Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam thông qua xây dựng văn hóa doanh nghiệp (2007) - Pdf 12


TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH

VÀ KINH
DOANH
QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH
KINH
TẾ
Đối
NGOẠI
***
KHOA
LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề
tài
NÂNG
CAO
NĂNG
Lực
CẠNH
TRANH
CỦA
DOANH
NGHIỆP
VIỆT

Việt
Hùng
r
H

<"
V.
6
n
ì
NGƯU
Ì
H Jd
.5
hl.oíứu/
Hà Nội, li - 2007
MỤC LỤC
MỤC
LỤC
ì
DANH
MỤC BẢNG
BIÊU
ni
LỜI
NÓI
ĐẦU Ì
CHƯƠNG
1:
NHỮNG

lực cạnh tranh cửa
doanh
nghiệp
9
ỉ.1.4.
Các nhân tố ảnh
hưởng đến
năng
lực cạnh tranh của
doanh
nghiệp
13
1.2.

thuyết
về văn hóa doanh
nghiệp
18
1.2.1.
Khái
niệm chung về văn
hóa
kinh
doanh
18
1.2.2.
Khái
niệm văn
hóa
doanh nghiệp

Lực CẠNH TRANH VÀ VAI TRÒ
CỦA
VÃN HÓA
DOANH
NGHIỆP TRONG
VIỆC NÂNG
CAO
NÂNG
Lực
CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH
NGHIỆP
VIỆT
NAM
HIỆN
NAY 39
2.1.
Thực
trạng
năng
lực
cạnh
tranh
của các doanh
nghiệp
Việt
Nam 39
2.1.1.
Năng
lực tài chính của doanh nghiệp

Thực
trạng
xây
dựng
văn hóa
doanh
nghiệp
nhàm nâng
cao
năng
lực
cạnh
tranh
trong
các
doanh
nghiệp
Việt
nam 53
2.2.1.
Nhận
thức
về văn
hóa
doanh nghiệp
55
2.2.2.
Thực
trạng
xây

nhập
74
2.4.
Đánh
giá
thực
trạng

vai trò của
văn hóa
doanh
nghiệp
đôi
với khả
năng
cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp
Việt
Nam 77
CHƯƠNG
3:
MỘT số
GIẢI
PHÁP NÂNG
CAO
NĂNG
Lực CẠNH

đối với
Nhà
nước

hiệp
hội
các
doanh
nghiệp
80
3.2.1.
Đối
với
Nhà
nước
80
3.2.2.
Đối
với các
hiệp
hội
doanh nghiệp
83
3.3.
Một

giải
pháp
đôi vói
doanh

Môi
trường
văn
hoa
trong
nội
bộ
doanh nghiệp
97
KẾT
LUẬN
100
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO A
ii
DANH
MỤC
BẢNG
BIỂU
Bảng
Ì:
Bảng so sánh một
số
chỉ
tiêu
của
3 khu
vực doanh
nghiệp

vai
trò của
văn hóa
doanh nghiệp.55
Bảng 4
:
Các khó khăn
của doanh
nghiệp
khi
xây
dựng
và phát
triển
thương
hiệu
66
Bảng 5
:
Kết
quá kháo
sát của
dự án
Ishikaxva
về mục đích
kinh
doanh
68
Bảng
6: Chi

thức lớn nhất

nguy

tụt
hậu,

hiệu
quả
kinh
tế
và sức
cạnh
tranh
thấp.
Sự
tụt
hậu về trình độ văn
hoa,
chuyên môn
nghề
nghiệp
của
người
lao
động,
dẫn đến
sự yếu
kém
của sản


đến
bồi
dưỡng
các phẩm
chất
văn hoa cho các thành viên nên cán bộ
vẫn quản

tồi,
còng nhân
không phát huy được công
suất
của công
nghệ
mới
Đáng chú ý là hàm
lượng
văn hoa
thấp
trong
quan
hệ
giữa
chủ doanh
nghiệp
và công
nhân,
giữa
công nhân

thức
được
vai
trò động
lực
của
văn hóa
trong
phát
triển
kinh
tế,
chưa
nhận
thức
được văn hóa
doanh
nghiệp

một vũ khí
lợi
hại

thể
giúp
doanh
nghiệp thỡng
thế
ngay
trên sân nhà và cả

đúng đỡn hơn về văn
hóa
doanh
nghiệp
cũng
như
vai
trò của

đối với
việc
nâng cao
vị
thế
cạnh
tranh
của
mình,
tác
giả
đã
tiến
hành nghiên cứu và tìm
tòi
các
vấn
đề về xây
dựng
vãn
hóa

