nâng cao năng lực cạnh tranh của dược phẩm Việt Nam - Pdf 24

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Dược phẩm là một loại hàng hóa có tính chất đặc biệt không chỉ ảnh hưởng đến
sức khỏe và tính mạng của con người, không chỉ được sử dụng phục vụ cho người
tiêu dùng là dân cư mà còn là hàng hóa thiết yếu đối với bất kỳ quốc gia nào. Phạm vi
và nhu cầu sử dụng thuốc là vô cùng lớn.
Việt Nam là nước có dân số khá đông 86 triệu người, khí hậu nóng ẩm dẫn đến
nhiều dịch bệnh. Một thị trường rộng lớn và nhiều tiềm năng nhưng ngành dược
nước ta vẫn chưa khai thác được. Phần lớn dược phẩm phải nhập khẩu, Việt Nam
mới chỉ sản xuất được các loại thuốc thông thường. Vậy công nghiệp dược Việt Nam
đang đứng ở vị trí nào?
Theo cách đánh giá của WHO (World Health Organization) công nghiệp dược
các nước được chia ra thành 4 cấp độ: cấp độ 1 (hoàn toàn nhập khẩu), cấp độ 2 (sản
xuất được một số generic, đa số phải nhập khẩu), cấp độ 3 (có công nghiệp dược nội
địa sản xuất generic, xuất khẩu được một số dược phẩm), cấp độ 4 (sản xuất được
nguyên liệu và phát minh ra thuốc mới). Công nghiệp dược Việt Nam đứng ở vị trí
2,5 – 3 theo thang phân loại 1- 4 của WHO (báo cáo của TS.Cao Minh Quang cục
trưởng cục quản lý dược Việt Nam trong hội nghị ngành dược). Dược nội địa mới
đáp ứng được hơn 50℅ nhu cầu trong nước mà chủ yếu là các loại thuốc thông
thường thiếu các loại thuốc đặc trị có giá trị cao. Phân khúc thuốc chuyên khoa chủ
yếu do dược nước ngoài chiếm giữ.
Khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, thuế và các hàng rào bảo hộ khác giảm
xuống dẫn đến sự tràn ngập của dược nước ngoài không chỉ chiếm giữ phân khúc
thuốc đặc trị mà còn “lấn sân” sang phân khúc thuốc thông thường đã đẩy dược nội
địa gặp rất nhiều khó khăn. Trong thời kỳ hội nhập, mọi doanh nghiệp phải cạnh
tranh một cách công bằng, với một quốc gia đang phát triển và không có công nghệ
nguồn như Việt Nam thì việc ngành dược xác định được bước đi đúng và trọng điểm
đầu tư là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của ngành.
Để dược phẩm Việt Nam có thể tồn tại và phát triển chúng ta cần phải trả lời
một loạt các câu hỏi sau. Đó là:
- Dược phẩm Việt Nam đang đứng ở vị trí nào: được đánh giá thông qua

Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Đoàn Thị Thùy Dương
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DƯỢC PHẨM VIỆT NAM
I. Dược phẩm và phân loại dược phẩm
1. Quan niệm về dược phẩm và phân loại
1.1. Khái niệm về dược phẩm:
Một trong các đối tượng nghiên cứu của báo cáo này là dược phẩm, vì thế cần
làm rõ khái niệm về dược phẩm. Dược phẩm có thể hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất là
công dụng chữa bệnh và thứ hai là sản phẩm của quá trình sản xuất, được lưu thông,
phân phối và buôn bán trên thị trường.
* Thứ nhất, đứng từ góc độ công dụng mà nhìn nhận, dược phẩm là một khái
niệm khá phức tạp. Theo Bộ y tế, dược phẩm là thuốc và các hoạt động liên quan đến
thuốc.
Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng
bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm
thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm
chức năng.
Vắc xin là chế phẩm chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn
dịch, được dùng với mục đích phòng bệnh.
Sinh phẩm y tế là sản phẩm có nguồn gốc sinh học được dùng để phòng bệnh,
chữa bệnh và chẩn đoán bệnh cho người.
Nguyên liệu làm thuốc là chất tham gia vào thành phần cấu tạo sản phẩm trong
quá trình sản xuất thuốc.
Thuốc thành phẩm là dạng thuốc đã qua tất cả các giai đoạn sản xuất, kể cả
đóng gói trong bao bì cuối cùng và dán nhãn.

