lời mở đầu
chiến lợc phát triển kinh tế Việt Nam từ nay đến 2020 đợc khẳng
định là tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối
đa nội lực,đồng thời nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, ra sức cần kiệm
để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả và sức
cạnh tranh của nên kinh tế .
để thực hiện đợc mục tiêu này, điều kiện tiên quyết đó là phải có
một môi trờng kinh tế vĩ mô ổn định, trong đó các chính sách kinh tế
phải đợc kết hợp với nhau một cách đồng bộ , có hiệu quả nhằm thực
hiện tốt những mục tiêu đã đề ra. Trong đó chính sách tiền tệ do NHTW
soạn thảo và chỉ đạo việc thực thi là một chính sách có tầm quan trọng
bậc nhất, có tác dụng ổn định tiền tệ, kiếm chế lạm phát và góp phần
tăng trởng kinh tế.
Với vai trò quan trọng đó hệ thống ngân hàng đã trở thành trụ cột
của hệ thống tiền tệ, trụ cột của nền kinh tế quốc gia. Dù ở bất kỳ quốc
gia nào nớc đang phát triển, kém phát triển hay là nớc phát triển thì ngân
hàng ngay từ khi ra đời đã có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nền kinh
tế và là mạch máu lu thông của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế có thể
thiếu bộ phận này hay bộ phận khác nhng ngân hàng là chỉnh thể không
thể thiếu của nền kinh tế quốc gia.
chính vì tầm quan trọng của ngân hàng và chính sách tiền tệ do nó
thực thi , đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong bộ môn em đã
mạnh dạn tìm hiểu vê bản chất, chức năng, hoạt đông của ngân hàng
cũng nh vai trò của nó trong việc thực thi chính sách tiền tệ.
đề tài tiểu luận của em có tên là :
bản chất và chức năng của ngân hàng. vai trò của ngân hàng
trong việc thực thi chính sách tiền tệ .sự cụ thể hoá của chính sách
tiền tệ trong quản lý kinh tế vĩ mô ở Việt Nam .
Do trình độ hiểu biết có hạn và thời gian nghiên cứu có hạn nên
bài tiểu luận của em không thể tránh khỏi những sai sót em rất mong đ-
ợc sự góp ý của các thầy cô. em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.
Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam có thể phân làm hai
thời kỳ nh sau:
Giai đoạn 1: NHTW trong thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp (1951-1986):
Về phơng diện kinh tế,đặc điểm nổi bật nhất của thời kỳ này là nền kinh tế
kế hoạch tập trung trung ơng.Gắn liền với cơ chế quản lý đó là sự tồn tại của hệ
thống ngân hàng một cấp.Trong giai đoạn này,ngân hàng Nhà nớc vừa đóng vai
trò ngân hàng trung gian vừa đóng vai trò NHTW,nó đợc xem nh là một công
cụ để thực hiện kế hoạch kinh tế của nhà nớc.
Về lịch sử,hệ thống ngân hàng một cấp đợc hình thành đầu tiên ở Liên Xô
sau cách mạng thàng 10 Nga và đợc hầu hết các nớc xã hội chủ nghĩa áp
dụng.ở Việt Nam,Hệ thống ngân hàng một cấp đợc bắt đầu từ năm 1951 đến
năm 1987.
Mô hình ngân hàng một cấp nh sau:
Với mô hình trên,hệ thồng ngân hàng một cấp có đặc điểm nh sau:
Ngân hàng nhà nớc độc quyền thuộc sở hữu nhà nớc,thực hiện chức năng
quản lý nhà nớc về hoạt động tiền tệ,tín dụng,thanh toán,đồng thời là một tổ
chức kinh doanh về hoạt động tiền tệ,tín dụng,thanh toán.Theo nguyên tắc tập
trung thống nhất toàn ngành theo một kế hoach và chế độ quản lý thống nhất
của nhà nớc.Trong đó,ngân hàng nhà nớc là một hệ thống bao gồm các ngân
hàng chuyên nghiệp mà thức chất là những chi nhánh đặc biệt của ngân hàng
nhà nớc,đợc ngân hàng nhà nớc phân công hoạt động trong một số lĩnh vực nhất
định.Ngân hàng thuộc quyền sở hữu nhà nớc là ngân hàng duy nhất,các thành
phần kinh tế khác không đợc thành lập ngân hàng.
