gian thành lập
doanh nghiệp của Việt Nam” vẫn giữ nguyên 50 ngày như năm ngoái. So với năm ngoái,
vị trí của Việt Nam không thay đổi vẫn ở hạng 97.
Tiêu chí 2: Cấp giấy phép
Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép hoạt động kinh
doanh trong ngành xây dựng ở Việt Nam tương đối cao so với các nước trong khu vực.
Nhà đầu tư mất 14 bước thủ tục, 194 ngày và 373,6% thu nhập bình quân đầu người,
trong khi mức bình quân toàn khu vực là 185% mức thu nhập bình quân; thậm chí nước
láng giềng Thái Lan chỉ là 10,7%.
Bức tranh về giấy phép ở Việt Nam đã tụt 38 bậc từ hạng 25 xuống hạng 63. Tuy
nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đây là thứ hạng trung thực hơn so với
năm ngoái bởi vì vấn đề giấy phép trên thực tế vẫn đang đặt ra nhiều khó khăn cho Việt
Nam hiện nay
Tiêu chí 3: Tuyển dụng và sa thải lao động
Những khó khăn khi thuê mướn và sa thải công nhân, tập trung ở 6 yếu tố: độ khó khi
Tiêu chí 6: Bảo vệ nhà đầu tư
Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số này. Tiêu chí 6
xem xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh bạch trong giao dịch, trách
nhiệm pháp lý của giám đốc và khả năng của cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai
trái.
Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt 2,7/10. Chỉ số về trách nhiệm của giám đốc nằm trong
nhóm thấp nhất thế giới (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp
(2/10 và 6/10). Năm nay, thứ hạng của tiêu chí này là 165/178.
Tiêu chí 7: Đóng thuế
Theo báo cáo, các doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm tiêu tốn nhiều thời gian nhất để
đáp ứng các yêu cầu về thuế. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều thời gian của
doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050
6
giờ làm việc trong khi ở Indonesia là 266 giờ làm việc.
Tiêu chí 8: Thương mại quốc tế
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và thủ tục
đã giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có
sáu loại hồ sơ, mất 24 ngày và tốn 669 USD. Trong khi đó, Trung Quốc chi phí thời gian
không thấp hơn Việt Nam là 21 ngày nhưng chi phí tiền bạc lại thấp hơn đáng kể, chỉ 390
USD.
Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có 8 loại hồ sơ, mất 23 ngày
và 881 USD. Việc phải chịu chi phí cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực đang
gây ảnh hưởng không nhỏ cho tính cạnh tranh của Việt Nam. Năm nay, Việt Nam xếp
hạng trung bình 63/178.
Tiêu chí 9: Thực thi hợp đồng
Ở Việt Nam, doanh nghiệp chỉ phải trải qua 34 bước thủ tục tốn 295 ngày và 31% giá
trị món nợ là hợp đồng được thi hành. Với các chỉ số này năm nay Việt Nam đang ở vị trí
40/178. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, Việt Nam không nên quá lạc quan về vị trí
này bởi vì thực tế việc chấp hành thực thi các phán quyết của toà án vẫn chưa ổn, đặc biệt
trong lĩnh vực ngân hàng, việc thu hồi nợ quá hạn đang là khó khăn lớn.
Việt Nam cũng đang tiến hành đàm phán về mở cửa thị trường phân phối trong khuôn
khổ đàm phán gia nhập WTO và trong 1-2 năm tới, nước ta cũng sẽ tham gia đàm phán
về dịch vụ phân phối trong khuôn khổ các Khu vực mậu dịch tự do ASEAN với các đối
tác (ASEAN Cộng).
Phạm vi cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA) (có hiệu lực từ ngày
10/12/2001) về dịch vụ phân phối bao gồm 4 phân ngành chính của dịch vụ phân phối là
bán buôn, bán lẻ, đại lý và nhượng quyền thương mại.
Trong BTA, Việt Nam không cam kết về việc pháp nhân Mỹ được mở đại lý phân
phối, dịch vụ nhượng quyền thương mại thực hiện cam kết theo tiến trình xây dựng pháp
luật và quy định về nhượng quyền thương mại trong nước.