luận
tốt
nghiệp
trường
đại
học
Ngoại
thương.
Trong
phạm
vi
đề
tài khoa
luận
này,
tác
giả
muốn
giúp
người
đọc có một cái
nhìn khái quát về
thực
trạng
năng
lực
cạnh
tranh

vai

một
vài
kiến
nghị
đối với
nhà nước và các
hiệp
hội
doanh
nghiệp
cũng
như một
vài
giải
pháp giúp
doanh
nghiệp
nâng cao năng
lực
cạnh
tranh
của mình thông
qua
việc
xây
dựng
văn hoa
doanh
nghiệp.
Tuy

quan
tâm
trong
một phạm
vi
nhỏ.
Tác
giả
rất
mong
nhận
đưầc
những
ý
kiến
góp ý
của
các
thấy
cô và các bạn
sinh
viên để có
thể
hoàn
thiện
hem đề
tài
này.
Ngoài các
phẩn

cạnh
tranh

vai
trò của
văn
hoa doanh
nghiệp
trong việc
nâng
cao
năng
lực
cạnh
tranh
của doanh
nghiệp
Việt
Nam
hiện
nay.
Chương
3:
Một
số
giải
pháp nâng cao năng
lực
cạnh
tranh

tình
trong
suốt
quá trình sưu
tập
tài
liệu

viết
khoa
luận.
Tác
giả
cũng
xin gửi
lời
cảm ơn
tới
các tác
giả với
những bài
viết
và công trình nghiên cứu có giá
trị
tham
khảo
to lớn
giúp
tác
giả

Lực
CẠNH
TRANH

VÃN HÓA
DOANH
NGHIỆP
1.1.

thuyết
về
năng
lực
cạnh
tranh của
doanh
nghiệp
1.1.1.
Khái niệm cạnh tranh
Các học
thuyết kinh tế thị
trường,

trường phái
nào
đểu
thừa
nhận
rằng:
cạnh


chế thị
trường; cạnh
tranh

linh
hổn cắa
thị
trường.
Theo
K.Marx,
"Cạnh
tranh
là sự ganh đua,
sự đấu
tranh
gay
gắt
giữa
các
nhà
tư bản
để
giành
giật
những điều
kiện
thuận
lợi
trong

giữa
các nhà
kinh
doanh
trên
thị
trường nhầm giành cùng một
loại
tài
nguyên
sản
xuất
hoặc
cùng một
loại
khách hàng
về
phía
mình".
[45]
Theo
Từ
điển
Bách Khoa
cắa
Việt
Nam
thì:
"Cạnh
tranh

cung
cầu
nhằm giành các
điều
kiện
sản
xuất,
tiêu
thụ

thị
trường có
lợi
nhất".
[41]
Diên
đàn
cao cấp
về
cạnh
tranh
cõng
nghiệp
cắa
tổ chức
Hợp
tác

phát
triển

[7]
Như
vậy, từ
những
định
nghĩa
trên,
ta

thể
rút
ra
một vài
điểm
chung
về
cạnh
tranh
như
sau:
Thứ
nhất,
khi
nói đến
cạnh
tranh
là nói
đến
sự ganh
đua nhằm

(một

hội,
một
sản
phẩm, một dự
án);
một
3
loạt
các
điểu
kiện

lợi
(một
thị
trường,
một khách
hàng, ).
Mục đích
cuối
cùng

kiếm
được
lợi
nhuận
cao.
Thứ

các thông
lệ
kinh
doanh
Thứ
tư, trong
quá trình
cạnh
tranh,
các chủ
thể
tham
gia
cạnh
tranh

thể
sổ
dụng
nhiều
công cụ khác
nhau:
cạnh
tranh
bằng
giá bán sản phẩm (chính sách
định
giá
thấp,
định

tranh
nhờ
dịch
vụ bán hàng
tốt,
cạnh
tranh
thông qua hình
thức
thanh
toán
Với
cách
tiếp
cận
trên,
khái
niệm
cạnh
tranh

thể
được
hiểu
như
sau:
"Cạnh
tranh

quan hệ

điều kiện
sản
xuất,
thị
trường

lợi
nhất.
Mục
đích cuối
cùng của các chủ
thể
kinh
tế
trong
quá
trình
cạnh
tranh

tối
đa hóa
lợi
ích.
Đối
với
người
sản
xuất kinh
doanh

cạnh
tranh,
sức
cạnh
tranh,
Tuy
nhiên,
các khái
niệm
này là các khái
niệm
phức
hợp,
được
xem
xét
ở các
cấp
độ khác
nhau
như: sức
cạnh
tranh
cùa một
quốc
gia,
sức
cạnh
tranh
của một