Trong giai đoạn này hoạt động của ngân hàng đợc tiến hành thao kế hoạch
hoá tập trung,bao gồm kế hoạch phát hành,kế hoạch tín dụng,kế hoạch tiền
mặt.Việc lãnh đạo,chỉ đạo,điều hành của ngân hàng nhà nớc Việt Nam mang
Ngân hàng nhà nư
ớc Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp
Ngân hàng công nghiệp
dịch vụ ngân hàng lại yếu kém.
Nh vậy,phơng thức hoạt động và tổ chức ngân hàng một cấp phù hợp với cơ
chế kế hoạch hoá tập trung.Tuy nhiên khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế
thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc thì mô hình một cấp không còn phù hợp
nữa.Ta có thể thấy rằng những điều kiện cần có để tiến hành hoạt động kinh
doanh ngân hàng đến lúc naỳ là cha có,vì vậy ngân hàng đã không đạt đợc hiệu
quả nh mong muốn.Và đây cũng chính là sự cần thiết phải chuyển ngân hàng
sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa ,quá trình chuyển đổi đó gắn liền
với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc.
Giai đoạn 2: Ngân hàng nhà nớc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Công cuộc đổi mới và hoàn thiện hệ thống ngân hàng đã bắt đầu đợc tiến
hành với mốc đánh dấu là nghị định số 53/HĐBT ngày 16/3/1988 của hội đồng
bộ trởng (nay là chính phủ) về việc tổ chức lại hệ thống ngân hàng Việt
Nam.Hệ thống ngân hàng Việt Nam đợc phân định thành hai cấp là ngân hàng
nhà nớc Việt Nam với chức năng quản lý nhà nớc đối với toàn bộ hệ thống
ngân hàng và ngân hàng chuyên doanh hoạt động nh những ngân hàng th-
ơng mại theo chế độ hoạch toán kinh tế.
Với cơ cấu tổ chức nh vậy, hệ thống ngân hàng nớc ta trong giai đoạn này
chứa đựng 3 điểm quan trọng so với trớc kia :
Thứ nhất, ngân hàng nhà nớc Việt Nam vẫn đợc tổ chức thành hệ thống
thống nhất trong cả nớc.
Thứ hai, hệ thống ngân hàng nhà nớc Việt Nam hoạt động theo chế độ
hoạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, trong đó ngân hàng nhà nớc
và ngân hàng chuyên doanh có nhiệm vụ và quyền hạn riêng trong hoạt động
của mình. Cụ thể là :
Ngân hàng nhà nớc là cơ quan quản lý nhà nớc trong lĩnh vực tiền tệ, tín
dụng và ngân hàng, thực hiện việc độc quyền phát hành đồng bạc Việt nam.
Việc phát hành tiền đợc hội đồng bộ trởng (nay là chính phủ) uỷ nhiệm cùng bộ
tài chính quản lý dự trữ tiền Việt nam. Đồng thời, nó còn thực hiện rất nhiều
Mô hình tổ chức còn cồng kềnh, chồng chéo trong quan hệ dọc ngang.
-Chức năng quản lý với chức năng kinh doanh, chức năng ngân hàng với
chức năng tài chính cha đợc xác định rõ ràng.
-Quyền hạn của ngân hàng nhà nớc Việt nam còn hạn hẹp, nhiều công cụ
điều hành vĩ mô hầu nh cha đợc quy định rõ hoặc cha đợc sử dụng.
-Nhiều nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng chuyên doanh cha đợc triển
khai, nhiều khu vực của thị trờng tiền tệ bị bỏ trống.