Phương thức: Không cam kết Phương thức 1 (đồng nghĩa với việc kiểm soát phân phối
theo đơn đặt hàng qua mạng) và 4 (không cam kết về việc công dân Mỹ vào Việt Nam để
phân phối hàng độc lập). Không hạn chế Phương thức 2. Phương thức 3 có 3 mốc quan
trọng:
10/12/2004: Cho phép thành lập liên doanh với vốn góp không vượt quá 49%
10/12/2007: Cho phép thành lập liên doanh với vốn góp trên 49% nhưng chưa được
100%.
10/12/2008: Cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Việc mở thêm
điểm bán lẻ ngoài điểm bán lẻ đầu tiên sẽ được xem xét cấp phép trên cơ sở từng trường
hợp.
Đến thời điểm này, có thể nói mức độ cam kết về dịch vụ phân phối dành cho các nhà
đầu tư Nhật Bản trong Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt-Nhật của nước ta là cao
nhất, thậm chí còn cao hơn cam kết trong BTA. 3 mức vốn cam kết là 49%, hơn 49% và
100% sẽ được cho phép vào thời điểm Việt Nam cho phép bất kỳ nhà đầu tư của nước
thứ 3 nào hoặc thời điểm cam kết của Việt Nam với bất kỳ nước thứ 3 nào có hiệu lực,
tùy thời điểm nào diễn ra trước. Điều này đồng nghĩa với việc các nhà phân phối Nhật
hiện nay được phép vào Việt Nam với sự đối xử tương đương như với các Tập đoàn
8
phân phối Pháp, Đức, Malaysia đã vào Việt Nam. Danh mục loại trừ bao gồm dầu mỏ,
sản phẩm dầu mỏ, khí đốt, phân bón, thuốc trừ sâu, bia, rượu, thuốc lá điếu và xì gà,
hình thức khuyến mãi. Số lượng các điểm phân phối nhỏ lẻ sẽ giảm dần và được thay thế
bằng các hình thức phân phối mới như siêu thị, trung tâm thương mại. Một câu hỏi được
đặt ra về sự tồn tại của các chợ, cửa hàng quy mô nhỏ bán hàng tiêu dùng nội địa. Tuy
nhiên, trong vòng 10 năm tới, hình thức phân phối nhỏ lẻ vẫn giữ được vai trò của mình
ngay cả trong các thành phố lớn do tập quán tiêu dùng của người Việt Nam và vị trí nằm
sát khu vực có nhiều dân cư sinh sống do đó có thể bán hàng trực tiếp cho các hộ tiêu
dùng.
Phân phối qua mạng cũng đang thu hút được sự quan tâm vì những tiện ích đáng kể
9
của nó. Hiện nay ở Việt Nam đang có một làn sóng phân phối trực tuyến vừa chính thức
vừa ngầm nhưng rất mạnh mẽ, có vô số trang web tiếng Việt khác nhau thực hiện các
giao dịch trên mạng.
Nhượng quyền thương mại (franchising) cũng có nhiều tiềm năng phát triển với Trung
Nguyên và Kinh Đô là 2 nhà tiên phong, mặc dù các nhà kinh doanh trong nước cũng
chưa nhận thức được đầy đủ tính hai mặt của hình thức phân phối này.
Nhìn chung, đối với những loại hình phân phối hiện đại, hiển nhiên đây là một thế
mạnh của các nhà phân phối nước ngoài. Gần đây, tuy các nhà phân phối Việt Nam có
nhiều động thái củng cố lại hệ thống của mình để chống lại áp lực cạnh tranh từ các nhà
phân phối nước ngoài, nhưng đây có thể là một cuộc đua không cân sức vì các tập đoàn
phân phối nước ngoài đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường các
nước đang phát triển, nguồn vốn rất lớn; họ lại tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị
trường, tổ chức kinh doanh, thậm chí vận động hành lang rất bài bản và đưa ra giá bán
buôn thấp hơn nhiều so với các nhà bán buôn trong nước, các dịch vụ bán hàng thuận
tiện và các chương trình khuyến mại hấp dẫn.
