CHỨC NĂNG CỦA NHTW VÀ VIỆC THỰC THI CSTT Ở VIỆT NAMTW và thực thi CSTT - Pdf 10

BÀI THẢO LUẬN MÔN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHỨC NĂNG CỦA NHTW VÀ VIỆC
THỰC THI CSTT Ở VIỆT NAM
1
Tháng 4/2013
MỤC LỤC
I. NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 4
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 4
1.1.1. Các giai đoạn phát triển của ngân hàng đến khi ra đời NHTW 4
1.1.2. Lịch sử hình thành ngân hàng nhà nước Việt Nam 5
1.2. Chức năng của Ngân hàng trung ương 9
1.2.1. Chức năng của NHTW 9
1.2.2. Chức năng NHNN Việt Nam 10
1.3. Các mô hình tổ chức của ngân hàng trung ương 18
1.3.1. Ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ 18
1.3.2. Ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ 19
1.3.3. Ưu nhược điểm của từng mô hình 20
II. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 30
2.1. Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ 30
2.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ 31
2.2.1. Mục tiêu cuối cùng của CSTT 31
2.2.2. Mục tiêu trung gian của CSTT 34
2.2.3. Mục tiêu hoạt động của CSTT 35
2.3. Các quy tắc CSTT 36
2.4. Các công cụ của CSTT 38
2.4.1. Kiểm soát hạn mức tín dụng 39
2.4.2. Chính sách lãi suất 40
2.4.3. Dự trữ bắt buộc 41
2.4.4. Chính sách tái cấp vốn 43
2.4.5. Thị trường mở 46

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:
1.1.1. Các giai đoạn phát triển của ngân hàng đến khi ra đời NHTW:
Ngân hàng được hình thành và phát triển trong một quá trình lâu dài trãi qua nhiều
hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử loại người. Mầm móng của ngân hàng xuất hiện ở thời
kỳ trung cổ. Trong thời kỳ này, mỗi quốc gia, thậm chi mỗi địa phương có một loại tiền
riêng và chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương hay quốc gia mình. Tình trạng này đã gây
trở ngại và khó khăn cho việc trao đổi, buôn bán hàng hóa. Để thoát khỏi vấn đề này, một
tầng lớp trung gian đã xuất hiện-tầng lớp thương nhân chuyên làm nghề đổi chác tiền tệ.
Những người này có trong tay các loại tiền của các địa phương trong một quốc gia, thậm chí
của một số quốc gia. Do số lượng khách hàng đổi tiền ngày càng nhiều nên trong tay những
người chuyên làm nghề đổi chác tiền tệ đã tập trung được một khối lượng vốn khá lớn, nhờ
đó họ mở rộng hoạt động của mình: làm thêm nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay. Như vậy
là trong sự phân công tự phát của xã hội, bên cạnh tầng lớp thương nhân thông thường đã
xuất hiện một tầng lớp thương nhân đặc biệt chuyên lấy tiền tệ làm đối tượng hoạt động, đó
là tiền thân của ngành ngân hàng. Sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển đã dẫn
đến những quan hệ giao dịch về tiền tệ ngày càng phát triển và đa dạng, do đó bên cạnh
nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay lấy lãi, những thương nhân đổi tiền đã làm luôn cả việc
thanh toán thay cho khách hàng, giúp họ tránh khỏi những rủi ro do mang tiền từ địa
phương này sang địa phương khác. Như vậy, những thương nhân đã dần thóat ly khỏi vị trí
ban đầu của họ (chủ yếu làm nghề đổi tiền) và bước sang lĩnh vực làm trung gian hoạt động
về tiền tệ. Họ đã trở thàh những người thực sự làm nghề ngân hàng.
4
-Giai đoạn từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18: trong giai đoạn này hoạt động của ngân hàng
mang những nét đặc trưng cơ bản sau:
• Các ngân hàng hoạt động độc lập, chưa tạo ra một hệ thống, chưa có sự rang buộc và
phụthuộc lẫn nhau.
• Chức năng hoạt động của các ngân hàng giống như nhau bao gồm: việc nhận kỳ thác,
chíết khấu cho vay, phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện các dịc vụ tiền tệ khác như:
đổi tiền, chuyển ngân…
-Giai đoạn từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20: bước sang thế kỷ 18 hoạt động lưu thông

