Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008
Nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng
dầu và áp dụng tại Việt Namhttp://svnckh.com.vn
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ PHÒNG VỆ RỦI RO
BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU
1. Các vấn đề cơ bản về phòng vệ rủi ro
1.1. Đặc điểm của thị trