LUẬN VĂN: Công ty cổ phần và vai trò của nó trong sự phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Công ty cổ phần và vai trò của nó
trong sự phát triển kinh tế ở nước
ta hiện nay
Phần 1 : Lời Mở Đầu
Công ty cổ phần và vấn đề cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước không còn là
những hiện tượng kinh tế xã hội mới lạ đối với nền kinh tế thế giới . Công ty cổ phần đã
trở thành hình thức kinh doanh phổ biến ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển.
Sau đại hội Đảng lần thứ 4 ,quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường không chỉ làm thay đổi một cách sâu sắc nền kinh tế
nước ta về cơ cấu vận hành , quan hệ sở hữu mà còn xuất hiện tổ chức kinh tế mới trong
đó có công ty cổ phần.
Việc đưa ra bàn bạc về vấn đề “ công ty cổ phần và vai trò của nó trong sự phát
triển kinh tế ở nước ta hiện nay “ là xuất phát từ sự cấp thiết và tính thời sự của nó.
Trong phạm vi bài viết này , do sự hiểu biết còn hạn chế , em chỉ xin đề cập đến

Công ty cổ phần ra đời cho đến nay đã trải qua một quá trình lịch sử phát triển
hàng mấy trăm năm .Đây là một kiểu tổ chức doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Sự ra đời của công ty cổ phần không nằm trong ý muốn chủ quan của bất kì một lực lượng
nào mà đó là một quá trình kinh tế khách quan do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất : Quá trình xã hội hoá tư bản , tăng cường tích tụ và tập chung tư bản
ngày càng cao và là nguyên nhân hàng đằu thúc đẩy công ty cổ phần ra đời. Trong nền sản
xuất hàng hoá ,quy luật giá trị tác động mạnh mẽ tới sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà
tư bản buộc họ phải cải tiến và nâng cao trình đọ kỹ thuật , nâng cao năng xuất lao động ,
giảm chi phí sản xuất làm cho giá trị cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng giá trị hàng hoá
của xã hội thì mới có thể tồn tại và phát triển .Điều này chỉ có các nhà tư bản lớn với quy
mô sản xuất nhất định mới có đủ khả năng trang bị kỹ thuật hiện đại làm cho năng xuất lao
đọng tăng lên, do đó mới có thể giành được thắng lợi trong cạnh tranh , các nhà tư bản vừa
và nhỏ phải tự tích tụ vốn để mở rộng cơ sở sản xuất và hiện đại hoá các trang thiết bị, tạo
điều kiện và nâng cao năng xuất lao động và hạ giá thành sản phẩm . Song đây là biện
pháp hết sức khó khăn hơn nữa việc tích tụ vốn phải có một thời gian rất dài mơí có thể
thực hiện được .Một lối thoát có hiệu quả là các nhà kinh tế vừa và nhỏ có thể thoả hiệp và
liên minh với nhau , tập trung các nhà tư bản của họ lại với nhau thành một nhà tư bản lớn
để có đủ sức mạnh cạnh tranh và giành ưu thế với các nhà tư bản khác từ hình thức tập
trung vốn như vậy các công ty cổ phần hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ .
Thứ hai : Sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí của tiến bộ
khoa học kỹ thuật tạo đọng lực thúc đẩy công ty cổ phần ra đời và phát triển . Lực lượng
sản xuất ngày càng phát triển đòi hỏi tư bản cố định cũng phải tăng . Từng nhà tư bản cá
biệt không thể đáp ứng được nhu cầu trên nên phải liên minh tập trung nhiều nhà tư bản cá
biệt đang phân tán trong nền kinh tế bằng cách góp vốn để cùng kinh doanh . Hơn nũa kỹ
thuật ngày càng phất triển làm xuất hiện ngày càng nhiều nghành , nhiều lĩnh vực kinh
doanh có hiệu quả hơn , cố sức hút hơn với cá nhà tư bản .việc di chuyển vốn vàn các
nghành , các lĩnh vực đó gây nên nhiều khó khăn cho các nhà tư bản vì họ không thể bỗng