những nhiệm vụ trọng tâm của cuộc Cách mạng Tháng 8 lúc bấy giờ là phải từng bước xây
dựng nền tiền tệ và hệ thống ngân hàng độc lập tựchủ. Nhiệm vụ đó đã trở thành hiện thực
khi bước sang năm 1950, công cuộc kháng chiến chống Pháp ngày một tiến triển mạnh mẽ
với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường và mở rộng vùng giải phóng. Sự
chuyển biến của cục diện cách mạng cũng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng
cố và phát triển theo yêu cầu mới. Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính - kinh
tế mà Đại hội Đảng lần thứ II (tháng 2/1951) đã đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam - Ngân hàng
của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á để thực hiện 5 nhiệm vụ cấp bách:
Phát hành giấy bạc, quản lý Kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất,
phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch. Ngân hàng Quốc gia
Việt Nam ra đời là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệthống tiền tệ, tín
dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát triển mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ,
tín dụng ở nước ta. Tại Thông tư số 20/VP - TH ngày 21/1/1960 của Tổng giám đốc Ngân
hàng Quốc gia ký thừa uỷ quyền Thủ Tướng chính phủ, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam
được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để phù hợp với hiến pháp 1946 của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà. Những năm sau khi Miền Nam giải phóng 1975, việc tiếp quản
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cộng hoà và các Ngân hàng tư bản tư nhân dưới chế độ
Nguỵ quyền Sài Gòn đã mở đầu cho quá trình nhất thể hoá hoạt động ngân hàng toàn quốc
theo cơ chếhoạt động ngân hàng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tháng 7 năm 1976,
đất nước được thống nhất về phương diện Nhà nước, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam ra đời. Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở miền Nam được hợp nhất vào NHNN Việt
Nam, tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhất của cả nước. Hệ thống tổ chức
thống nhất của NHNN bao gồm:
6
Ngân hàng Trung ương đặt trụ sở chính tại thủ đô Hà Nội, các Chi nhánh Ngân hàng
tại các tỉnh, thành phố và các chi điếm ngân hàng cơ sở tại các huyện, quận trên phạm vi cả
nước. Căn cứ vào những biến đổi quan trọng về tình hình và nhiệm vụ cách mạng cũng như
về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quá trình phát triển
của hệ thống

dấu sự chuyển biến căn bản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam thể hiện qua một số "cột
môc" có tính đột phá sau đây:
+ Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước ra
khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán,
kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đã được hình thành và
hoàn thiện dần - Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ) đã chính
thức chuyển cơ chếhoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp - Trong
đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân
biệt rạch ròi
+ Từ năm 1991 đến nay: Thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng trong
thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng đổi mới
và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng trách của mình trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển kinh tế đất nước trong thiên niên kỷ mới. Những dấu ấn dưới đây liên quan trực
tiếp và thúc đẩy quá trình đổi mới mạnh mẽ hoạt động Ngân hàng:
Năm 1993: Bình thường hoá các mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
(IMF, WB, ADB)
Năm 1995: Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động ngân
hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo.
Năm 1997: Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật
các tổ chức tín dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998; Thành lập Ngân
hàng phát triển Nhà Đồng bằng Sông cửu long (Quyết định số 769/TTg, ngày 18/9/1997).
Năm 1999: Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (ngày 9/11/1999).
Năm 2000: Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ cấu lại tài chính
và hoạt động của các NHTMCP.
Năm 2002: Tự do hoá lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng - Bước cuối cùng
tự do hoá hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu ra.
Năm 2003: Tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu hoạt động phù hợp với chuẩn quốc tế.
8
Đến ngày hôm nay thì hệ thống ngân hàng nhà nước việt nam đã được tương đối hoàn