-Hệ thống thanh tra, kiểm soát hoạt động còn thụ động kém hiệu quả, cha
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
Phải nói rằng, cho đến năm 1990, ngành ngân hàng cha nhận thức đợc đầy
đủ về kinh doanh ngân hàng và quyền tự chủ của các đơn vị, còn lúng túng
trong việc xử lý những vấn đề mới phát sinh, buông lỏng vai trò kiểm soát đối
với các đơn vị cũng nh đối với đội ngũ cán bộ công nhân viên ngân hàng, vì thế
ngành ngân hàng cha phát huy đầy đủ chức năng nhiệm vụ của mình trong phát
triển kinh tế.
Đúng nh nhận xét của thủ tớng Võ Văn Kiệt Ngân hàng kinh doanh chia
ra kinh doanh, quản lý nhà nớc cha ra quản lý nhà nớc đối với thị trờng tiền tệ
đang hình thành. Mỗi một ngân hàng theo tổ chức nghị định 53/HĐBT từ trung
ơng đến cơ sở đều chung chạ 2 chức năng không thể chung chạ này. Ngân hàng
đã vơn ra kinh doanh nhng bị chức năng quản lý nhà nớc kéo lại nhùng nhằng
không thể bao quát mọi nhu cầu của thị trờng tiền tệ .
Trớc tình hình đó trong công cuộc đổi mới toàn diện sâu sắc và triệt để của
đất nớc, để tiếp tục đổi mới hệ thống ngân hàng, ngày 23-5-1990 Hội đồng nhà
nớc đã thông qua Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính. Nội dung cơ bản của 2 pháp lệnh này là :
Pháp lệnh ngân hàng phân biệt rõ chức năng tài chính với chức năng ngân
hàng trong nền kinh tế quốc dân, phân định rõ chức năng quản lý nhà nớc về
tiền tệ, tín dụng ở tầm vĩ mô của ngân hàng nhà nớc với chức năng kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ trực tiếp ở tầm vĩ mô của các ngân hàng thơng mại, ngân hàng
đầu t và phát triển, công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng.
tính đồng bộ của cơ chế tài chính tiền tệ quốc gia đợc đảm bảo,phục vụ đắc lực
cho sự phát triển kinh tế.
Tuy nhiên,để xứng đáng với vai trò chủ đạo đối với sự phát triển kinh tế,hệ
thống ngân hàng nhà nớc cần phải luôn đợc củng cố và hoàn thiện về mọi
mặt,thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế phát triển,đa nền kinh tế nớc ta từng bớc
hoà nhập với khu vực thế giới
II. Bản chất và chức năng của hệ thống ngân hàng
1.Ngân hàng trung ơng
1.1.Khái niệm NHTW.
NHTW là một định chế công cộng,có thể độc lập hoặc trực thuộc chính
phủ,thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền,là ngân hàng của các ngân
hàng,ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nớc
về hoạt động tiền tệ ,tín dụng,ngân hàng cho mục tiêu phát triển và ổn định của
cộng đồng.
Tiền thân của NHTW là ngân hàng phát tiền[Khi ngân hàng có tên là
NHTW thì ngân hàng này đảm nhận việc độc quyền phát hành tiền và quản lý
nhà nớc] các ngân hàng đợc thành lập hoặc bằng cách quốc hữu hoá các ngân
hàng phát hành hiện có, hoặc thành lập mới thuộc quyền sở hữu nhà nớc. Các n-
ớc t bản phát triển có hệ thống ngân hàng phát triển lâu đời nh Anh, Pháp thì
thành lập ngân hàng trung ơng bằng cách quốc hữu hoá ngân hàng phát hành
thông qua mua cổ phần của các ngân hàng này rồi bổ nhiệm ngời điều
hành.Một số nớc t bản khác nh Nhật Bản thì nhà nớc chỉ nắm cổ phần khống
chế hoặc vẫn để thuộc sở hữu t nhân nhng nhà nớc bổ nhiệm ngời điều hành.
Còn lại hầu hết các nớc khác thì thành lập NHTW mới thuộc sở hữu nhà nớc. ở
Việt Nam NHTW đợc thành lập thuộc sở hữu nhà nớc Việt Nam.