Việc thu hút số lượng lớn các khách hàng của các siêu thị và trung tâm thương mại có
thể dẫn đến tình trạng phá sản dây chuyền của hàng triệu hộ cá thể buôn bán nhỏ lẻ, đe
dọa đời sống của người dân. Sự mở rộng của hệ thống các siêu thị có thể dẫn tới các vấn
đề về môi trường vì siêu thị là nơi tập trung các phương tiện đi lại của người dân nhất là
vào các dịp cuối tuần. Sự phụ thuộc vào các Tập đoàn phân phối nước ngoài cũng có thể
sẽ phải trả một giá đắt vì nó đe dọa cuộc sống của người nông dân và các hộ buôn bán
Có thể nói, ngành phân phối là ngành rất nhạy cảm trong nền kinh tế nước ta vì nó ảnh
hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người bán hàng và hàng chục triệu người tiêu dùng,
đặc biệt là hệ thống phân phối của một số mặt hàng thiết yếu. Ngay cả một số quốc gia
có trình độ phát triển kinh tế cao như Nhật Bản, Ấn Độ cũng có xu hướng bảo hộ ngành
phân phối của mình rất chặt chẽ. Ví dụ, hệ thống phân phối ở Nhật Bản được tổ chức
theo kiểu khép kín giữa nhà sản xuất và các nhà bán buôn bán lẻ và có xu hướng bài
ngoại, hàng hóa Nhật Bản xuất hiện khắp nơi trên thế giới nhưng hàng của các nước
khác rất khó khăn để có thể len chân vào hệ thống phân phối của Nhật Bản. Mô hình
quản lý hệ thống phân phối của các nước này có những ưu điểm mà ta có thể học tập vận
dụng một cách chọn lọc.
Ở trong nước, tốc độ tăng chóng mặt của chỉ số giá tiêu dùng kể từ đầu năm 2004 đến
nay do có “đóng góp” của các “dịch sốt giá” của các mặt hàng nhạy cảm như thép xây
dựng, xi măng, dược phẩm, thực phẩm đã đánh động các cơ quan chức năng cũng như
Chính phủ. Các Bộ chuyên ngành, các Tổng công ty đã có nhiều động thái tích cực để
xốc lại hệ thống phân phối nhằm bình ổn giá. Gần đây, Chính phủ còn có những biện
pháp mạnh, kể cả đưa ra chế tài kỷ luật Lãnh đạo các Tổng Công ty phụ trách các mặt
hàng thiết yếu, nhưng đây mới chỉ là các biện pháp tình thế vì chính các Tổng Công ty
này cũng chưa thể kiểm soát được hệ thống phân phối của mình. Bộ Thương mại cũng đã
tổ chức một số hội thảo, tọa đàm nhằm tìm biện pháp tổ chức lại hệ thống phân phối
trong nước, tuy nhiên kết quả đạt được chưa rõ. Trên nguyên tắc, trong nền kinh tế hàng
hóa, Nhà nước không thể quản lý hệ thống phân phối bằng các mệnh lệnh hành chính.
Trước mắt, các cơ quan quản lý Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý công bằng,
tạo điều kiện cho các nhà phân phối thuộc mọi thành phần kinh tế (trong đó có tư nhân
và đầu tư nước ngoài) hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tránh tình trạng xuất hiện
những nhà phân phối độc quyền cả trong nước và nước ngoài thao túng, lũng đoạn thị
trường. Ngoài ra, Nhà nước cũng cần có một số ưu đãi về cho thuê đất, thuế để hỗ trợ
cho các nhà phân phối trong nước, nắm cổ phần chi phối trong hệ thống phân phối của
các mặt hàng thiết yếu với đời sống xã hội như xi măng, sắt thép, xăng dầu, dược
phẩm, Các doanh nghiệp vừa nhỏ vốn chiếm đa số trong số các doanh nghiệp nước ta
cần hoạch định chính sách phân phối tự chủ, không nên chỉ phụ thuộc vào một nhà phân
đại hóa hệ thống của các nhà phân phối nước ngoài để tự củng cố hệ thống của mình.
Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ những cải cách này. Trước mắt, các
Tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ tập trung vào mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ,
nhưng dân dần họ sẽ mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh
doanh bán hàng qua catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao hàng tận nhà
Các hình thức này sẽ được du nhập, từng bước hình thành và phát triển ở nước ta. Các
công ty sản xuất trong nước, đặc biệt là các công ty sản xuất và xuất khẩu nông thủy sản
sẽ phân phối qua thị trường nước ngoài dưới các hình thức mới như hợp đồng kỳ hạn,
hợp đồng tương lai, hợp đồng chọn
Tóm lại, hệ thống phân phối ở nước ta đang chuyển mình theo hướng hiện đại hóa
nhưng vẫn còn mang nặng đặc điểm của một nền thương nghiệp quy mô nhỏ. Cùng với
quá trình thực hiện các cam kết quốc tế và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, trên
“sân chơi” sẽ xuất hiện nhiều “gã khổng lồ” đến từ nước ngoài, các loại hình phân phối
cũng sẽ phát triển đa dạng. Trong bối cảnh đó, yếu tố sống còn quyết định sự tồn tại của
hệ thống phân phối quốc gia là ý thức liên kết của các doanh nghiệp và vai trò hỗ trợ của
Nhà nước. Sự liên kết giữa các nhà sản xuất, các nhà phân phối trong nước cộng với ý
12
thức thay đổi trong phương thức kinh doanh tập hợp thành một khối, đủ sức làm đối
trọng với các nhà phân phối nước ngoài. Nhà nước bên cạnh việc tìm biện pháp tổ chức
lại hệ thống phân phối bán lẻ, cần phải có những quyết sách ưu đãi về đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng, tập hợp các nguồn lực nhỏ lẻ thành hệ thống nhất quán, có chiều sâu.
