A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới đất nước, các ngành, các lĩnh vực hoạt động đều có đóng góp
nhất định và luôn tự cải tiến để vươn tới sự hoàn thiện.
Bảo hiểm là một ngành dịch vụ, có giá trị quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Bảo
hiểm không chỉ thực hiện việc huy động vốn cho nền kinh tế mà điều quan trọng là góp
phần đảm bảo ổn định tài chính cho các cá nhân, gia đình, cho mọi tổ chức và doanh
nghiệp để khôi phục đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngày nay bảo hiểm không
còn xa lạ mà đã len lỏi đến mọi làng quê, mọi cơ quan, doanh nghiệp và đã thâm nhập vào
mọi hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội. Kinh tế ngày càng phát triển, đời sống càng
cao thì nhu cầu bảo hiểm ngày càng lớn, càng xuất hiện nhiều nghiệp vụ mới.
Là sinh viên học chuyên ngành về bảo hiểm và tương lai có thể trở thành một các bộ
tham gia công tác bảo hiểm,e chọn đề tài:”Bản chất và chức năng của bảo hiểm xã hội Việt
Nam” để làm bài tiểu luận.Em muốn tìm hiểu sâu hơn nữa về BHXH nước ta và muốn góp
một vài ý kiến của mình để làm cho BHXH thể hiện rõ nét tầm quan trọng về chức năng
của BHXH trong tình hình hiện nay.
Kết cấu bài tiểu luần của em gồm 3 phần(không kể lời mở đầu và kết luận):
Phần 1: Lý luận chung về bản chất,chức năng của bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Phần 2:Thực trạng về ngành bảo hiểm ở nước ta hiện nay.
Phần 3:Một số giải pháp để BHXH thể hiện được rõ bản chất và chức năng của mình
đối với nền kinh tế-xã hội nói chung và với người tham gia bảo hiểm nói riêng.
Trong quá trình làm tiểu luận,mặc dù đã rất cố gắng song e không thể tránh khỏi những
sai sót và kiếm khuyết.Em kính mong các thầy cô góp ý để e có thể rút kinh nghiệm cho
những bài viết sau này.Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Đức Trọng đã giúp
đỡ,hướng dẫn chúng e một cách tận tình để chúng em có thể hoàn thành bài tiểu luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
B. NỘI DUNG
Phần 1:Lý luận chung về bản chất,chức năng của BHXH Việt Nam.
1.1.Khái quát về BHXH:
1.1.1.Khái niệm BHXH:
BHXH là biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
thiết phải có thu nhập đề phòng khi họ gặp rủi ro tai nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi giới
chủ phải cam kết đảm bảo một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết
yếu khi ốm đau thai sản… Lúc đầu giới chủ cảm kết đảm bảo cho người lao động những
khoản thu nhập nhất định đó. Song nhiều khi rủi ro xảy ra liên tục buộc người chủ phải chi
ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn. Do vậy, giới chủ đã chi nhiều hơn nên xuất
hiện mâu thuẫn và tranh chấp giữa chủ và thợ, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Đứng trước
tình cảnh đó Nhà nước là người thứ ba đứng ra giải quyết mâu thuẫn đó và điều hòa lợi ích
giữa chủ và thợ, cụ thể: Yêu cầu cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp những khoản tiền
nhất định để hình thành quỹ đồng thời nhà nước hỗ trợ một phần để giúp các bên giải quyết
khó khăn.
Từ đó, cả giới chủ và thợ đều được đảm bảo và họ thấy có lợi các nguồn đóng góp của
giới chủ, thợ và sự hỗ chợ của Nhà nước hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung - quỹ BHXH.
Như vậy BHXH ra đời là một đời hỏi khách quan của thực tế ngày càng phát triển cùng
với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều
thấy cần thiết phải tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của người lao động.
1.2. Đối tượng áp dụng BHXH và chế độ BHXH.
1.2.1. Đối tượng áp dụng BHXH.
BHXH bắt buộc
Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động
có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
3
- S quan, quõn nhõn chuyờn nghip quõn i nhõn dõn; s quan, h s quan nghip v,
s quan, h s quan chuyờn mụn k thut cụng an nhõn dõn; ngi lm cụng tỏc c yu
hng lng nh i vi quõn i nhõn dõn, cụng an nhõn dõn;
- H s quan, binh s quõn i nhõn dõn v h s quan, chin s cụng an nhõn dõn
phc v cú thi hn;
- Ngi lm vic cú thi hn nc ngoi m trc ú ó úng bo him xó hi bt
làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP
ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý
cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước.