Tóm lại , công ty cổ phần là quá trình kinh tế khách quan do đòi hỏi của sự hình
thành và phát triển của kinh tế thị trường , nó là kêt quả tất yếu của quá trình tập trung tư
bản , nó diễn mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và sự tự do
cạnh tranh dươí chế độ tư bản .
Về quá trình phát triển của công ty cổ phần được chia làm bốn giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Là giai đoạn mầm mống công ty cổ phần đầu tiên xuất hiện mang tên
công ty Đông Ân do thương nhân người Anh thành lập năm 1773 Tại Luân Đôn hình thù
đầu tiên của sở giao dịch chứng khoán ra đời vào năm 1801 thì chính thức được thành lập .
Thị trường chứng khoán Mĩ được thành lập năm 1790 .
Giai đoạn 2 : Là giai đoạn hình thành trước và sau cuộc cách mạng công nghiệp
chủ yếu là đầu thế kỉ thứ 19 .Các công ty cổ phần chính thức lần lượt
ra đời với hình thức tổ chức và phân phối riêng của nó . Khoảng giữa thế kỉ thứ 18
đầu thế kỉ thứ 19 công ty cổ phần đã xuất hiên trong lĩnh vực đường sông và đường sắt .
Đến năm 1837 đã có 46 công ty cổ phần .
Giai đoạn 3 : Là giai đoạn phát triển , sau những năm 70 các công ty cổ phần phát
triển một cách nhanh tróng , phổ biến ở mọi nơi với quy mô rộng và số lượng tư bản tập
trung lớn chua từng có. Tại Anh : 86000, 90% tư bản Anh chịu sư khống chế của công ty
cổ phần . Tai Mĩ năm 1909 có 262000 công ty cổ phần .
Giai đoạn 4 : Là giai đoạn trưởng thành . Sau chiến tranh thế giới thứ 2, công ty cổ
phần ngày càng trở nên hoàn thiện hơn về cơ cấu tổ chức và phát triển mạnh mẽ trên quy
mô lớn .

Công ty cổ phần trên cơ sở nền sản xuất xã hội hoá đặc biệt là xã hội hoá về vốn ,
quan hệ tín dụng phát triển , quan hệ thị trường hình thành đầy đủ .Trải qua mấy trăm năm
, công ty cổ phần đã phát triển ở hầu hết các nước tư bản thei xu thế tư giản đơn đến phức
tạp , từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn , từ một lĩnh vực đến nhiều lĩnh vực , từ một nghành
đến đa nghành , từ một quốc gia đến các công ty xuyên quốc gia .

tịch hội đồng có thể kiêm tổng giám đốc công ty nếu điều lệ công ty không quy định khác
.
Giám đốc điều hành : là người điều hành mọi hoạt động hàng ngày của công ty và
chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các trách nhiệm và quyền hạn
được giao . Về thực chất giám đốc điều hành là người làm thuê cho chủ tịch hội đồng
quản trị .Giám đốc không làm việc theo nhiệm kì mà làm việc theo hợp đồng kí kết với
chủ tịch hội đồng quản trị .
Ban kiểm soát : có vai trò giám sát mọi hoạt động của công ty . Số lượng uỷ viên
kiểm soát tuỳ theo điều lệ của công ty . Những người này không phải là thành viên của hội
đồng quản trị hoặc giám đốc .

Sự phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần :
Lợi nhuận của công ty sau khi đã chi trả cho các mục cần thiết được chia đều cho
các cổ đông tỷ lệ với phần góp vốn của họ vào công ty .

1.3.2 Vai trò của công ty cổ phần đối với sự phát triển tế
Với những đặc điểm riêng có của mình , công ty cổ phần có vai trò vô cùng to lớn đối
với nền kinh tế đó là khả năng huy động vốn một cách nhanh chóng với quy mô lớn để
thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh khổng lồ mà không có nhà tư bản riêng biệt
nào có thể tự mình làm nổi .

Chương hai : Công ty cổ phần và vai trò của nó trong sự phát triển kinh tế ở
Việt Nam
2.1 Quá trình hình thành công ty cổ phần ở Việt Nam
2.1.1 Tính tất yếu khách quan của việc hình thành công ty cổ phần ở Việt Nam
Thứ nhất : ở nước ta cần phải hình thành công ty cổ phần dụa trên một số căn cứ sau :


1- Giữ nguyên giá trị hiện có của doanh nghiệp và phát hành cổ phiếu theo quy
định nhằm thu hút thêm vốn để phát triển
2- Bán một phần hiện có của doanh nghiệp
3- Tách một bộ phận doanh nghiệp đã đủ điều kiện cổ phần hoá
Có thể chia quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay thành
ba giai đoạn sau đây :
 Giai đoạn thí điểm 1992-1995
 Giai đoạn mở rộng cổ phần 1996-1998
 Giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hoá 1998
2.2 Các loại công ty cổ phần ở Việt Nam
1- Công ty cổ phần quốc doanh
2- Công ty cổ phần liên doanh
3- Công ty cổ phần có 100 vốn nước ngoài
2.3Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế nước ta hiện nay
Công ty cổ phần là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ sự tham gia đầu tư
từ nước ngoài .Nước ta hiện nay đang cần thiết thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài cho sự
nghiệp phát triển kinh tế , hình thức liên doanh góp vốn cổ phần với nước ngoài sẽ giúp
doanh nghiệp Việt Nam có dủ sức mạnh về mọi mặt : vốn , tiềm lực vật chất kĩ thuật ,
năng lực quản lí
Hệ thống doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay hoạt động kém hiệu quả
một phần vì không xác định rõ ai là chủ sở hữu đích thực , đây là nguyên nhân gây ra sự
lãng đạm thiếu trách nhiệm thiếu kỉ cương kỉ luật của người lao động , sự giảm sút về năng
xuất chất lượng và hiệu quả , thiếu minh bạch trong phân phối thu nhập còn trong công ty
cổ phần quyền sở hữu và quyền sử dụng được xác định rõ ràng nên cơ chế phân phối lợi
ích được giả quyết thoả đáng . Lợi ích của người lao động và người góp vốn gắn liền với
kết quả sản xuất kinh doanh của công ty nên trở thành động lực, cơ sở bên trong thúc đẩy
sản xuất kinh doanh của công ty .