Nhưng hơn hết, Nhà nước cần phải khẳng định vai trò điều tiết thị trường theo hướng
lành mạnh hóa, tạo sân chơi bình đẳng cho các nhà phân phối không phân biệt thành
phần kinh tế, đồng thời nắm các nhà phân phối lớn để có thể chủ động trước những biến
động của thị trường.
/>%20phan%20phoi%20o%20VN.doc
Phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam
Một loạt sự kiện trong nước và thế giới đang diễn ra khẳng định một điều: người
bán lẻ, người tiêu dùng Việt Nam đang là tâm điểm của thế giới kinh doanh hiện
nay. Nhiều nhà đầu tư đang nhắm đến Việt Nam…
4/2006, người tiêu dùng hiện nay cân nhắc kỹ trong việc chọn một nơi mua phù hợp. Về
kênh bán lẻ, các siêu thị, cửa hàng chuyên, đại lý trở thành các kênh phân phối được đa
số người tiêu dùng lựa chọn.
Tăng tốc
Các doanh nghiệp phân phối trong nước cũng không ngừng tăng tốc mở thêm nhiều
siêu thị mới. Đến nay cả nước đã có 160 siêu thị và 32 trung tâm thương mại. Ông Ngô
Văn Hải, phó giám đốc Công ty TNHH Đông Hưng, cho rằng việc “bùng nổ” hàng loạt
siêu thị mới không chỉ ở các trung tâm thành phố lớn, mà còn lan rộng các tỉnh, thành.
“Chúng tôi buộc phải chạy đua với thời gian, tìm chỗ “dừng chân” thích hợp trước thời
điểm Chính phủ cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền mở siêu
thị, trung tâm phân phối”, ông Hải nói.
Gần đây Saigon Co-op cùng ba doanh nghiệp trong nước là Tổng công ty Thương mại
Hà Nội (HAPRO), Tổng công ty Thương mại Sài Gòn và Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú
Thái đã sáng lập Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam
(VDA) nhằm nâng cao sức cạnh tranh của Saigon Co-op.
Hiện VDA đang khảo sát mặt bằng, triển khai các dự án đầu tư theo kế hoạch, liên hệ
các địa phương xin quy hoạch và tìm địa điểm xây dựng trung tâm thương mại và nhà
kho để không bị chậm chân.
Triển vọng của ngành bán lẻ rất lớn nhưng bài toán cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt.
Nâng cao chất lượng phục vụ, áp dụng công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại, hiệu quả
để giảm chi phí vẫn là những bài toán khó cho các doanh nghiệp Việt Nam. (Vneconomy,
24/7/2007. Nguồn Sài Gòn tiếp thị)
14
Có nhiều ý kiến cho rằng, ngoại trừ hệ thống phân phối xăng
dầu đã được các bộ, ngành và doanh nghiệp triển khai khá tốt,
thì các ngành hàng còn lại và ngay cả một thị trường bán lẻ
rộng lớn, cho đến thời điểm này vẫn còn lúng túng khi bước
vào một sân chơi mới.
Phát triển tự phát, thiếu ổn định
Theo số liệu của Bộ Thương mại, tính đến cuối năm 2005, cả nước có 9.063 chợ ở nông
hỏi rất cao trong kênh phân phối hiện đại. Nói cách khác, làm việc không chuyên nghiệp
thì sẽ không đạt hiệu quả cao. Bài học từ một số trung tâm thương mại của TP bị chết yểu
như Nhật Nam, Trung tâm thương mại Sài Gòn Tourist đã minh chứng rất rõđiều này.