mức gia tăng thu nhập của người dân…. Tùy theo điều kiện kinh tế mà mỗi người có
nhu cầu thuốc khác nhau. Thông thường, những người có thu nhập cao thích lựa chọn
các loại thuốc ngoại (giá thành cao) trong khi đó những người có thu nhập thấp thì
lựa chọn các sản phẩm có giá thấp hơn (thuốc nội).
→ Đứng từ góc độ thị trường mà xem xét, những đặc điểm nêu trên của dược
phẩm có thể dẫn tới a) Độc quyền trong sản xuất và kinh doanh dược phẩm; b) Bí
mật công nghiệp trong chế biến và sản xuất; c) Năng lực cạnh tranh của dược phẩm
không chỉ phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, mà còn phụ thuộc vào trình độ chuyên
môn của đội ngũ thày thuốc của từng quốc gia.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, cần giảm độc quyền, công khai về công
nghệ, đồng thời nâng cao năng lực và nhận thức của đội ngũ thày thuốc.
1.2. Phân loại dược phẩm (đứng từ góc độ sản xuất)
Do thị trường dược phẩm hiện nay quá rộng lớn (có thể xem như rừng thuốc) ta
không thể nào nhớ hết từng món thuốc. Do đó việc phân loại dược phẩm là rất quan
trọng. Phân loại dược phẩm giúp người tiêu dùng đặc biệt là các bác sĩ, y tá… biết
được một thuốc nằm trong nhóm thuốc nào, biết tính chất chung của nhóm thuốc đó,
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
từ đó có thể suy ra tính chất của một thuốc cụ thể để lựa chọn trong sử dụng. Dưới
đây là 3 cách phân loại dược phẩm Việt Nam cơ bản nhất.
Theo cách thức sử dụng, dược phẩm chia thành hai loại: thuốc OTC (hàng
không kê toa, chủ yếu bán ở các nhà thuốc bán lẻ) và thuốc điều trị (thuốc có kê toa,
sử dụng trong bệnh viện và các trung tâm y tế).
Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, thống kê thuốc kê toa và thuốc không kê toa
chỉ mang ý nghĩa tương đối do các loại thuốc điều trị vẫn được bán tự do trên thị
trường. Do đó với cách phân loại này có thể tạm thống kê theo thuốc phân phối vào
hệ thống bệnh viện và thuốc phân phối ra thị trường. Theo thống kê của Cục quản lý
dược Việt Nam, năm 2008, giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện là 12.322 tỷ
VND (tương đương 760 triệu USD), chiếm khoảng 50% giá trị tiền thuốc toàn thị