1.2.Vị trí của NHTW .
Là một định chế công cộng của nhà nớc, nhng mối quan hệ của NHTW với
chính phủ không hoàn toàn giống với các định chế công cộng khá. Tuỳ thuộc
vào đặc điểm ra đời của NHTW,thể chế chính trị,nhu cầu của nền kinh tế cũng
Thụy Sỹ, Anh , Pháp, Đức, Nhật Bản và gần đây là những trung ơng Châu
âu(ECB). Xu hớng tổ chức NHTW theo mô hình này đang tăng lên ở các nớc
phát triển
Theo mô hình này, NHTW có quyền quyết định việc xây dựng và chi tiêu
ngân sách. Cụ thể nh thâm hụt ngân sách là căn bệnh kinh niên của các chính
phủ, do vậy nếu NHTW đặt dới quyền chính phủ, khi thâm hụt ngân sách xảy
ra, chính phủ, chính phủ có thể buộc NHTW in tiền để tài trợ. Điều này dẫn đến
nguy cơ lạm phát,gây tổn hại cho xã hội hoặc tránh đợc các áp lực chính trị
khác, ví dụ nh khi NHTW trực thuộc chính phủ, chính có thể vì những mục tiêu
chính trị trớc mắt mà khiến cho ngân hàng trung ơng theo đổi các mục tiêu
ngắn hạn thay vì các mục tiêu chính sách dài hạn, do đó ảnh hởng tới sự phát
triển của tổng thể nền kinh tế quốc gia.
Tuy nhiên, không phải tất cả các NHTW đợc tổ chức theo mô hình này đều
đảm bảo đợc sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của chính sách tiền tệ. Mức độc
lập của NHTW phụ thuộc vào sự chi phối của ngời đứng đầu nhà nớc vào cơ chế
lập pháp và nhân sự của NHTW.
Điểm bất lợi chủ yếu của mô hình này là khó có sự kết hợp hài hoà giữa
chính sách tiền tệ do ngân hàng trung ơng thực hiện và chính sách tài khoá -
do chính phủ phối hợp - để quản lý vĩ mô có hiệu quả.
Không có một mô hình nào có thể đợc coi là thích hợp cho mọi quốc gia.
Việc lựa chọn mối liên hệ thích hợp giữa NHTW và chính phủ phải phải phụ
thuộc vào chế độ chính trị, yêu cầu phát triển kinh tế, đặc điểm lịch sử và sự
phát triển của hệ thống ngân hàng của từng nớc. Tuy nhiên trong một chừng
mực nhất định nào đó cũng bị ảnh hởng bởi trào lu của thế giới
Quốc hội
NHTW Chính phủ
1.3 Hệ thống tổ chức của ngân hàng trung ơng
Xuất phát từ yêu cầu của việc thực hiện chức năng và nhiện vụ, hệ
thống tổ chức NHTW thờng đợc bố trí theo tuyến dọc: Bên trên là hệ thống
của NHTW, đó là: cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, điều hoà lu thông tiền tệ và
quản lý hệ thống ngân hàng nhằm dảm bảo lu thông tiền tệ ổn định, từ đó tạo
điều kiện tăng trởng kinh tế, tăng việc làm và kiềm chế lạm phát. Muốn vậy,
ngân hàng trung ơng phải thực hiện 3 chức năng cơ bản sau đây:
1.4.1 Ngân hàng trung ơng là ngân hàng phát hành.
NHTW đợc giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các quy định
trong luật hoặc đợc chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền mức phát
hanh )nhằm đẳm bảo thể thống nhất và an toàn cho hệ thống l u thông tiền tệ
hợp pháp duy nhất trong cả nớc. Đồng do ngân hàng trung ơng phát ra là đồng
tiền lu thông hợp pháp duy nhất trong cả nớc, nó mang tính chất cỡng chế lu
hành, vì vậy mọi ngời không có quyền từ chối nó trong thanh toán.