những
khái
niệm
sức
cạnh
tranh
khác
nhau.
1.1.2.1.
Sức canh
tranh
của quốc
gia
Theo
Diễn
đàn
kinh tế thế
giới
(WEF
-
World
Economic
Forum),
sức
cạnh
tranh
của một
quốc
gia
là khả nâng

tế,
bao gồm mở
cửa
thương mại và đầu tư:
thuế
quan
và hàng
rào
phi thuế
quan,
chính sách
xuất
nhập
khớu,
tỷ
giá
hối
đoái,
đầu

trực
tiếp
của
nước ngoài.

Vai
trò của
chính
phủ:
mức độ

ro
tài
chính,
đáu


tiết
kiệm.
• Cõng
nghệ:
năng
lực
công
nghệ
nội
sình,
công
nghệ chuyển
giao,
mức độ
đớu tư cho
nghiên
cứu

triển
khai.
• Cơ sở hạ
tâng:
chất
lượng

quả và
tính
linh
hoạt
của
thị
trường
lao
động.
• Thể
chế: chất
lượng
của
các
thể
chế
pháp

[6]
M.
Porter
lại
đưa
ra
khái
niệm
sức cạnh
tranh
của quốc
gia

này
thì
sức
cạnh
tranh
của
quốc
gia
gần
hơn
với

thuyết
về
lợi
thế
so
sánh.
Ngay
trong

thuyết
lợi
thế
tuyệt
đối
của
Ricacdo,
một
quốc

yếu tố
liên
quan
với
nhau,
có tác động qua
lại
và bổ
sung
cho
nhau.
Các yếu
tố
này là nền móng, chỗ dựa cho các công
ty,
giữ vai
trò
quyết
định,
cho phép các
công
ty
sáng
tạo
và duy
trì
lợi
thế
cạnh
tranh

thống
Mỹ
đã đưa
ra
khái
niệm
"một nước là
cạnh
tranh
nếu như nước đó duy
trì
được một
5
tỷ
lệ
tăng
trưởng
thu
nhập
thực
ngang bằng
với
tỷ
lệ
đó của các
nước
bạn hàng
trong
một môi
trường

phụ
thuộc
vào khả năng
khai
thác cơ
hội
trên
thị
trường.
Do
đó,

thể
hiểu,
sức
cạnh tranh
của
quốc
gia là
năng
lực
của
một
nền
kinh
tế có
thể
lạo
ra
tăng trưởng

của sản
phẩm mà
doanh
nghiệp
đưa
ra
thị
trường
hoặc
vói
vị
trí
của
doanh
nghiệp
trên
thị
trường,
theo
thị
phần
mà nó
chiếm
giữ
thông
qua khả
năng
tổ
chức,
quản


thuyết
tổ chức
công
nghiệp,
khái
niệm
sức
cạnh
tranh
được
áp
dụng
ở phạm
vi

nghiệp.
Một

nghiệp
được
xem


sức cạnh
tranh
khi

nghiệp
đó duy

thịp
hơn
hoặc cung cịp
các
sản
phẩm tương
tự
với
các đặc tính về
chịt
lượng
hay dịch
vụ
ngang bằng hoặc cao
hơn
[7]
Theo
Fafchamps, sức cạnh
tranh
của doanh
nghiệp
là khả
năng
doanh
nghiệp
đó có
thể
sản
xuịt
sản

như
sản
phẩm của
doanh
nghiệp
khác,
nhưng
với chi
phí
thịp
hơn
thì
được
coi


khả
năng
cạnh
tranh
cao
[49]
Randall
lại
cho
rằng
sức cạnh
tranh
của doanh
nghiệp

thị
trường
khác
nhau
mà không phân
biệt
nơi bố
trí
của
doanh
nghiệp
đó
[49]
6
Markusen
(1992)
đã đưa
ra
một khái
niệm
"một nhà sản
xuất

cạnh
tranh
nếu
như nó có một mức
chi
phí
đem


tích hợp các
khả
năng và
nguồn
nội lực
để duy
trì
và phát
triển
thị
phần,
lợi
nhuụn
và định vị
những
ưu
thế
cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp
đó
trong
mối
quan
hệ
vối
đối thủ

của
doanh
nghiệp.
Song
tựu chung
lại,
khi
tiếp
cụn sức
cạnh
tranh
doanh
nghiệp,
cần
chú ý
tới
4
vấn
đề cơ
bản sau:
Một
là,
trong
điều
kiện kinh tế thị
trường,
phải lấy
yêu
cẩu của
khách hàng là