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động
có sử dụng từ mười (10) người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh
nghiệp sau đây
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân.
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp
thuộc tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác.
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.
- Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và
trả công cho người lao động.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
1.2.2. Chế độ BHXH.
Các chế độ BHXH có thể coi như việc cụ thể hóa việc thực hiện mục đích của BHXH
mà bộ luật lao động đã nêu rõ: nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc đảm bảo vật chất
góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp người
5
lao động gặp các rủi ro bất ngờ. Do đó, số lượng các chế dộ bảo hiểm xã hội thể hiện mức
độ đảm bảo của xã hội với đời sống người lao động.
Hiện nay, ở nước ta có 5 chế độ BHXH áp dụng cho các đối tượng bắt buộc sau:
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp
- Chế độ hưu trí
- Tiền mai táng và chế độ tuất.
Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, hoạt động BHXH là quá trình phân phối lại một
phần thu nhập quốc dân cho các thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH bằng cách tạo lập
và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung có quy mô lớn trên phạm vi cả nước.
-Dưới góc độ xã hội, BHXH là một chính sách nhằm bảo đảm đời sống cho các thành
viên trong xã hội, qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội. BHXH được xem
như là biện pháp công cộng vì lợi ích của người lao động trong những lúc khó khăn, vì an
sinh xã hội và có ý nghĩa xã hội sâu sắc. BHXH phản ánh bản chất của một chế độ xã hội
nhất định. Một xã hội có nhiều người lao động được BHXH là xã hội vững về chính trị và
phat triển ổn định. Trên góc độ quốc gia, đó là sự thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhà
nước đối với người dân.
Tóm lại, chính sách BHXH gắn liền với một thể chế chính trị nhất định và phải dựa
trên nền tảng kinh tế cụ thể. Một đất nước muốn có hệ thống BHXH hoạt động hiệu quả thì
phải có một nền kinh tế đủ mạnh và một nền chính trị ổn định, tiến bộ. Vì vậy việc tổ chức
và vận hành hệ thống BHXH phải dựa trên quan điểm toàn diện, tổng thể.
3. Chức năng của BHXH
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Đây là chức
năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt
động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH.
Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụng lao động. Các
bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số
người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này
7
thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp. Như vậy, theo
quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và
chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những
người khỏe mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc… Thực hiện chức
năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
cả nước đang trong tình trạng khủng hoảng thì nền kinh tế Hồng Lĩnh ít nhiều đã có những
biến động lớn, hoạt động sản xuất không mang lại hiệu quả sẽ bị đào thải điều này làm ảnh
hưởng đến số lượng lao động mất việc làm đi cùng đó là số lượng tham gia BHXH sẽ có
xu hướng giảm xuống nhanh chóng.
9
TÌNH HÌNH THAM GIA BHXH GIAI ĐOẠN 2008- 2010
ĐƠN VỊ TÍNH: ĐƠN VỊ, NGƯỜI,
%
T
T
LOẠI HÌNH QUẢN LÍ
Năm 2008 ước năm 2009 Năm 2010 (dự kiến)
Số
đơn vị
Số
người
TỶ
TRỌNG
Số
đơn vị
Số
người
TỶ
TRỌNG
Số
đơn vị
Số ng-
ười
TỶ
TRỌNG
5,42
7
129,8
77
1.4
%
5,90
5
135,00
0 1.6%
3 Xã, Phường, thị trấn
11,2
79
212,8
00 2.5%
11,3
35
221,0
15
2.4
%
11,3
92
223,00
0 2.6%
4 Doanh nghiệp Nhà nước
8,18
0
1,315
,102
08
2,270,
000
26.6
%
6 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
63,1
02
1,951
,153
22.8
%
75,7
22
2,198
,624
24.2
%
89,3
52
2,395,
000
28.0
%
7 Hợp tác xã
8,61
8
56,93
5 0.7%
6,19
ĐT 64,200
2 Ngoài công lập
114,75
0
3 Xã, phường, thị trấn 4,460
10
4 Doanh nghiệp Nhà nước
1,268,
250
5
Doanh nghiệp có vốn nước
ngoài
2,043,
000
6 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
2,275,
250
7 Hợp tác xã 65,280
- Lương tối thiểu 650,000 đồng
NGUỒN: BÁO CÁO CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
11