Khối lợng tiền NHTW cung ứng cho lu thông ảnh hởng trực tiếp đến ph-
ơng tiện thanh toán trong xã hội do đó ảnh hởng đến toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy
nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của ngân hàng trung ơng
trong việc xác định số lợng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng nh ph-
ơng thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế.
Do giấy bạc ngân hàng có nguồn gốc từ tiền thực chất (vàng) hay kỳ
phiếu thơng mại nên trong lịch sử phát hành giấy bạc ngân hàng ngời ta thờng
quy định những nguyên tắc chặt chẽ để đảm bảo cho việc phát hành tiền gắn với
yêu cầu lu thông hàng hoá và lu thông tiền tệ. Nguyên tắc là:
Phát hành tiền dựa vào dự trữ vàng.
Giấy bạc ngân hàng phát hành vào lu thông phải có vành nằm trong kho của
ngân hàng làm đảm bảo.Nhìn chung có 3 hình thức duy trì đảm bảo sau đây:
-Nhà nớc quy định mức một mức phát hành,khối lợng phát hành phải nằm
trong hạn mức pháp định.
-Nhà nớc quy định mức tối đa lợng giấy bạc trong lu thông và không quy
định mức dữ trữ vàng làm đảm bảo cho lợng giấy bạc đó.
-Nhà nớc quy định mức dữ trữ vàng tối thiểu cho khối lợng giấy bạc phát
hành. Theo quy định này, lợng giấy bạc phát hành vợt quá mức nhất định nào
đó phải đợc đảm bảo 100% bằng vàng hoặc phải chịu một thuế suất là 5% tính
cách là cơ quan quản lý nhà nớc xây dựng và tổ chức thực hiện.
1.4.2.NHTW là ngân hàng của các ngân hàng.
Ngân hàng không tham gia kinh doanh tiền tệ,tín dụng trực tiếp với các chủ
thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân
hàng trung gian.Bao gồm:
Nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng
NHTW mở tài khoản và nhận tiền gửi từ các tổ chức tín dụng dới hai dạng
sau:
-Tiền gửi dữ trữ bắt buộc: Là khoản tiền dữ trữ mà các ngân hàng trung gian
bắt buộc phải gửi tại ngân hàng trung ơng để nhằm đảm bảo khả năng chi trả
của các ngân hàng này trớc nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng.Mức dự trữ bắt
buộc đợc tính theo tỷ lệ % từng loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn.Tỷ lệ
này do ngân hàng trung ơng quy định trong từng thời kỳ.
Ban đầu, mục đích của dữ trữ bắt buộc là nhằm đảm bảo khả năng thanh
toán, do đó hạn chế khả năng rủi ro thanh toán cho cả hệ thống. Tuy nhiên, theo
thời gian ý nghĩa này giảm dần. Cùng với sự phát triển của thị trờng tài chính và
xu hớng chứng khoán hoá trong hoạt động ngân hàng thì khả năng đáp ứng
nhanh chóng nhu cầu tiền mặt của các ngân hàng tăng lên, đồng thời các hình
thức bảo hiểm tiền gửi ra đời đã làm yên lòng những ngời gửi tiền và nhờ vậy
làm giảm bớt khả năng xảy ra nhu cầu rút tiền bất thờng. Vì vậy, tỷ lệ dữ trữ bắt
buộc ngày càng giảm bớt ở hầu hết các quốc gia. Hiện nay tỉ lệ dữ trữ bắt buộc
đợc nói đến với t cách là một công cụ của NHTW trong điều hành chính sách
tiền tệ.
-Tiền gửi thanh toán: Để đáp ứng cho nhu cầu chi trả trong thanh toán giao
dịch,các tổ chức tín dụng khi đợc phép hoạt động đều phải mở tài khoản tại
NHTW và gửi tiền vào tài khoản đó theo quy định.