Hai là,
yếu
tố

bản
tạo
nên
sức
mạnh
trong việc
lội
kéo khách hàng
phải

thực
lực
của doanh
nghiệp.
Thực
lực
này chủ
yếu
được
tạo
thành
từ
những yếu tố
nội tại
của doanh
nghiệp

Muốn
tạo
nên
sức cạnh
tranh
thực
thụ,
thực lực
của doanh
nghiệp phải tạo
nên
lợi
thế
so
sánh
với
các
đối thủ
cạnh
tranh.
Chính nhờ
lợi
thế
này, doanh
nghiệp

thể giữ
được
khách hàng
của

thỏa
mãn đầy đủ
nhất
tất
cả những
yêu
cẩu của
khách
hàng.
Song
khó có
doanh
nghiệp
nào có được yêu cầu
này,
thường
thì

lợi
thế
về
mặt
này,
lại

thế
yếu
về mặt
khác.
Bởi vụy,

Sức cạnh
tranh
của doanh
nghiệp
thể
hiện thực
lực

lợi thế của
doanh
nghiệp
so
với
các
đối thủ
khác
trong việc thỏa
mãn
tốt
nhất
các đòi hỏi của khách hàng đề
thu lợi
ích
ngày càng cao cho doanh
nghiệp
trong
môi
trường cạnh tranh trong
nước và
ngoài nước.

chủ
yêu dựa trên khái
niệm
về sức
cạnh
tranh
của quốc
gia

của
doanh
nghiệp.
Theo
một
số
tác
giả,
sức cạnh
tranh
của sản
phẩm

sự
vượt
trội
của

(về chỉ
tiêu)
so

tiêu dùng
đối với
sản
phẩm về giá
cả, đổi
mới công
nghệ, dịch
vụ sau bán hàng so
với
sản phẩm
cùng
loại

đối thủ
khác
cung cấp
trên
cùng một
thị
trưọng
chứ
không
quan
tâm
đến
việc
nó có
vượt
trội
hơn

loại
sản
phẩm do chù
thể
sản
xuất

cung
ứng
nào đó đem
ra
để tiêu
thụ
so
với
sản phẩm cùng
loại
của các chủ
thể
sản
xuất,
cung
ứng khác đem đến
tiêu
thụ
ở cùng một
khu vực
thị
trưọng và
thọi

chính
là:
khả
năng
sử
dụng
thay thế
cho
cõng
dụng
kinh tế
của
một
loại
sản
phẩm tương
tự
khác;
chất
lượng
và giá cả của
sản
phẩm. Sản phẩm có
sức cạnh
tranh
cao
khi
nó có
thể thỏa
mãn cao hơn yêu

yếu
tố
khác như
kiểu
dáng,
mẫu mã
hình
thức
của sản
phẩm,
phương
thức
tiêu
thụ,
quảng
cáo,
bán hàng,
8
1.1.2.4.
Mối quan hê
giũa
ba
cấp
đô năng
lúc
canh
tranh
Ba cấp độ
cạnh
tranh

nghiệp

sức cạnh
tranh,
ngược
lại,
để
tạo
điều
kiện
cho
doanh
nghiệp
có sức
cạnh
tranh,
môi trường
kinh
doanh
của nền
kinh tế
phải
thuận
lại,
các chính sách
kinh
tế


phải

trong
quản

doanh
nghiệp
cũng
là một
yếu tố
quan
trọng,

trong
cùng một môi trường
kinh
doanh

doanh
nghiệp
rất
thành công
trong
khi
doanh
nghiệp
khác
lại
thất
bại.
Năng
lực cạnh

tế
bào của nền
kinh tế,
năng
lực cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp tạo

sỏ cho
năng
lực
cạnh
tranh
quốc
gia.
Đồng
thời,
năng
lực
cạnh
tranh
của doanh
nghiệp
cũng
thể
hiện
qua năng
lực

doanh
nghiệp

một nhân
tố
quan
trọng,
quyết
định
sức cạnh
tranh
của quốc
gia.
Nâng
cao
năng
lực
cạnh
tranh
của doanh
nghiệp,
của sản
phẩm vừa là bộ
phận cấu
thành vừa