tranh không hoàn hảo, cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang. Cạnh tranh được nẩy sinh
từ các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục
đích tối đa hóa lợi nhuận. Cạnh tranh là động lực phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy
thị trường phát triển, từ đó thúc đẩy xã hội phát triển. Theo thời gian, tính chất cạnh
tranh trong nền kinh tế sẽ ngày càng quyết liệt hơn.
Năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh được nhắc đến rất nhiều trên báo chí
cũng như các phương tiện thông tin đại chúng khác. Song, năng lực cạnh tranh vẫn là
một khái niệm lỏng lẻo, có nhiều cách hiểu thậm chí rất khác nhau. Theo học giả kinh
tế Michael Porter, là một người nổi tiếng trong lĩnh vực kinh tế ông cũng không đưa
ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh. Ông cho rằng: không có một định nghĩa thật sự
về năng lực cạnh tranh và không có lý thuyết nào giải thích nó được chấp nhận một
cách phổ biến .
Theo tạp chí kinh tế và phát triển, số 84 tháng 6 năm 2004, Ths. Phạm Đình
Huỳnh có đưa ra khái niệm như sau: “ Năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được và
duy trì thị phần có lãi ”.
Còn theo OECD thì năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối
cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các
ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện
cạnh tranh quốc tế.
Từ những khái niệm chung về năng lực cạnh tranh của hàng hóa nêu trên, cho
thấy năng lượng cạnh tranh phụ thuộc vào điều kiện, bối cảnh phát triển của đất nước
trong từng thời kỳ, có thể đánh giá bằng các chỉ tiêu kinh tế xã hội cụ thể như:
- Thị phần của sản phẩm trên thị trường so với sản phẩm cùng loại;
- Động thái thay đổi thị phần theo thời gian.
Năng lực cạnh tranh có thể chia làm ba loại, năng lực cạnh tranh quốc gia, năng
lược cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm. Trên thực tế, năng
năng cạnh tranh của sản phẩm là chung nhất, là thước đo đánh giá năng lực cạnh
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
nước và nước ngoài. Ngoài ra, còn thông qua một số tiêu chí khác như: nguồn lực về
vốn, công nghệ, con người, quản lý; chất lượng và giá cả sản phẩm; hệ thống phân
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phối và dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp; chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
Theo mô hình kim cương của Micheal Porter, lợi thế cạnh tranh của một doanh
nghiệp, một ngành không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong nội bộ doanh
nghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài trong môi trường kinh doanh quốc
gia bao gồm: các điều kiện về yếu tố sản xuất, sức cầu về hàng hóa, các ngành phụ
trợ, môi trường cạnh tranh ngành và vai trò của Chính Phủ.
2.2.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của ngành hay doanh nghiệp lại được thể hiện thông qua
năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của nó. Đây cũng là cái thể hiện rõ nhất
năng lực cạnh tranh của các chủ thể nói chung.
Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 317, tháng 10 năm 2004 của TS Nguyễn
Văn Thanh: “Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm có
được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh”
Năng lực cạnh tranh sản phẩm được nhận biết thông qua lợi thế cạnh tranh của
sản phẩm đó với các sản phẩm khác cùng loại.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể được đánh giá thông qua: giá sản
phẩm, sự vượt trội về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thương
hiệu… so với đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một
thời điểm.
2.2.4. Mối quan hệ giữa ba cấp cạnh tranh
Có thể nói ba cấp độ của năng lực cạnh tranh mặc dù có sự độc lập tương đối
nhưng giữa chúng vẫn tồn tại mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Năng lực cạnh

Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong
nước với đồng tiền của quốc gia khác. Thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp
đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt đối với các sản phẩm phải nhập khẩu
nguyên liệu đầu vào hay các sản phẩm có lợi thế về xuất khẩu. Nếu đồng nội tệ lên
giá, sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu sẽ giảm và như vậy khả năng cạnh
tranh của các sản phẩm trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước; đồng
thời xuất khẩu sẽ giảm do sản phẩm trong nước tăng giá. Và ngược lại, khi đồng nội
tệ giảm giá thì khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nội địa và thị trường
xuất khẩu cũng sẽ tăng lên.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người: nền kinh tế phát
triển, thu nhập bình quân đầu người cao dẫn đến khả năng tiêu thụ hàng hóa cao. Nền
kinh tế phát triển cùng với các yếu tố như lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái,… ổn
định sẽ tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, thu hút đầu tư nước
ngoài. Từ đó dẫn tới nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
* Các yếu tố chính trị, pháp luật
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Yếu tố chính trị, pháp luật được thể hiện ở mức độ ổn định chính trị của quốc
gia, cơ sở hành lang pháp lý…. Các sản phẩm muốn được đưa ra tiêu thụ trên thị
trường phải tuân theo các quy định của Chính phủ về chất lượng, mẫu mã…Những
quy định này có thể là cơ hội hoặc mối đe dọa với các sản phẩm. Đây cũng là yếu tố
ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
mức đầu tư vốn của nước ngoài vào việc phát triển sản phẩm đồng thời ảnh hưởng
đến mức độ chi mua hàng hóa của người tiêu dùng.
* Các yếu tố về văn hóa xã hội
Tất cả các doanh nghiệp đều phải phân tích các yếu tố xã hội để nhận biết các
cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra đối với sản phẩm của mình. Khi một hay nhiều yếu tố
thay đổi chúng có thể tác động đến các sản phẩm như trình độ dân trí, tập quán thị
hiếu của người tiêu dùng, truyền thống văn hóa dân tộc… Các yếu tố văn hóa xã hội