Cho vay đối với các tổ chức tín dụng
Với t cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW luôn là chủ nợ và là ngời
cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng thông qua hoạt động tái chiết
khâú và cho vay có thế chấp các giấy tờ có giá. Nghiệp vụ tái cấp vốn của
phí thanh toán cho các tổ chức tín dụng và toàn xã hội, đảm bảo vốn luân
chuyển nhanh chóng trong hệ thống ngân hàng và phản ánh chính xác quan hệ
thanh toán giữa các chủ thể kinh tế trong xã hội. Mặt khác, thông qua hoạt động
này ngân hàng trung ơng có thể kiểm tra sự biến động vốn khả dụng của từng
tổ chức tín dụng, là cơ sở để có những kiến nghị kịp thời.
Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng
Khác với các tổ chức kinh doanh khác, kinh doanh trong lĩnh vực tài chính
tiền tệ cần thiết phải đợc kiểm soát và điều tiết chặt chẽ bởi vì:
Trớc hết các tổ chức tín dụng đảm nhiệm vai trò đặc biệt trên thị trờng tài
chính nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế nói chung, cụ thể là: Nó là kênh
chuyển giao vốn từ tiết kiệm đến đầu t, là công cụ của chính phủ trong việc tài
trợ vốn cho các mục tieu chiến lợc và là nhân tố có ảnh hởng quyết định đến
việc điều hành chính sách tiền tệ.
Thứ hai, bản chất hoạt động cảu các ngân hàng là chứa đựng rủi ro. Mức độ
rủi ro sẽ tăng lên khi các ngân hàng có xu hớng chạy theo lợi nhuận làm phơng
hại đến quyền lợi của ngời gửi tiền. Nguyên tắc hoạt động của các ngân hàng là
đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn. Bảng tổng kết tài sản của nó luôn chứa
đựng mức rủi ro tiềm năng do chênh lệch về thời hạn giữa nguồn vốn và sử
dụng vốn, giữa yêu cầu thanh toán và mong muốn sinh lợi tối đa. Các ngân
hàng lại có mối liên hệ và phụ thuộc với nhau chặt chẽ thông qua các luồng vốn
tín dụng luân chuyển và thông qua hoạt động của hệ thống thanh toán. Vì vậy,
chỉ cần một trục trặc nhỏ trong quá trình thanh toán của một ngân hàng cũng sẽ
gây nên vấn đề về tính thanh toán của cả hệ thống, đồng thời làm ảnh hởng tới
quyền lợi của ngời gửi tiền làm giảm sút lòng tin của họ đối với ngân hàng.
Vì vậy, vai trò điều tiết, giám sát thờng xuyên hoạt động các tổ chức tín
dụng của NHTW là rất cần thiết, một mặt đảm bảo cho sự ổn định của cả hệ
thống ngân hàng, mặt khác bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc
biệt là của ngời gửi tiền. Nội dung của vai trò này bao gồm: cấp giấy phép hoạt
động; quy định nội dung hoạt động và các quy chế nghiệp vụ đòi hỏi các tổ
chức tín dụng phải tuân theo; thờng xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của các
ở phần lớn các nớc, ngân hàng trung ơng tỏ ra thích hợp với vai trò này hơn cả
bởi bên cạnh việc giữ và quản lý tài khoản cho chính phủ, NHTW còn thực hiện
chức năng đại lý và cấp tín dụng cho chính phủ khi cần thiết.
Thứ hai, NHTW quản lý dự trữ quốc gia, bao gồm các loại tài sản chiến lợc
mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải dự trữ cho nhu cầu chi tiêu trong những trờng
hợp cần thiết: vàng, ngoại tệ, chứng từ có giá của nớc ngoài. Dự trữ quốc gia
không phải là loại tài sản tĩnh. Về nguyên tắc, ngân hàng trung ơng chỉ cần giữ
cho dữ trữ không rơi xuống qúa mức tối thiểu mà luật quy định. Còn trong quá
trình hoạt động của mình, ngân hàng trung ơng hoàn toàn có thể sử dụng dự trữ
quốc gia để phục vụ cho thao tác trong chính sách tiền tệ.