một
trong
những
mục tiêu

động
kinh
doanh
của mình, mỗi
doanh
nghiệp

thể tự tầng
hợp các khả năng
tạo ra thế
không
ngừng
vượt
trội
(vượt
trội
đối
với
chính mình và so
với
các
đối thủ cạnh
tranh)
để giành được
thắng
lợi
trong
tiến
trình
cạnh

doanh có
nhiều
loại
chiến
lược
khác
nhau
được
phân
loại
theo
cấp độ và
phạm
vi
của
chiến
lược, bao gồm
chiến
lược
kinh
doanh
tổng
hợp và
chiến
lược
bộ
phận,
đạc thù cho
từng lĩnh
vực

kinh
doanh, chủng
loại
hàng
hóa, dịch vụ
được
lựa
chụn sản
xuất
kinh
doanh,
thị
trường
mục
tiêu
về tài
chính
và các
chỉ
tiêu tăng
trưởng,
Một số
chiến
lược
kinh
doanh quan
trụng
của doanh
nghiệp
là:

lược
marketing
hỗn hợp
• Quy mô của doanh
nghiệp
Quy mô
thực chất

việc
giảm
chi
phí
trên
một đơn
vị
sản
phẩm,
tận
dụng
lợi
thế
về quy mô sản
xuất
kinh
doanh
lớn.
Rào cản về quy mô buộc các doanh
nghiệp
mới
xuất hiện phải

nghiệp
khác
trong
khu vực và
thê
giới.
Còn nếu doanh
nghiệp
tham
gia với
quy mô nhỏ thì
phải
chấp nhận bất
lợi
về
chi
phí, từ đó,
rất
khó có
thể
cạnh
tranh
nổi
với
các doanh
nghiệp hiện
có.

Năng
lực

biết
thực
hành
trong
quản lý sẽ
giảm
được
chi
phí quản lý
trong
giá
thành
sản
phẩm,
qua đó
nâng
cao sức cạnh
tranh
của sản
phẩm
và doanh
nghiệp.
10
• Khả năng nắm
bắt
thông
tin
Ngày
nay,
cùng

đến
việc ra
quyết
định
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp.
Đủ thông
tin
và xử lý đúng thông
tin,
một mạt giúp cho
doanh
nghiệp
hạn
chế
được
rủi
ro
trong kinh
doanh,
mặt khác qua thông
tin

thế
tìm

tạo ra

sẽ đưa
tới
việc
giảm
đáng kể sức
cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp.
Do đó,
cần
phát huy
vai
trò của các
hiệp hội
ngành hàng,
tạo
thành sự
hiệp
đồng
chặt
chẽ khi
đưa
ra thị
trường
thế
giới.
Đảm bảo
"chầ tín"

dài,
mất
bạn
hàng và
chỗ
đứng trên
thị
trường.
• Trình độ công
nghệ
Tinh trạng
máy móc
thiết
bị
và công
nghệ
có ảnh hưởng một cách sâu
sắc
tới
sức
cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp.

thể
hiện
năng
lực

nhất
định

chất
lượng
cao.
Ngược
lại
không có một
doanh
nghiệp
nào có
thể
nói là
có sức
cạnh
tranh
cao
khi

trong
tay
họ là cả hệ
thống
máy móc cũ kỹ
với
công
nghệ sản
xuất lạc
hậu.

của
doanh
nghiệp.
Trình
độ,
năng
lực
của
các thành viên Ban giám đốc ảnh hưởng
rất
li
lớn
đến
kết
quả
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp.
Nếu các thành viên có trình độ,
kinh
nghiệm,

khả
năng đánh
giá,
năng
động,


sức cạnh
tranh
của doanh
nghiệp.
Trình độ
tay
nghề,
chuyên môn
nghiệp
vụ của
người
lao
động và lòng hăng
say
làm
việc
của họ là một yếu
tố
tác động
mạnh
mẽ đến sức
cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp.
Bởi

khi tay
nghề

cơ,
không
khí

hội trong
doanh
nghiệp
Không khí xã
hội
trong
doanh
nghiệp,
động cơ cá nhãn của mỗi thành viên

chất
lượng
của con
người
tỏ ra

một nhân
tố
quan
trọng trong
cạnh
tranh.
Sức
mạnh
của
doanh

sẽ
tạo
động
lực
mạnh
mẽ
cho sự
phát
triỉn
của doanh
nghiệp.