một doanh nghiệp có thể hoạt động. Việc nhà cung cấp đẩy mức giá lên cao sẽ đẩy
giá sản phẩm tăng lên làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Đồng thời nhà
cung cấp là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng của sản phẩm.
Vì vậy, để giảm áp lực từ phía nhà cung cấp đồng thời để tránh rủi ro thì các doanh
nghiệp cần phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau. Đây là
một yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
* Áp lực từ sản phẩm cạnh tranh: Sản phẩm cạnh tranh là những sản phẩm cùng
loại, có cùng tính năng tác dụng của các đối thủ cạnh tranh và cùng được tiêu thụ trên
một thị trường. Nếu trên thị trường có càng nhiều sản phẩm cạnh tranh và các sản
phẩm có sức cạnh tranh thực sự thì càng gây sức ép cho sản phẩm của doanh nghiệp.
Sản phẩm có thể cạnh tranh bằng giá hoặc bằng các yếu tố như chất lượng, mẫu mã,
thương hiệu… Mà hiện nay khi đời sống ngày càng được nâng cao thì sự cạnh tranh
bằng các yếu tố chất lượng, mẫu mã, thương hiệu càng mạnh mẽ hơn so với cạnh
tranh bằng giá. Vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì các doanh
nghiệp phải thường xuyên đầu tư đổi mới công nghệ.
* Áp lực từ đối thủ tiềm ẩn: Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện không ở
trong ngành nhưng sản xuất cùng một loại sản phẩm và có khả năng tham gia hoạt
động kinh doanh trong ngành đó. Khi có đối thủ mới tham gia trong ngành có thể là
yếu tố làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm hiện đang trong ngành từ đó làm
giảm lợi nhuận của của doanh nghiệp do họ dựa vào khai thác các năng lực sản xuất
mới với mong muốn giành được một phần thị phần.Do đó, để bảo vệ cho vị trí cạnh
tranh của sản phẩm doanh nghiệp thường quan tâm đến việc duy trì hàng rào hợp
pháp ngăn sự xâm nhập từ bên ngoài.
Theo nhà kinh tế học Joe Bain, ông xác định ba yếu tố trở ngại chủ yếu đối với
việc nhảy vào một ngành kinh doanh: sự ưa chuộng sản phẩm, ưu thế về chi phí thấp,
tính hiệu quả của sản xuất lớn. Nếu các doanh nghiệp có được những lợi thế này sẽ
giữ được vị trí cạnh tranh cho sản phẩm của mình và buộc sản phẩm của các doanh
nghiệp mới thâm nhập vào đương đầu với những khó khăn lớn.
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
11