Nhìn vào thực trạng của ngành bán lẻ của VN hiện nay, nhiều chuyên gia cũng
nhưcácDN đều có chung nhận xét: nhỏ bé, phát triển tự phát và thiếu tính ổn định.
Choáng vì tốc độ cấp phép :
Trong khi thị trường phân phối trong nước còn bộc lộ khá nhiều yếu kém thì các tập
đoàn nước ngoài mạnh về tài chính, dày dạn về kinh nghiệm quản lý đã bắt đầu đổ bộ vào
VN. Chỉ trong tuần đầu tiên của tháng 6-2006, Bourbon đã nhận giấy phép mở rộng
mạng lưới kinh doanh, Dairy Farm được Chính phủ bật đèn xanh để thành lập công ty
100% vốn nước ngoài xây dựng một hệ thống siêu thị và cửa hàng tại VN .
Hàng loạt tập đoàn được phép đổ vốn vào VN cũng đang rốt ráo triển khai kế hoạch
xây dựng những điểm bán mới như Metro Cash&Carry, Big C Sắp tới chắc chắn sẽ là
người khổng lồ Wall Mart. Mặc dù chưa có số liệu chính thức về số liệu các tập đoàn
nước ngoài đã có mặt tại VN là bao nhiêu và hiện có bao nhiêu hồ sơ đang nằm trên bàn
của các bộ, ngành nhưng với những siêu thị và trung tâm thương mại đang hiện hữu thì
số DN có vốn đầu tư nước ngoài đã vượt qua 2 con số. Thêm vào đó, mới đây, Công ty
Đông Hưng đã tuyên bố sẽ bán bớt một siêu thị Citimart cho một tập đoàn đaquốcgia
càng làm cho các DN bán lẻ lên ruột!
Giám đốc một công ty thương mại tại Hà Nội cho biết, cứ mỗi lần nghe Chính phủ cho
phép các tập đoàn nước ngoài mở rộng địa bàn kinh doanh hoặc được cấp phép mới là
ông lại bị choáng! Theo lý giải của vị giám đốc này, trước đây trong sản xuất, nhà nước
đã có giai đoạn bảo hộ các DN trong nước đủ sức mạnh so với các nước trong khu vực,
sau đó mới thực hiện mở cửa.
So với sản xuất thì hệ thống phân phối quan trọng hơn rất nhiều bởi nó có đủ sức mạnh
để quyết định tới việc các DN phải sản xuất mặt hàng nào. Còn trong thời điểm hiện nay
và với tốc độ cấp phép như thế này thì cứ mở cửa là hệ thống phân phối phải cạnh tranh,
phải đối mặt ngay trong khi lực của chúng ta còn rất yếu. Cứ như thế này thì nhiều DN
16
trong nước sẽ chết ngay lập tức - vị giám đốc này bức xúc.
nhưng Nhà nước cần nghiên cứu kỹ liều lượng và phân vùng quy hoạch để DN trong
nước có thời gian chuẩn bị.
Để các DN trong nước có thêm thời gian chuẩn bị bước vào cuộc chơi mới, ngay từ bây
giờ Nhà nước cần có một lộ trình và một chính sách khôn ngoan, nếu không thị trường
VN sẽ có nguy cơ trở thành thuộc địa của các tập đoàn bán lẻ trên thế giới và thành vùng
trũng tiêu thụ các sản phẩm nước ngoài!
Cùng với nông nghiệp, ngành phân phối được đánh giá là một trong những ngành
sẽ gặp nhiều bất lợi nhất sau khi VN gia nhập WTO.
Tuy nhiên, những người lạc quan lại tự hỏi rằng, liệu người tiêu dùng VN có ưu tiên
hệ thống phân phối bán lẻ trong nước khi mua sắm hay không? Hệ thống phân phối của
Hàn Quốc vẫn đứng vững và phát triển sau khi tham gia vào sân chơi toàn cầu nhờ vào
yếu tố này. Vậy liệu nó có được lặp lại ở VN trong thời gian tới không?
Th.S Lê Minh Phiếu -Nghiên cứu sinh ĐH Montesquieu (Pháp)
Lo ngại tâm lý “sính ngoại”
Vào năm 2003, khi tập đoàn Metro của Đức vừa mở cửa siêu thị bán sỉ trên đường
Phạm Văn Đồng (Hà Nội), bãi xe rộng mênh mông trước siêu thị này luôn đông nghịt xe
của người tiêu dùng đến mua sắm. Hiện tượng này cũng tương tự đối với các siêu thị của
Metro ở TP.HCM.