thống tài chính của quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng đó
để cứu nó. Vì thế, ngân hàng trung ương được gọi là người cho vay cuối cùng
• Ngân hàng của Chính phủ
Ở nhiều nước, ngân hàng trung ương là người quản lý tiền nong cho chính phủ. Chính
phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, ở một số
nước, chẳng hạn như ở Việt Nam, chức năng này do kho bạc đảm nhiệm.
Ngân hàng trung ương còn làm đại diện cho chính phủ khi can thiệp vào thị trường
ngoại hối
1.2.2. Chức năng NHNN Việt Nam:
• Phát hành tiền và lưu thông tiền tệ:
Đó là chức năng cơ bản và quan trọng hàng đầu của Ngân hàng trung ương. Thực hiện
chức năng này sẽ ảnh hưởng đến tình hình lưu thông tiền tệ của quốc gia, vì vậy nó ảnh
hưởng đến mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế-xã hội, thậm chí có thể ảnh hưởng đến
tình hình tài chính tiền tệthế giới nữa.
Việc phát hành tiền được tập trung tuyệt đối vào Ngân hàng trung ương theo chế độ
Nhà nước nắm độc quyền phát hành tiền. Giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại do Ngân hàng
trung ương phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất trong một quốc gia, nó
có thể thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không hạn chế.
Việc phát hành tiền có thể được tực hiện theo cách có đảm bảo như:
-Đảm bảo bằng vàng (Đảm bảo bằng trữ kim): các nước tư bản phát triển như Anh,
Mỹ, Pháp, Đức… trước đây thực hiện cơ chế đảm bảo bằng vàng cho tiền giấy phát hành
theo luật ngân hàng mỗi nước.
-Đảm bảo bằng tín dụng hàng hóa: cơ chế đảm bảo bằng trữ kim đã bị đổ vỡ cùng với
chế độ bản vị bản vị vàng hoặc bản vị hối đoái vàng. Hiện nay ở các nước đều áp dụng cơ
chế đảm bảo bằng tín dụng hàng hóa cho lượng tiền phát hành. Theo cơ chế này, tiền tệ
được phát hành và lưu thông thông qua hệ thống tín dụng ngắn hạn bảo đảm tiền đi vào lưu
thông gắn liền với sự vận động của sản phẩm hangf hóa theo nguyên tắc có thời hạn và
được hoàn trả. Ngoài ra ngân hàng trung ương có thể phát hành tiền tệ để cho ngân sách
vay, để tham gia bình ổn thị trường hối đoái. Do việc phát hành tiền có ảnh hưởng rộng lớn
đến lưu thông tiền tệ của đất nước nên đòi hỏi công việc đó phải được tiến hành trong

ương muốn phát hành thêm tiền thì phải đợi chờ ngân hàng trung gian có nhu cầu vay lại ở
mình, bằng cách đem thương phiếu đến xin tái chiết khấu. Mặt khác, về sau này ngân hàng
11
trung gian một là không muốn đến vay ở ngân hàng trung ương do những thủ tục của nó, hai
là do ngân hàng trung gian không cảm thấy có nhu cầu đi vay. Với thị trường mở, ngan hàng
trung gian có thể tìm cho mình nguồn tài trợ cần thiết vì những thủ tục nhanh chóng. Chính
vì thế, hoạt động của thị trường mở ngày một quan trọng hơn, thu hẹp phạm vi haọt động tái
chiết khấu. Từ đấy cơ hợi phát hành tiền ở thị trường mở gia tăng nhanh chóng. Thông qua
việc mua bán các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường mở, ngân hàng trung ương điều
chỉnh lưu lượng tiền mặt trong lưu thông. Với nghiệp vụ bán ngân hàng trung ương thu hẹp
lượng cung tiền mặt trong lưu thông, lãi suất lại tăng lên. Bằng nghiệp vụ mua, tức là bơm
tiền vào lưu thông. Lúc này lượng tiền lưu hành trên thị trường xã hội tăng lên tạo ra các
động lực gây giảm lãi suất
• Phát hành tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ:
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có khả năng tạo lập cho mình một dự trữ vàng và ngoại
tệ nhất định. Dự trữ chính thức nằm trong kho bạc của chính phủ dưới dạng dự trữ quốc gia.
Dự trữ này không phải để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi của công chúng, mà chúng nhằm
thực hiện 3 công dụng chính:
-Nó là một công cụ để chính phủ (cụ thể là ngân hàng trung ương) can thiệp vào thị
trường vàng, ngoại tệ
Nó là một công cụ để chống lại lạm phát
Nó là công cụ đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Nếu khối lượng dự trữ vàng và
ngoại tệ của một nước tăng từ năm này sang năm khác, biểu hiện nền kinh tế đó phát triển
vững mạnh. Ngược lại, khi dự trữ vàng, ngoại tệ giảm thiểu từ năm này sang năm khác, nó
báo hiệu những khó khăn trong nền kinh tế. Ngoài ra, khối lượng dự trữ vàng và ngoại tệ
của một nước còn là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng hoàn trả của một nước đối với nước
ngoài. Một nước không tích lũy được khối dự trữ vàng và ngoại tệ hoặc khối dự trữ đó giảm
xuống số âm sẽ gặp rất nhiều khó khăn vềmặt kinh tế. Trên trường quốc tế bị cô lập, vì
không nước nào dám quan hệ khăng khít với nước này, các nguồn trợ giúp quốc tế dần dần
bị mất đi nếu không có chương trình tái cấu trúc nền kinh tế hữu hiệu. Mặt khác, về mặt