đứng vững chắc trên thị trường. Một sản phẩm mới ra đời không thể thiếu được sự
đóng góp của quá trình nghiên cứu và phát triển ( R&D) sản phẩm. Công nghệ hiện
đại sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với
thị hiếu của người tiêu dùng, giá thành hạ do năng suất lao động tăng, hao phí nhỏ…
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Tình hình tài chính: tài chính là yếu tố có vai trò quan trọng đảm bảo cho việc
duy trì, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu một doanh
nghiệp có tình hình tài chính tốt, khả năng huy động vốn lớn sẽ cho phép doanh
nghiệp có điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, đa dạng hóa
đổi mới, nâng cao chất lượng của sản phẩm; có khả năng thực hiện tốt công tác bán
hàng và dịch vụ sau bán… tạo nên khả năng cạnh tranh cao hơn cho sản phẩm.
II. Các tiêu chí và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1. Phương pháp luận phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh
1.1. Đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm dược
a) Vị trí của đánh giá hiện trạng năng lược cạnh tranh: Nâng cao năng lực cạnh
tranh là vấn đề rất phức tạp và khó khăn, dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa
nguyên nhân và kết quả. Nguyên nhân là cái có trước, nên nguyên nhân tạo ra năng
lực cạnh tranh phải tìm ở hiện trạng, trước khi đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh. Vì thế, cần tìm nguyên nhân dẫn tới năng lực cạnh tranh từ hiện
trạng trong mối quan hệ với ngành nghề sản xuất kinh doanh dược phẩm.
b) Vai trò của đánh giá hiện trạng ngành dược và năng lực cạnh tranh: Phát hiện
mối quan hệ năng lực cạnh tranh với các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu như công nghệ
sản xuất, kinh doanh, quản lý, tổ chức. Đánh giá hiện trạng là cơ sở để tìm ra nguyên
nhân dẫn đến sự hình thành năng lực cạnh tranh và tìm ra những giải pháp thích hợp
để đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ưu điểm và hạn chế của đánh giá hiện trạng: Từ những phân tích nêu trên cho
thấy ưu điểm của đánh giá hiện trạng là nó chỉ rõ được mối quan hệ nguyên nhân, kết
quả ở hiện tại. Từ hiện trạng tổng hợp được các hệ số, thể hiện mối quan hệ qua thực

1.2.2. Thị phần của sản phẩm trên thị trường qua từng năm
Thị phần thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm. Một sản phẩm
có thị phần lớn và tăng dần sẽ là một sản phẩm có uy tín với người tiêu dùng, được
nhiều người tiêu dùng lựa chọn.
Thị phần đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Thị phần càng lớn thì
năng lực cạnh tranh của sản phẩm càng cao và ngược lại. Tuy nhiên với các sản phẩm
mới xâm nhập thị trường thì không thể lấy chỉ tiêu này để đánh giá được mà phải kết
hợp thêm chỉ tiêu Tốc độ tăng trưởng của doanh thu hay thị phần.
Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh
cao và ngược lại.
1.2.3. Chất lượng sản phẩm so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh
Khi đời sống của người dân ngày càng nâng cao hay đối với những nước có thu
nhập cao thì giá cả không phải mối quan tâm hàng đầu của họ nữa. Người tiêu dùng
quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm là sự kết hợp hài hòa
của năng suất lao động, trình độ công nghệ, mức độa an toàn của sản phẩm, các biện
pháp bảo vệ thực vật… Mặt khác, khi hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra, để nâng cao
sức cạnh tranh của sản phẩm thì yếu tố chất lượng sản phẩm đóng góp quan trọng cho
sự tồn tại của sản phẩm trên thị trường. Sản phẩm đó không chỉ đạt tiêu chuẩn quốc
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gia mà phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Khi đó, chất lượng sản phẩm nói lên năng lực
cạnh tranh của sản phẩm.
1.2.4. Giá cả sản phẩm
Đây là chỉ tiêu định lượng mà ta dễ dàng nhận thấy nhất.
Nếu các nhân tố khác không đổi thì sản phẩm nào có được giá bán thấp hơn sẽ
có được năng lực cạnh tranh tốt hơn. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành của sản
phẩm là chi phí sản xuất, nhu cầu về sản phẩm…Trong đó chi phí sản xuất là yếu tố
nảh hưởng lớn nhất đến giá bán sản phẩm. Chi phí sản xuất thấp hơn sẽ làm giá bán
sản phẩm thấp hơn, nó sẽ có sức cạnh tranh tốt hơn về giá. Vì vậy, giá là một công cụ