Thứ ba, ngân hàng trung ơng có thể cấp tín dụng cho chính phủ trong trờng
hợp cần thiết, nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong năm tài chính hoặc bộ chi
ngân sách vào cuối năm tài chính. Tuy nhiên, do việc cho ngân sách vay trực
tiếp sẽ làm tăng lợng tiền cung ứng, có thể dẫn tới nguy cơ lạm phát nên ngày
nay các NHTW rất hạn chế các khoản tín dụng trực tiếp cho chính phủ.
Thứ t, ngân hàng trung ơng làm đại lý, đại diện và t vấn cho chính phủ.
Dịch vụ đại lý mạng ngân hàng trung ơng cung cấp thờng xuyên và có hiệu quả
cho chính phủ là đại lý trong việc phát hành chứng khoán chính phủ khi chính
phủ có nhu cầu bù đắp thiếu hụt ngân sách. Ngân hàng trung ơng thực hiện một
dịch vụ đại lý toàn phần cho các hoạt động phát hành chứng khoán chính phủ,
gồm có : Thông báo việc phát hành chứng khoán mới về loại chứng khoán,
mệnh giá, số lợng, thời hạn .;nhận đơn và tổ chức đấu thầu; thông báo kết quả
đấu thầu; phân phối chứng khoán trúng thầu và nhận tiền cho kho bạc; tổ chức
thanh toán chứng khoán khi đến hạn thông qua ngân hàng trung gian .
NHTW tổ chức đấu thầu chứng khoán chính phủ thờng xuyên, có thể
hàng ngày nh cục dữ trữ liên bang Mỹ, 3 ngày một lần nh ngân hàng trung ơng
Pháp và một tuần một lần nh của Việt Nam .
Ngoài ra, NHTW còn đại diện cho chính phủ tại các tổ chức tìa chính tiền tệ
quốc tế, ký kết các điều ớc quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo sự uỷ
quyền của chính phủ. ở hầu hết các nớc, chính phủ giao cho bộ tìa chính làm
ớc hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trên đây là những chức năng cơ bản của ngân hàng trung ơng, thể hiện rõ
bản chất của nó.Với t cách là một địnhchế công cộng, có thể độc lập hoặc trực
thuộc chính phủ, ngân hàng trung ơng thực hiện chức năng độc quyền phát
hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng cảu chính phủ. Nhng có
thể nói chức năng quyết định bản chất ngân hàng trung ơng ; một ngân hàng
phát hành , là chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động của các
ngân hàng. Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ
ngân hàng của ngân hàng trung ơng, và đợc thể hiện rõ trong việc xây dựng và
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của ngân hàng trung ơng .
Cụ thể của vấn đề này chúng ta sẽ nghiên cứu tiếp ở phần II.
2. Ngân hàng thơng mại
2.1. Khái niệm ngân hàng thơng mại.
Ngân hàng thơng mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên.Đó là một tổ
chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhạn tiền gửi
của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh toán .
Ngân hàng thơng mại chủ yếu kkinh doanh trong lĩnh vực ngắn hạn, tuy
nhiên gần đây do thừa vốn nên bắt đầu vơn sang lĩnh vực tín dụng và dài
hạn.ngoài ra, ngân hàng thơng mại còn cung cấp các dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng và buôn bán ngoại tệ .
Các ngân hàng thơng mại huy động vốn chủ yếu dới dạng : tiền gửi có thể
phát séc, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn và họ dùng vốn vay này để cho
vay dới các hình thức nh : Cho vay thơng mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế
chấp và để mua các chứng khoán chính phủ, các ttrái phiếu của chính quyền địa
phơng .
Nh vậy, trong bất kỳ một quốc gia nào, ngân hàng thơng mại cũng là nhóm
trung gian tài chính lớn nhất hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận. Tổng tài sản
có của ngân hàng thơng mại có khối lợng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân
hàng. Các ngân hàng thơng mại còn có vai trò quan trọng trong qua trình cung
nhu cầu rút tiền mặt trang trải hết số thiếu trong thanh toán bù trừ, hoặc những
nhu cầu vay mợn chính đáng của khách hàng. Các khoản dự trữ quá mức là bảo
hiểm giúp ngân hàng chống lại các chi phí gây ra khi nhu cầu rút tiền của khách
hàng tăng lên.