Chi phí
kinh
doanh
Chi
phí
kinh
doanh
bao gồm
chi
phí nghiên cứu và phát
triỉn
sản
phẩm mới
(R&D);
các
chi
phí
tiện

doanh
nghiệp
muốn
tồn
tại,

sức
cạnh
tranh
thì cần
phải
biết
đổi
mới
mình.
Do
đó,
đối với
hầu
hết
các
doanh
nghiệp
trên
thế
giới
hiện
nay,
nhất


suất
lao
động và
tạo ra
các
sản
phẩm mới độc
đáo,
hiện đại,
đáp ứng
tốt
hơn các
yêu cẩu của khách
hàng,
qua đó làm tăng
hiệu
quả
kinh
doanh

tạo
một
vị
trí
vững chắc
trên
thị
trường.
Các
chi

sản
phẩm
trong
một số ngành và nó
ảnh
hưởng
tới
sức cạnh
tranh
của doanh
nghiệp.
• Sự
chấp nhận
mạo
hiểm,
rủi
ro trong kinh
doanh
Quá trình
kinh
doanh
nói
chung
đã
chờ
ra
rằng
lợi
nhuận doanh
nghiệp

học)
vào
những
mặt hàng
mới,
những
lĩnh
vực
mới mà
nguy

rủi
ro
đầu tư
ở đó thường cao và khó
khăn.
Đây là một
khuynh
hướng
khách
quan
trong
quá
trình
cạnh
tranh
của các
doanh
nghiệp.
Việc

các
doanh
nghiệp
phải
biết
phát
hiện,
dự báo
những sản
phẩm
thay thế
những sản
phẩm đang
cạnh
tranh
cũng
như các
lĩnh
vực hoặc
nơi nào có
nhiều
triển
vọng
đầu tư
trong
tương
lai
nhằm đảm bảo an toàn cho
việc
đáu

quá trình
cạnh
tranh.
Việc
sử dụng
công cụ này đòi
hỏi
các
doanh
nghiệp
phải

bản
lĩnh

tài
năng.
1.1.4.
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh
của doanh
nghiệp
Thông
thường,
người
ta
đánh giá năng
lực
cạnh
tranh

động;
trình độ
công
nghệ

lao
động,
Tuy
nhiên,
những
khả năng này
lại
bị tác động đồng
thời
bởi
nhiều
yếu
tố
bên ngoài ở
trong
nước và
quốc
tế.
1.1.4.1.
Các nhân
tố
quốc
tế
Các nhân
tố

mâu
thuẫn
giữa hai
chính phủ có
thể
phá hủy hoàn toàn các mối
quan
hệ
kinh
doanh
giữa hai
nước.
Nếu mối
quan
hệ chính
trị
song
phương được
cải
thiện
sẽ
thúc đẩy thương mại phát
triển,
tạo điều
kiện
thuận
lợi
cho các
doanh
nghiệp

quốc
tế

Ngân hàng Thế
giới
chịu
tác động
bởi
quan
điểm
của các nước công
nghiệp
phát
triển,
những
nước có
vai
trò tài
trợ
chính
cho
các
tổ
chức
này.
Hệ
thống luật
pháp
quốc
tế,

lẻ
thông qua
việc
tạo ra
môi
trường
kinh
doanh quốc
tế
ổn
định

thuận
lợi.
• Xu
hướng
phát
triển

hội
nhập
kinh tế
khu vực
và toàn
cầu
hóa.
Dưới
tác
động
của xu

lại,
quá trình toàn cầu hóa
kinh
tế
diễn ra
nhanh
hơn
lại
có tác động
trở
lại
vào tăng trưởng
kinh tế
của
mỗi
quốc
gia.
Tuy
nhiên,
hội
nhập
khiến
doanh
nghiệp
phải đối
mặt
với
thách
thức
lớn

quốc
tế:
Ngày nay sự bành trướng của các
tập
đoàn đa
quốc
gia
đang là mối đe dổa
đối với
doanh
nghiệp
vừa

nhỏ
ở các nước đang phát
triển.
Các
tập
đoàn này có
lợi
thế
về
vốn,
kỹ
thuật

kinh
nghiệm
tổ
chức

thiệt

dễ dẫn
đến phá
sản.
• Các nhân
tố
hỗ
trợ
khác như
đặc
tính
truyền
thống

hội,
môi trường văn
hóa,
ngôn
ngữ,
của
các nước
cũng
góp
phứn quan
trọng
gãy ảnh hưởng
tói
sức
cạnh

bằng doanh
số,
lợi
nhuận
cao hơn và một
thị
trường
lớn
hem và
thuứn nhất
hơn;
từ
đó kéo
theo
sự tăng trưởng
kinh
tế

nâng
cao
mức
tiêu
dùng các
sản
phẩm
nhập
ngoại
của
khách hàng nước ngoài.
1.1.4.2.