X
i
: là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng i.
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
N
i
: là kim ngạch nhập khẩu mặt hàng i.
-1 ≤ RCA ≤ 1
Nếu RCA = -1 thì nước đó chỉ có nhập khẩu mà không xuất khẩu sản phẩm i:
sản phẩm i của nước đó không có năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Nếu RCA = 1 thì nước đó chỉ có xuất khẩu mà không nhập khẩu sản phẩm i: sản
phẩm i của nước đó có năng lực cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.
Nếu RCA > 0 thì sản phẩm i của nước đó có năng lực cạnh tranh.
Nếu RCA < 0 thì sản phẩm i của nước đó không có năng lực cạnh tranh.
Nếu RCA ≈ 0 thì tình trạng không rõ ràng.
Phương pháp đánh giá theo hệ số cạnh tranh có ưu điểm đơn giản, dễ thực hiện
và không cần nhiều số liệu. Tuy nhiên, hệ số này chỉ hoàn toàn dựa vào kim ngạch
xuất nhập khẩu mà không tính toán tới hàng loạt các yếu tố tác động tới năng lực
cạnh tranh của sản phẩm như: các chính sách của Chính Phủ (thuế quan, hạn ngạch,
trợ cấp hỗ trợ xuất nhập khẩu…)
III. Vai trò và ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh
vực dược phẩm
1. Việt Nam là nước đông dân, nhiều loại bệnh tật cần có một ngành dược tầm
cỡ đủ sức cạnh tranh trên thế giới
Việt Nam nằm trong cực đông nam của bán đảo Đông Dương, vùng nhiệt đới
gió mùa nóng ẩm với ba mặt giáp biển. Do đó nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa,
độ ẩm tương đối trung bình khoảng 84% một năm, lượng mưa hàng năm ở mọi vùng
đều lớn dao động từ 120 – 300 cm và một số nơi có thể gây ra lũ. Địa hình tương đối

Hiện nay, mặc dù dược phẩm mà đặc biệt là thuốc tân dược Việt Nam đã có
nhiều bước tiến lớn trong sự phát triển nhưng vẫn còn đang phải “ loay hoay ” trên
thị trường. Nước ta mới chỉ sản xuất được các loại thuốc thông thường như hạ sốt,
giảm đau,…còn các loại thuốc đặc trị vẫn phải nhập của nước ngoài với mức giá cao.
Do đó trên thị trường dược phẩm Việt Nam, thuốc nội không thể cạnh tranh được với
thuốc ngoại cả về chất lượng, chủng loại, mẫu mã…
Đồng thời, như đã nói ở trên, dược phẩm là một mặt hàng quan trọng liên quan
trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người và Việt Nam là một thị trường rộng
lớn nhiều tiềm năng.
Vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của dược phẩm Việt Nam là nhiệm
vụ rất quan trọng cần phải giải quyết.
4. Yêu cầu hội nhập đối với các mặt hàng nói chung và dược phẩm nói riêng
ngày càng cao
Ngày 25-7-1995, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các
quốc gia Ðông-Nam Á (ASEAN) và ký Nghị định thư tham gia Chương trình ưu đãi
thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)/Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) (CEPT/AFTA). Chúng ta cũng là một trong số 25 thành viên sáng lập Diễn
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) vào tháng 3-1996 và tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương (APEC) từ tháng 11-1998. Việt Nam đang tích cực đàm
phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Và vào ngày 7 tháng 11 năm
2006 Việt Nam đã chính thức gia nhập vào cuộc chơi toàn cầu này. Điều này đã mở
ra cho nền kinh tế Việt Nam những cơ hội và thách thức mới. Trong đó dược phẩm
cũng không nằm ngoại lệ.
Sau khi gia nhập WTO,bên cạnh nhiều điều kiện hội nhập sâu vào trong nền
kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh diễn ra gay gắt hơn, với nhiều
"đối thủ" hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đồng thời, Việt Nam phải cam kết
mở cửa thị trường, giảm thuế và các hàng rào bảo hộ khác, minh bạch hóa chính