2.2.2 Bảo đảm mức sinh lợi cao.
Mục tiêu cuối cùng cua ngân hàng thơng mại là lợi nhuận. Trong môi trờng
cạnh tranh, ngân hàng thơng mại phải phấn đấu để có mức lợi nhuận cao nhất
mới mong tồn tại và phát triển bền vững. Nó đòi hỏi bất kỳ ngân hàng thơng
mại cũng phải đẩy nhanh hoạt động va đầu t, tức là phải cho vay đợc nhiều và
với thu nhập tiền lãi cao. Tất nhiên khi tìm nhuồn vay, ngân hàng thơng mại
phải thực hiện theo phơng châm là thận trọng nhng không bỏ lỡ cơ hội cho vay
với lãi suất cao. Do đó để quản lý tốt tiền cho vay. Một, nghiệp vụ quan trọng
nhất đối với việc tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng và tránh các rủi ro có thể xảy
ra, ngân hàng phải thực hiện các quy chế sau:
Thứ nhất sàng lọc các đối tợng vay, tức là phải nắm đợc tình hình hoạt động
của ngời cần vay, từ đó lọc ngời mạo hiểm vay tiền có triển vọng tổ ra khỏi ngời
vay tiền có triển vọng xấu.
Thứ hai, tăng cờng giám sát để hạn chế tinh rủi ro đạo đức, ngăn chặn hoạt
động rủi ro mà dẫn đến sự vỡ nợ của ngơì vay. điều đó có khả năng thực hiện đ-
ợc bằng việc quy định hạn chế lợng tiền cho vay. Bằng cách đó ngân hàng th-
ơng mại sẽ giảm bớt rủi ro khi vay.
2.2.3. Xử lý hài hoà mối quan hệ giữa yêu cầu bảo đảm khả năng thanh
toán thờng xuyên và yêu cầu bảo đảm sinh lời cao.
Trong kinh doanh, muốn giữ vững và cạnh tranh đợc, ngân hàng thơng mại
phải vừa đảm bảo khả năng thanh toán thờng xuyên, vừa đảm bảo mức sinh lời
cao. Muốn vậy, ngân hàng thơng mại phải quản lý tốt tài sản C6, sắp xếp tài sản
có theo trật tự tính năng của chúng. Trên cơ sở bảo đảm mức dữ trữ tuyến đầu
( tiền mặt, tiền gửi ở ngân hàng thơng mại và tiền gửi ở các ngân hàng khác ) và
ở mức dự trữ tuyến hai (chứng khoán ngắn hạn ), ngân hàng thơng mại bố trí cơ
cấu hợp lý các khoản cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, dàu t chứng khoán
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
trong nền kinh tế , ngân hàng thơng mại hình thàh nên quỹ cho vay của nó rồi
đem cho vay đối với nền kinh tế, bao gồm cả cho vay ngắn hạn và cho vay dài
hạn .
Nh vậy, ngân hàng thơng mại vừa đóng vai trò là ngời đi vay vừa đóng vai
trò là ngời cho vay. Với chức năng này, ngân hàng thơng mại, đã góp phần tạo
lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ. Cụ thể :
Đối với bản thân ngân hàng thơng mại, họ sẽ tìm kiếm đợc lợi nhuận cho
mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng mối
giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thơng
mại. Đối với ngời gửi tiền, họ thu đợc lợi từ vón tạm thời nhàn rỗi của mình do
ngân hàng trả lãi tiền gửi cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an
toàn và cung cấp các phơng tiện thanh toán .
Đối với ngời đi vay, họ sẽ thoả mãn đợc nhu cầu vốn đẻ kinh doanh, chi tiêu,
thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm
nơi cung ứng vốn tiện lợi chắc chắn và hợp pháp . Đối với nền kinh tế, chức
năng nàycủa ngân hàng thơng mại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
Ngời cần vốnNgời có vốn
Ngân hàng
thơng
mại