Các nhân
tố
này tác động đến sức
cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp theo
các hướng
sau:
Tốc độ
tăng trưởng kinh
tế:
nền
kinh tế
tăng trưởng cao
thì
thu
nhập của
dân

tăng,
khả năng
thanh
toán của họ tăng dẫn
tới
sức mua các
loại
hàng hóa và
dịch

suy
thoái sẽ làm
gia
tăng áp
lực
cạnh
tranh

tạo ra nhiều
"nguy
cơ"
đối với
doanh
nghiệp.
Lãi
suất:
Lãi
suất
cho vay của các ngân hàng ảnh hưởng
lớn
đến sức
cạnh
tranh
của
các
doanh
nghiệp nhất

đối với
các


khi
đối thủ
cạnh
tranh

tiềm
lực lớn
về vốn.
15
Tỷ
giá hối
đoái

giá
trị
của đống
tiền trong nước.
Nếu đổng
nội tệ
lên giá,
các
doanh
nghiệp
trong
nước sẽ
giảm
sức
cạnh
tranh

tranh
của các
doanh
nghiệp
trong
nước sẽ
bị giảm ngay
trên
thị
trường
trong
nước.
Ngược
lại,
khi
đổng
nội tệ
giảm giá,
sức
cạnh
tranh
của
các
doanh
nghiệp
tăng cả trên
thị
trường
trong
nước và

tế,
tâng
lãi
suất
và gây
ra
nhiều biến
động về
tỷ
giá
hối
đoái.

doanh
nghiệp
không
thể
dự đoán trước
nên thường
hạn chế đầu tư
trong
giai
đoạn
lạm
phát
bởi tỷ
lệ sinh
lời
trong
doanh

luật:
một
thể
chế chính
trị,
pháp
luật

ràng,
rộng
mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự
thuận
lợi,
bình đẳng cho các
doanh
nghiệp
tham
gia
cạnh
tranh

cạnh
tranh

hiệu quả.
Chẳng
hạn,
các
luật
thuế

tranh
của
doanh
nghiệp
sản
xuất
kinh
doanh
trong
nước.
• Trình độ
khoa học
và còng
nghệ.
Trình độ
khoa học
công
nghệ
có ý
nghĩa
quyết
định đến
hai
yếu
tố
cơ bẳn
nhất tạo
nên
sức cạnh
tranh

nói
chung.
Đối
với
những
nước chậm và đang phát
triển,
giá và
chất
lượng có ý
nghĩa
ngang nhau
trong
cạnh
tranh.
Tuy
nhiên,
trên
thế
giới
hiện
nay,
đã
chuyển
từ
cạnh
tranh
về
giá
sang cạnh

tranh
của
mình.
• Nhân
khẩu:
Đây

nhân
tố tạo lập
quy

thị
trường,
được đề
cập
trên
các
(chia
cạnh:
quy mô và
tốc
đấ tăng
trưởng
dân
số;
những
thay đổi trong gia
đình

di

trọng tạo
lập
nên nhân cách và
lối
sống
của
người
tiêu
dùng,
đồng
thời
cũng
là cơ sở để cho
các nhà
quản lý
lựa
chọn

điều chỉnh
các
quyết
định
kinh
doanh.
• Các nhân
tố
thuấc
môi trường
ngành.
Các nhân

trị
kinh
doanh
Havard)
đã đưa
ra
mô hình
5
lực
lượng
cạnh
tranh trong
ngành
kinh
doanh
bao gồm:
Đôi
thủ
cạnh tranh tiềm
ẩn:

các
doanh
nghiệp
hiện
nay chưa
xuất
hiện
trên
thị

tối
thiểu;
các
lợi
thế
đặc
biệt
của
các
đối thủ hiện có;
và chính sách
của
Nhà
nước.
Các
đối
thủ
cạnh
tranh hiện
lại
trong ngành:
Thông thường cường đấ
cạnh
tranh giữa
các
đối thủ hiện
tại
được
quyết
định bài các yếu

lui.
Sức ép của khách
hàng:
Khách hàng sẽ có khả năng ép giá
đối
với
doanh
nghiệp
trong
các
trường
hợp
như:
khi
họ mua
với khối
lượng
lớn
so
với
doanh
thu
của
toàn bấ
ngành,
khi
họ có
thu
nhập
thấp;

cấp có
thế lực
mạnh
hơn
doanh
nghiệp
trong
các
trường
hợp
như:
khi
họ độc
quyền cung cấp
một
loại
vật