nhiễm trùng các vết thương. ở chiến trường miền Nam xuất hiện phương pháp trị
liệu Filatov, toa thuốc Nam căn bản góp phần to lớn vào việc giải quyết các khó
khăn về thuốc.
2. Giai đoạn 1954 – 1975
Trong 10 năm, 1954 - 1964, Ngành Y tế đã tập trung xây dựng và phát triển y
tế ở nông thôn làm cho bộ mặt nông thôn ở miền Bắc thay đổi rõ rệt. Năm 1961 lần
đầu tiên chúng ta sản xuất được vaccin sabin phòng bệnh bại liệt, rồi vaccin BCG để
đến ngày nay chúng ta có quyền tự hào đã thanh toán được bệnh đậu mùa (1987) và
bệnh bại liệt (2000).
Nhưng năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân
ở miền Bắc vô cùng ác liệt. Trước tình hình đó Ngành Y tế đã xác định được con
đường đi thích hợp là phải chuyển hướng và hoạt động của ngành từ thời bình sang
thời chiến, làm thế nào để công việc cấp cứu, mổ xẻ được tiến hành ngay tại chỗ. Cơ
sở y tế cũng nằm trong mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ nên phải sơ tán, phân tán
về nông thôn. Phòng mổ, nhà hộ sinh phải đưa xuống hầm hào dưới mặt đất hoặc
vào các hang đá. Ngành Y tế đã tăng cường cán bộ, phương tiện, đưa những kỹ thuật
cơ bản về cho xã, sản xuất huyến thanh tại huyện, phát động phong trào vệ sinh yêu
nước chống Mỹ trong cả nước.
Miền Bắc vừa lo giải quyết các vấn đề về cấp cứu phòng không, chống chiến
tranh phá hoại, vừa hết lòng chi viện cho miền Nam về cán bộ, thuốc men, trang
thiết bị. Lực lượng y tế cách mạng ở miền Nam, sau một thời gian dài hoạt động bí
mật,đã xuất hiện công khai sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền
Nam Việt Nam được thành lập. Với tinh thần tự lực tự cường, với sự chi viện của
miền Bắc, mặc dầu phải chịu đựng những hy sinh, tổn thất to lớn về cán bộ và cơ sở
vật chất, y tế cách mạng miền Nam ngày càng lớn mạnh và phát triển rộng khắp
Thực trạng của ngành dược phẩm Việt Nam.
3. Giai đoạn từ 1975 đến nay
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

triển kinh tế được áp dụng nhưng nhìn chung nền kinh tế toàn cầu vẫn đang trong giai
đoạn dần hồi phục. Việt Nam đã là thành viên của WTO, cho nên mặc dù Việt Nam
mới hội nhập nhưng cũng đã chịu những ảnh hưởng sâu sắc. Cũng như nhiều ngành
khác, các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm gặp rất nhiều khó khăn do diễn biến
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phức tạp của thời tiết, dịch bệnh, và việc ảnh hưởng của sự suy giảm kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia dược Việt Nam được xem là đang
nằm trong giai đoạn tăng trưởng.
Tình hình tiêu dùng thuốc tân dược của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, khi đời sống ngày càng được nâng cao thì người dân
ngày càng gia tăng các khoản chi tiêu về dịch vụ y tế, đặc biệt là chi tiêu cho dược
phẩm.
Bảng 1: Tiêu dùng thuốc trong nước giai đoạn 2001 – 2008
Năm Tổng trị giá tiền thuốc sử
dụng
(1.000USD)
Bình quân tiền thuốc đầu
người
(USD)
2001 472.356 6,0
2002 525.807 6,7
2003 608.699 7,6
2004 707.535 8,6
2005 817.396 9,85
2006 956.353 11,23
2007 1.136.353 13,39
2008 1.425.657 16,45
Nguồn: Cục quản lý dược Việt Nam