Qua trường hợp trên, cộng với tâm lý chuộng ngoại vốn tồn tại trong không ít bộ phận
dân cư, các nhà phân phối trong nước khó có thể chờ đợi một hiện tượng như đã xảy ra ở
Hàn Quốc trước đây.
Không ít cửa hàng bán lẻ trên địa bàn Hà Nội, có phong cách phục vụ khách hàng rất
kém. Người tiêu dùng Việt Nam có thể dễ dàng chấp nhận lựa chọn các cửa hàng bán lẻ
18
khi chất lượng dịch vụ và giá cả của nó bằng với các cơ sở có vốn nước ngoài kinh doanh
trong lĩnh vực tương tự.
Đến khi ngành phân phối bán lẻ được mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài (1-1-
2009), các tập đoàn phân phối khổng lồ của nước ngoài sẽ tràn vào Việt Nam.
Với tiềm lực khổng lồ về vốn, trình độ quản lý, kinh nghiệm kinh doanh, chắc chắn họ
sẽ thiết lập được những hệ thống phân phối bán lẻ chuyên nghiệp, với phong cách lịch sự,
Chúng ta cam kết nhưng chúng ta vẫn có
quyền hạn chế việc mở thêm các điểm bán lẻ. Do
đó không nên cấp phép ồ ạt cho các nhà phân
phối mở thêm đại lý lập thành chuỗi, gây ra sự
cạnh tranh quá khốc liệt”.
Sự khốc liệt này được diễn giải qua việc Ngân
hàng Thế giới công bố chỉ số phát triển bán lẻ
toàn cầu của Việt Nam năm 2007 đạt 74/100
điểm, đứng thứ 4 trên thế giới sau Ấn Độ, Nga
và Trung Quốc.
Với thị trường bán lẻ trị giá 37 tỉ USD mỗi
năm, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ dự kiến sẽ đạt 7.000 tỉ
đồng, tăng 23% so với năm ngoái. Việt Nam cũng đang dẫn đầu về tiêu dùng hàng
hi-tech.
Công ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen công bố: người tiêu dùng Việt Nam
xếp thứ năm về chỉ số lạc quan tiêu dùng (Global Consumer Confidence Index). Chỉ
số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam đang ở mức cao kỷ lục, đạt 118 điểm và
tăng lên 1 điểm, trong khi chỉ số này trên toàn cầu giảm 2 điểm, chỉ còn 97 so với
cuối năm 2006.
Chủ nhà đang lúng túng
Hiệp hội siêu thị Hà Nội đã chỉ ra những điểm yếu đang tồn tại trong hệ thống
phân phối Việt Nam: tính chuyên nghiệp yếu vì nguồn nhân lực chưa qua đào tạo,
chỉ có khoảng 4-5% nhân lực được đào tạo chuyên ngành, 60-70% các đơn vị kinh
doanh chưa sử dụng công nghệ thông tin vào lãnh vực quản lý và khoảng 20% đơn
vị mới xây dựng web đơn giản với nội dung nghèo nàn.
Ngoài ra hậu cần cho hệ thống phân phối như kho bảo quản, các kho lạnh, xe tải
chuyên dùng thiếu đồng bộ, chưa đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Việc tổ chức cung
ứng hàng hoá chủ yếu là có gì bán nấy, chưa xây dựng được vùng cung cấp nguồn
hàng ổn định để tiêu thụ. Tính chủ động trong hợp tác liên kết, liên doanh thu mua,
tiêu thụ hàng hoá còn rời rạc.
Bán lẻ Việt Nam: Bắt tay hay sống lay lắt?
(VietNamNet) - Các đơn vị, DN bán lẻ trong nước đang xoay xở tìm biện pháp để có
thể "sống sót" trước khi nhiều tập đoàn bán lẻ 100% vốn nước ngoài dự báo sẽ đổ
bộ vào Việt Nam từ 1/1/2009. Việc có làm chủ được hệ thống bán lẻ hay không, theo
nhiều chuyên gia, phụ thuộc vào chính nội lực và sự liên kết, hợp tác giữa các DN
bán lẻ nội địa.