thiết
yếu
cho
doanh
nghiệp; khi
doanh
nghiệp
không
phải
là khách hàng
quan
trọng

Sự
xuất hiện
các sản
phẩm
thay
thế:
Khi
giá bán
sản
phụm
của doanh
nghiệp
vượt
quá một
giới
hạn nào
đó,
khách hàng sẽ
chuyển
sang
sử
dụng
những
sản
phàm
thay
thế,
do đó làm ảnh
hưởng
đến khá năng tiêu

nghiệp,
của
toàn ngành.
Nói tóm
lại,
khi
đánh giá các nhân
tố
tác động đến sức
cạnh
tranh
thì các
doanh
nghiệp
cần
phải
xem xét đụy đủ các nhân
tố
tác
động,
từ
đó mà
"gạn
đục
khơi
trong"
tìm
ra
các
biện

phải
làm rõ đó

văn hóa và
kinh
doanh.
1.2.1.1.
Khái niêm văn hóa
Văn hóa là một khái
niệm

nhiều
định
nghĩa
nhất bởi
góc
nhìn,
cách
tiếp
cận
và ý
kiến
khác
nhau
trên
rất
nhiều lĩnh
vực của
các nhà nghiên
cứu.

quá khứ

hiện
tại.
Qua các
thế
kỷ,
hoạt
động
sáng
lạo
ấy đã
hình thành
nên hệ
thống
các
giá
trị,
các
truyền thống

thị
hiếu
-
những yếu tố
18
xác
định
đặc
tính riêng

viết:
"Vì
lẽ
sinh
tồn
cũng như mục
đích
của cuộc
sống, loài người
mới
sáng
tạo

phát
minh ra ngôn
ngữ,
chữ
viết,
đạo
đức,
pháp
luật,
khoa
học, tôn
giáo,
văn
học,
nghệ
thuật,
những

của nó mà
loài người
đã
sản
sinh
ra
nhằm
thích
ứng những nhu cầu
đời
sống

đòi hỏi của sự
sinh
tồn" [25]
Trong
cuốn
"Văn hóa
kinh
doanh

triết

kinh
doanh",
TS. Đỗ
Minh
Cương cho
rằng:
"Văn hóa

lực của con
người
chính
là sức
mạnh
cốt lõi,

cội
nguồn
của con
người,
sáng
tạo ra mọi của
cải
vật
chất

tinh
thửn
cho xã
hội.
Tóm
lại,
văn hóa là toàn bộ
những
hoạt
động
vật
chất


mực xã
hội.
Nói
tới
văn hóa là nói
tới
con
người,
nói
tới
việc
phát huy
những
năng
lực
bản
chất
của con
người,
nhằm
hoan
hiện
con
người,
hoàn
thiện

hội.
Như
vậy,

hiện diện trong tất
cả các mối
quan
hệ,
trong
hoạt
động

trong
sản phẩm của
con
người.

Đối với
một
cộng
đổng

hội,
văn hóa
thường
thể
hiện
ra
như một
lối
sống,
một
kiểu
ứng xử riêng

thể
hiện
như

bản
sắc của cộng
đổng,
nó có
chức
năng
điểu
tiết
hành
vi
của
các thành
viên,
tạo
nên
sự
thống nhất
hành động
trong
cộng
đồng xã
hội
ấy.
1.2.1.2.
Khái niêm
kinh

động
vé mặt
kinh tế
để
sinh
lợi"
[24]
Kinh
doanh
gồm
nhiều
loại
hình khác
nhau:
buôn bán (thương
mại),
sản
xuất,
dịch
vụ
(du
lịch,
thông
tin,

vấn,.
)•
Kinh
doanh


động đòi
hỏi

tri
thức tổng
hợp,
bao gồm các
tri
thức
về
kinh
tế,
kỹ
thuật,
tâm
lý,
chính
trị,

hội,
Người
ta
còn xem xét
kinh
doanh
như là một
nghệ
thuật với
đẩy đủ
tính

kinh
doanh là
một hệ
thống
bao gồm
nhiều nghiệp
vụ
khác
nhau
như:
quản
trị kinh
doanh,
marketing,
kỹ
thuật
và công
nghệ
sản
xuất,
quản

chất
lượng,
mua bán hàng hóa, kế toán và tài
chính,

vấn,
bảo
hành,

kinh
doanh.

vậy,
nếu nói
vắn
tắt
thì
kinh
doanh là
một
hoạt
động
kiếm
lời.
Kinh
doanh
là một
nghề
chính đáng
xuất
phát
tặ
nhu cầu phát
triển
của xã
hội,
do
sự
phân công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status