khoảng 2.000 loại thuốc mới đăng ký và được cấp phép đăng ký lưu hành, trong khi
vào thời điểm năm 2003 mỗi năm chỉ có khoảng 700 sản phẩm mới được đăng ký
mỗi năm. Hiện nay cả nước có 171 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm, trong đó 92
doanh nghiệp sản xuất tân dược, còn lại là các doanh nghiệp về đông dược. Ngoài ra
còn có 6 doanh nghiệp sản xuất vaccine và sinh phẩm y tế. Trong thời gian vừa qua,
đa số doanh nghiệp dược đã tích lũy được nguồn vốn khá lớn từ việc gia tăng sản
lượng tiêu thụ và thu hút nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, nhờ vậy mà các doanh
nghiệp trong nước có đủ khả năng để tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực sản xuất.
Chủng loại và chất lượng sản phẩm.
Thuốc sản xuất trong nước đang cố gắng thoát ra khỏi những danh mục hoạt
chất generic, hướng tới những nhóm thuốc đang tăng tỷ lệ sử dụng, thuốc chuyên
khoa (như : thuốc tim mạch, tiểu đường, thần kinh, nội tiết, ...). Các dạng bào chế
cũng được phát triển hơn (như : thuốc tác dụng kéo dài, thuốc tiêm đông khô, thuốc
sủi bọt, ...).
Chất lượng thuốc trong nước đã được cải thiện rõ rệt. Theo thống kê của Bộ y
tế, đến cuối năm 2009 số nhà máy sản xuất dược phẩm trong nước đạt tiêu chuẩn
GMP (Good Manufacturing Practice – Thực hành tốt sản xuất thuốc) là 92 nhà máy.
Thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ bắt đầu chú trọng đến các tiêu chuẩn
này trong vài ba năm gần đây, nhưng cũng đang nỗ lực để gia tăng sức cạnh tranh
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm dược nội địa. Ngoài thực hiện theo
tiêu chuẩn GMP, chất lượng dược phẩm còn được quản lý theo ISO 9001:2000 (hệ
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thống tiêu chuẩn quốc tế về quản lý), ISO 14000:2004 (hệ thống tiêu chuẩn quốc tế
về môi trường),…
Mặc dù đang trong giai đoạn phát triển, nhưng dược phẩm Việt Nam vẫn phải
phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Do ngành công nghiệp hóa dược
của Việt Nam còn hạn chế, nên có đến 90% nguyên liệu cho sản xuất thuốc tân dược
phải nhập khẩu. Với việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, sản

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm 2005 2006 2007
Công ty thương mại 680 800 800
Công ty xuất nhập khẩu 79 89 90
Công ty sản xuất 174 178 180
Nhà cung ứng nước ngoài 270 320 370
Các điểm bán lẻ 29.541 39.319 39.016
Nguồn: Bộ Y tế
Với kênh phân phối thương mại, thương hiệu sản phẩm được người tiêu dùng
nhận diện tốt hơn nhất là trong điều kiện thị trường của Việt Nam khi mà sản phẩm
của các doanh nghiệp trong nước chủ yếu là thuốc phổ thông (generic). Hiện nay,
Việt Nam có rất ít các nhà thuốc, đại lý đạt tiêu chuẩn GPP ( Thực hành tốt phân phối
thuốc ).
R&D nội địa chưa phát triển
Công nghiệp hóa dược của Việt Nam còn khá yếu với công nghệ lạc hậu do
ngành công nghiệp hóa dược chưa thực sự được chú trọng đầu tư. Dược Việt Nam
mới chỉ tập trung vào công nghiệp bào chế, trùng lắp trong dòng sản phẩm, chưa chú
trọng phát triển nguồn dược liệu, ít chú ý vào các loại thuốc chuyên khoa đặc trị.
Hiện tại, dược phẩm Việt Nam mới chỉ đang ở giai đoạn bậc 2.5 trên thang đo tối đa
bậc 5 về tiến bộ công nghệ. Ở giai đoạn này, hầu như thuốc sản xuất là loại generic
(các thuốc đã hết bản quyền công nghệ gốc). Với việc sản xuất hàng generic, có thể
cho rằng dược nước ta nghiên cứu và sản xuất sản phẩm mới chỉ dừng lại ở mức
‘R&C’ (nghiên cứu và sao chép).
Thống kê chi phí của một số doanh nghiệp dược đầu ngành dưới đây đã phản
ánh thực tế những hạn chế về R&D dược phẩm nói chung.
Bảng 4: Chi phí cho R&D của một số doanh nghiệp
Công ty DHG IMP DCL
% chi phí nghiên cứu/doanh thu 1% 5% 2%
Số nhân viên nghiên cứu 33 25 25
Nguồn: Tạp chí thương mại

Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status