chính phủ làm cho tổng cung về tiền tăng lên và nền kinh tế cũng sẽ biến động theo.
Thông qua vai trò là chủ ngân hàng của chính phủ với nghiệp vụ là cho vay, ngân hàng
trung ương làm thay đổi lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nghĩa là can thiệp vào những biến
động của kinh tế vĩ mô.
Ngân hàng trung ương là đại lý của chính phủ:
13
Với tư cách là đại lý cho chính phủ, ngân hàng trung ương thay mặt chính phủ tổ chức
thu thuế qua hệ thống ngân hàng của nó. Đồng thời nó thay mặt chính phủ trong các thỏa
thuận tài chính, viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài. Ngoài ra
với tư cách này nó có thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu…cho chính phủ kể cả trong và
ngoài nước.
Bằng việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu…ngân hàng trung ương đã làm trực tiếp tăng
(giảm) lượng cung ứng tiền cho nền kinh tế. Và thông qua đó đã làm tác động đến kinh tế vĩ
mô.
Ngân hàng trung ương là cố vấn tài chính cho chính phủ:
Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động của
ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả của chính sách
tiền tệ trong điều tiết vĩ mô.
Với lý do trên ngân hàng trung ương phải tham gia cố vấn cho chính phủ trong chính
sách tài chính và kinh tế. Với vai trò này ngân hàng trung ương gián tiếp ảnh hưởng đến
việc cung ứng trái phiếu của chính phủ và các hoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với ngân
sách. Đây là một cách để điều tiết kinh tế vĩ mô.
Ngân hàng trung ương là ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ quốc gia.
Dự trữ quốc gia bao gồm những dự trữ chiến lược cho những trường hợp khẩn cấp như
can thiệp vào điều tiết kinh tế, nhập khẩu hàng khẩn cấp để chống khan hiếm và chống lạm
phát, khi có thiên tai, chiến tranh…
Dự trữ bao gồm: vàng, tiền tệ,…. Với tư cách là ngân hàng của chính phủ, ngân hàng
trung ương được giao phó nhiệm vụ quản lý dự trữ quốc gia. Khi nắm trong tay công cụ này
ngân hàng trung ương (NHTW) có thể can thiệt bất kì lúc nào vào thị trường ngoại tệ để giữ
giá đồng tiền trong nước, hay tăng hoặc giảm giá. NHTW với nghiệp vụ mua bán trên thị