hoá đều vừa và nhỏ . Vậy việc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá ở nước ta vẫn đang là vấn
đề hết sức cần thiết.

Chương ba : Một số giải pháp đẩy mạnh qúa trình hình thành và nâng cao vai
trò của công ty cổ phần ở Việt Nam
3.1 Những nguyên nhân căn bản cản trở quá trình hình thành công ty cổ phần
ở nước ta
Thứ nhất :Trình độ xã hội hoá sản xuất ở nước ta vẫn còn thấp .Nền sản xuất chủ yếu
vẫn lá nền sản xuất nhỏ manh mún ,tản mạn,phân công lao động chưa phát triển ,kĩ thuật
lạc hậu trình độ công nhân còn hạn chế từ đó đẫn đến năng xuất lao động thấp tích luỹ thấp
,các doanh nghiệp luôn thiếu vốn và khó có điều kiện đổi mới kĩ thuật để tăng năng xuất
lao động .Vì vậy khi muốn trở thành công ty cổ phần doanh nghiệp phải phát hành cổ
phiếu cổ thì phiếu thiếu sức hấp dẫn đối với cổ đông .
Mặt khác cũng do năng xuất lao động nên thu nhập của người lao cũng thấp
Khả năng tích luỹ để tái sản xuất mở rộng cũng hạn hẹp ,do đó cũng có thể dự đoán
số người mua cổ phiếu cũng không nhiều Hơn nũa ở nước ta do sống trong cơ chế bao cấp
nên những người có thu nhập cao thừơng có thói quen tích luỹ dưới dạng mua sắm đồ vật
có giá trị chứ chua có thói quen tích luỹ theo kiểu mua cổ phiếu .
Thứ hai :Sự thiếu vắng thị trường chứng khoán cũng là một nguyên nhân quan trọng
ngăn cản quá trình hình thành của công ty cổ phần.Hiện naty ở nước ta chưa có hệ thống
pháp luật về thị trường chứng khoán , chưa có cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cổ
đông vì vậy đã gây khó khăn cho sự hình thành công ty cổ phần .
Thứ ba : Thiếu môi trường pháp luật , kiểm toàn để hình thành công ty cổ phần
Thứ tư : Nhận thức tư tưởng và tâm lí xã hội chưa quen với hình thức đầu tư bằng cổ
phiếu , có tâm lí e ngại sợ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm : Với quá trình cổ phần hoá doanh nhiệp nhà nước còn có những khó khăn
riêng .Như vấn đề kĩ thuật,xác địng giá trị doanh nghiệp còn có nhiều quan điểm khác

chức kinh tế hết sức phong phú và đa dạng nhưng phổ biến và quan trọng nhất vẫn là công
ty cổ phần .Được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới ,công ty cổ phần vẫn chứng tỏ là một
phương thức tổ chức kinh doanh để khai thác và sử dụng đồng vốn cao nhất , tất cả các
điều đó s
ễ nâng cao hiệu quả kinh tế về mọi mặt của nền kinh tế quốc dân.
Tài Liệu Tham Khảo
1. Bùi Nguyên Hàm : Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần (Nhà xuất
bản chính trị quốc gia , Hà Nội 1998)
2. Nhà xuất bản sự thật : Tìm hiểu công ty cổ phần và cổ phần hoá một số
doanh nghiệp nhà nước ,Hà nội 1992)
3. Phan Thanh Phố (chủ biên) : Ngững vấn đề về kinh tế và đổi mới kinh tế ở
Việt Nam
4. Nguyên thiết Sơn(chủ biên) : Công ty cổ phần ở các nước phát triển , Nhà
xuất bản khoa học xã hội ,Hà Nội 1991.
5. Trương thu Hà : Một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước ,Tạp chí thông tin lí luận số 7-1997.
6. Võ Văn Đức : Thử tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp đẩy mạnh tiến trình cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nướctạp chí nghiên cứu lí luận số 6 tháng 6-1999.

3.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình hình thành và nâng cao vai trò
của công ty cổ phần ở Việt Nam
Phần 3-Kết Luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status