>> Thị trường bán lẻ VN sẽ đạt trên 40 tỷ USD năm 2007
Xác lập dần chỗ đứng
Tại Hội thảo về Thị trường bán lẻ Việt Nam: cơ hội và thách thức, do Bộ Công thương và
Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam tổ chức ngày 23/1, Phó Chủ tịch Hiệp hội Đinh Thị Mỹ
Loan cho biết, có một chuyển động mới đáng ghi nhận ở các DN bán lẻ trong nước, đó là
sự tấn công "âm thầm" về thị trường nông thôn. Đơn cử HTX Thuận Thành - đơn vị thành
viên hiệp hội - vừa khai trương 3 siêu thị bán lẻ tại Thừa Thiên - Huế và bước đầu kinh
doanh có lãi.
Ông Phan Thế Ruệ, Chủ tịch Hiệp hội nói thêm, thị trường nông thôn rất tiềm năng - với
hơn 60 triệu dân - đang và đáng được các DN bán lẻ để mắt tới. Thu nhập của bà con
nông dân ngày càng tăng, sớm hay muộn cũng sẽ bùng phát sức mua. Thị trường bán lẻ ở
nông thôn sẽ rất sôi động, đặc biệt đối với những vùng có tốc độ đô thị hoá nhanh.
Nhiều DN "đỏ mắt" tìm mặt bằng tốt để xây dựng các khu thương mại, siêu thị (ảnh VTV).
Đại diện Vụ Chính sách thị trường trong nước (Bộ Công thương) nhẩm tính, chỉ cần mỗi
ngày một người dân nông thôn tăng mua 1.000 đồng hàng hoá, tổng mức bán lẻ tại khu
vực này sẽ tăng thêm 60-70 tỷ đồng.
Bà Loan nói rằng, việc Bộ Công thương vừa ban hành Quy hoạch phát triển mạng lưới
chợ toàn quốc sẽ giúp các nhà bán lẻ Việt Nam nghiên cứu, xem xét, vận dụng
trong chiến lược kinh doanh của mình. "Chúng tôi quan tâm tới việc quy hoạch đất
đai xây các chợ, hạ tầng cơ sở, khuyến khích đầu tư hay ưu đãi của Nhà nước trong việc
21
mở trung tâm, điểm bán lẻ có tính chất quyết định với nền sản xuất trong nước, đặc biệt là
chợ đầu mối chuyên ngành, chợ đầu mối cấp vùng, chợ đầu mối nông sản, chợ đầu mối
hoa quả ", bà Loan xác nhận.
Công ty CP Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (quy mô vốn lên tới 6.000 tỷ
đồng), từ sự liên kết của 4 DN phân phối hàng đầu nội địa là Hapro, Satra, Saigon Co.op và
Tập đoàn Phú Thái. ẻ Việt Nam đang rất khuyến khích xu hướng này (có thể là liên kết là
giữa là bán lẻ Việt Nam v
Hiệp hội Các nhà bán l ới nhà sản xuất hoặc giữa nhà bán lẻ với nhau) nhằm tăng sức
mạnh của DN, với giá cả hợp lý, phương thức dịch vụ và thanh toán tốt nhất cho người tiêu
dùng.
Một chuyên gia thương mại nhận xét, trong lĩnh vực bán lẻ, cái chúng ta đang thiếu nhất là
22
hoạt động của hệ thống hậu cần - khâu hỗ trợ cho chuỗi bán hàng cuối cùng của hệ thống
bán lẻ và các đại siêu thị ở các đô thị lớn. Các DN bán lẻ cần liên kết để đủ sức tiếp quản
các mặt bằng lớn, với sự tập trung vốn và nguồn nhân lực cao.
Ông Vũ Vinh Phú cho biết, 70% hàng hoá tại các siêu thị hiện là hàng Việt Nam, song sản
xuất của chúng ta không đủ lớn, năng suất thấp nên không đủ cung ứng. Trong khi, sản
xuất chính là cái gốc, là dạ dày của bán lẻ. Hơn nữa, hệ thống phân phối từ trang trại đến
kho dự trữ, sơ chế, bán lẻ bị cắt khúc, phân tán, dẫn tới chi phí đầu vào cao.
Đơn cử, một một ký tôm tại nơi sản xuất ở Thái Bình giá có 80.000 đồng nhưng về đến Hà
Nội tăng lên 120.000 đồng. Do vậy, cần thành lập các sàn giao dịch để nông dân bán được
với giá cao nhất, cắt bớt khâu lưu thông, đưa thẳng hàng hoá từ nơi sản xuất đến các siêu
thị.