• Chức năng quản lý của NHTW.
Đây là chức năng quyết định bản chất NHTW là một ngân hàng phát hành.việc thực
hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHTW.nói cách
khác,NHTW quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ và tín dụng thông qua khả năng kinh doanh
của mình.
Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô,trong đó NHTW sử dụng các công cụ
của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn
định giá tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đâm bảo công ăn việc làm.
15
NHTW với chức năng phát hành tiền và khả năng tác động mạnh tới hoạt động của hệ
thống ngân hàng được xem là có khả năng lớn trong việc kiểm soát và điều tiết khối lượng
tiền cung ứng vào lưu thông nên đã được giao trọng trách xây dựng và thực thi chính sách
tiền tệ của quốc gia. có thể nói,chính sách tiền tệ là trọng tâm hoạt động của NHTW.điều
này có nghĩa là mọi hoạt động của NHTW(kể cả phát hành tiền)đều nhằm thực hiện các
mục tiêu của chính sách tiền tệ và bị chi phối bởi các mục tiêu đó .
Chính sách tiền tệ được hoạch định theo một trong hai hướng sau:
- Chính sách tiền tệ mở rộng: nhằm tăng lượng tiền cung ứng để khuyến khích đầu tư,
mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Mục đích của chính sách này là chống suy thoái
kinh tế và thất nghiệp.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: nhằm giảm lượng tiền cung ứng để hạn chế đầu tư, kìm
hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế. Mục đích của chính sách lúc này là chống lạm
phát.
Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng trung ương không chỉ cung
ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt
động đó, ngân hàng trung ương còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt
động của các ngân hàng trung gian nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và
bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những người gửi tiền trong
quan hệ với ngân hàng.

bằng và bình đẳng trong quan hệ giữa ngân hàng và các khách hàng. Điều này được thể hiện
ở hai khía cạnh:
Thứ nhất, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của khách hàng với tư cách là người đi vay.
Chẳng hạn, quy định chuẩn mực về vi phạm và mức độ chi tiết của các thông tin cần báo
cáo cho ngân hàng khi vay vốn, chuẩn mục hoá thủ tục vay vốn và tiếp nhận các dịch vụ
ngân hàng, quy dinh cụ thể về ử lý và giải quyết các tranh chấp giữa nhân hàng với khách
hàng
Thứ hai, nhằm thúc đẩy cạnh tranh và hiệu quả thông qua qui định về chất lượng và
sự cập nhập thông tin mà ngân hàng có nghĩa vụ cung cấp cho những người tham gia thị
trường. Cụ thể, cần qui định rõ cơ chế cung cấp thông tin, loại thông tin và phạm vi cung
cấp.
17
Điều này giúp cho công chúng với tư cách người đầu tư và người sử dụng các dịch vụ
ài chính có chất lượng. các ngân hàng vì thế quan tâm hơn tới tính minh bạch và chất lượng
chất lượng của bản tổng kết tài sản trong chiến lược cạnh tranh khách hàng.
Để đạt được mụch đích nay, NHTW và các thể chế điều tiết có liên quan thường đưa ra
các chuẩn mực, các hướng dẫn hoặc qui định về tính đầy đủ và chính xác của thông tin được
công bố.
1.3. Các mô hình tổ chức của ngân hàng trung ương:
Sự ra đời của ngân hàng trung ương là do yêu cầu khách quan của việc quản lý phát
hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ … Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền phát
hành tiền và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng
với nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ. Để thực hiện chức năng nhiệm vụ đó, ngân
hàng trung ương phải chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ. Do đó
ngân hàng trung ương có vị trí đặc biệt trong bộ máy quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
Đến nay, trên thế giới đã biết đến 3 mô hình NHTW: NHTW độc lập với chính phủ;
NHTW là một cơ quan thuộc chính phủ; và NHTW thuộc Bộ Tài chính. Trong đó, hai mô
hình đầu tiên là phổ biến hơn cả.
1.3.1. Ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ:
Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của Ngân hàng trung ương, đặc

chế của chính phủ. Ngân hàng trung ương không có quyền thực hiện các hoạt động của
mình một cách độc lập mà chưa có sự tán thành của chính phủ
Sơ đồ 1.2. Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ
Chính phủ
NHTW
19
1.3.3. Ưu nhược điểm của từng mô hình:
Ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ:
-Ưu điểm:
Việc ngân hàng trung ương hoạt động độc lập với chính phủ khiến việc xây dựng và
thực thi các chính sách tiền tệ nhanh chóng, hiệu quả hơn. Ngoài ra việc độc lập của ngân
hàng trung ương còn giúp các chính sách này không bị ảnh hưởng do tác động từ các mục
tiêu riêng của chính phủ như phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước từ đó
hạn chế được nguy cơ lạm phát, khủng hoảng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ngân hàng trung
ương càng độc lập thì mục tiêu duy trì tỷ lệ lạm phát thấp càng dễ thực hiện.
-Nhược điểm:
Đòi hỏi ngân hàng trung ương phải có uy tín cao và năng lực thực thi rất tốt thì mới có
thể biến mục tiêu hành hiện thực, nhất là trong giai đoạn thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt.
Bên cạnh đó ngân hàng trung ương phải có khả năng dự báo chuẩn xác trên cơ sở các
thống kê kinh tế- tài chính, vì chỉ có như vậy thì ngân hàng trung ương mới có thể thực hiện
được mục tiêu đã đề ra.
Khó có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ - do NHTW thực hiện và chính sách
tài khoá - do chính phủ chi phối để quản lý vĩ mô một cách hiệu quả.
20
Mối liên hệ giữa chỉ số độc
lập của ngân hàng trung ương và lạm
phát trung bình của một số quốc gia
Nguồn:
“Central Bank Independence
and Macroeconomic Performance:

phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng chứng mình được vai trò vô cùng quan
trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ.
-Các điểm giống nhau:
21
Cả hai đối tượng được đề cập trên đều được xem như cùng một hình thức là “Ngân
hàng Trung Ương”, có đặc điểm như sau:
- Nhiệm vụ của NHTW là vừa thực hiện chức năng độc quyền phát hành giấy bạc
ngân hàng vào lưu thông, vừa thực hiện quản lí nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng –
ngân hàng.
- Không giao dịch với công chúng mà chỉ giao dịch với kho bạc và các ngân hàng
trung gian.
- Mục đích hoạt động: cung ứng tiền cho nền kinh tế, điều hòa lưu thông tiền tệ và
quản lí hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo lưu thông tiền tệ ổn định, tạo điều kiện tăng
trưởng kinh tế, tăng việc làm và kiểm soát lạm phát.
- Có vị trí đặc thù trong bộ máy quản lí và điều hành nền kinh tế vĩ mô.
- Định chế có sự kết hợp của hai tính chất: Doanh nghiệp và quản lí hành chính.
So sánh về địa vị:
Địa vị pháp lý của Ngân hàng Trung ương của mỗi nước khác nhau được quy định
trong luật cũng khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện chính trị - xã hội của mỗi nước.Vì thế
nên địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cục dự trữ liên bang Hoa Kì
(FED) cũng có nhiều điểm khác nhau. Sau đây là một số điểm khác nhau đặc trưng của
chúng
Bảng 1.1. So sánh NHNN Việt Nam và Fed về địa vị pháp lý
Ngân hàng nhà nước Việt Nam FED
Ngân hàng TW trực thuộc chính phủ.
Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với
NHTW thông qua việc bổ nhiệm các thành
viên, can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng
và thực thi chính sách tiền tệ.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan

Quốc hội bổ nhiệm.Thống đốc ngân hàng
nhà nước là thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ(Tức là Bộ trưởng)trong chính
phủ,Giúp việc có các Phó thống đốc phụ
trách từng lĩnh vực cụ thể(hiện tại là 5
người).Các Phó thống đốc được thủ
tướng quyết định bổ nhiệm
2. Ngân hàng nhà nước có 24 đơn vị trực
thuộc,trong đó có 19 đơn vị giúp thống
đốc ngân hàng nhà nước thực hiện chức
năng quản lí nhà nước và chức năng ngân
hàng TƯ,5 đơn vị là tổ chức sự nghiệp
1. Hội đồng thống đốc: Cơ quan quản lí
cao nhất của Fed gồm 7 thành
viên.Nhiệm kì mỗi thành viên là 14
năm,trong nhiệm kì tổng thống được chỉ
định 2 thành viên để thượng viện(các
thành viên còn lại do các Tổng thống tiền
nhiệm chỉ định)
2. Các ngân hàng dự trữ:Fed bao gồm 12
ngân hàng và 25 chi nhánh ở khắp nước
Mỹ.Mỗi ngân hàng dự trữ liên bang đại
diện cho một quận.Ngân hàng dự trữ
Newyork có vai trò “nổi bật hơn một chút
so với các ngân hàng còn lại
Bộ máy tổ chức
+ Ngân hàng nhà nước VN: thống đốc, các cục trưởng, vụ trưởng và Hội đồng tư vấn
chính sách tiền tệ Quốc Gia
23
Sơ đồ 1.3. Bộ máy tổ chức NHNN Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status