Ngoài ra, ông Vinh cũng chỉ ra những điểm yếu của hệ thống phân phối trong nước: thiếu
tính chuyên nghiệp do chỉ 4-5% nhân lực được đào tạo chuyên ngành, 60-70% đơn vị kinh
doanh chưa sử dụng CNTT vào lĩnh vực quản lý chưa kể khó khăn về mặt bằng, vốn ít
ỏi, khó tiếp cận đất đai.
Đây là những tồn tại mà một đại biểu tại hội thảo nhận xét, đều là các vấn đề đã cũ, bàn đi
bàn lại nhiều lần. Song, vấn đề đặt ra là giải quyết như thế nào và việc kêu ca, thắc mắc
của DN có đến với các cơ quan quản lý Nhà nước không trong khi Hiệp hội còn non trẻ,
mới thành lập được 3 tháng.
)
nghiệp để phân chia thị trường, ngăn cản doanh nghiệp mới gia nhập thị trường,
thống nhất giá cả dịch vụ… Các doanh nghiệp Việt Nam chưa biết sử dụng công
cụ pháp lý để tự bảo vệ trước các hành vi phản cạnh tranh.
Trước khi Việt Nam gia nhập WTO, đã xuất hiện một số nhà bán lẻ nước
ngoài tại Việt Nam như Big C, Metro Cash and Carry, Cora… Từ nay tới thời
điểm 1/1/2009, các rào cản gia nhập thị trường dần được loại bỏ theo lộ trình
thực hiện các cam kết quốc tế, sự bảo hộ của nhà nước đối với những lĩnh vực
nhạy cảm của nền kinh tế như dịch vụ bán lẻ sẽ giảm dần.
Với sự tham gia mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài như hiện nay, ông
Phạm Đình Đoàn, Chủ tịch tập đoàn Phú Thái, cho rằng nếu không có một chiến
lược tổng thể thì e rằng các doanh nghiệp phân phối bán lẻ của Việt Nam sẽ chết
yểu. Ông Đoàn phân tích, tại Ấn Độ mới chỉ có 2 đại siêu thị Metro, Cash &
Cary, trong khi đó, ở Việt Nam đã xuất hiện 8 siêu thị. Có một doanh nghiệp
liên doanh đang hoạt động trên lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam dự định
mở 40 siêu thị để kết nối hệ thống kinh doanh ngầm.
Ông Nguyễn Cẩm Tú - Thứ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh hiện nay tất
cả các ưu đãi cho các doanh nghiệp bán lẻ phân phối Việt Nam là không còn.
Thị trường bán lẻ năm 2009 sẽ sôi động hơn rất nhiều với sự tham gia của các
nhà bản lẻ phân phối nước ngoài. Sẽ xuất hiện nhiều doanh nghiệp hùng mạnh,
chuyên nghiệp đồng thời sẽ có sự ra đi của nhiều doanh nghiệp yếu kém. Các
nhà bán lẻ thế giới vào Việt Nam với công nghệ hiện đại, chuyên nghiệp. Song,
chúng ta không bàn đến chuyện các doanh nghiệp Việt Nam phải thắng hay phải
đối đầu với các “ông lớn” mà cạnh tranh để chúng ta trưởng thành.
Trăn trở của doanh nghiệp
Điểm yếu của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam là thiếu tính liên kết. Theo
kinh nghiệm của các chuyên gia kinh tế, khi các doanh nghiệp biết kết hợp với
nhau sẽ phát huy được thế mạnh của từng doanh nghiệp, đồng thời tiết kiệm
24
được nhiều chi phí nhỏ lẻ về cửa hàng, kho vận… Tuy nhiên, không phải doanh
nghiệp nào cũng nhận thức đầy đủ về lợi ích mà khi mình toàn tâm hợp tác với
Với thực trạng như hiện nay, thị trường bán lẻ Việt Nam rất cần có một người
“đứng mũi chịu sào”. Đó chính là Hiệp hội các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
Bà Đinh Thị Mỹ Loan cho rằng: “Để phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam và
môi trường bán lẻ ở Việt Nam thì vai trò của Hiệp hội các doanh nghiệp bán lẻ
là rất quan trọng. Bởi, sự ra đời của Hiệp hội là kỳ vọng, mong ước của các
doanh nghiệp, của người tiêu dùng. Thông qua Hiệp hội các doanh nghiệp Việt
Nam sẽ liên kết được với nhau, có một chiến lược dài hạn cho ngành bán lẻ,
25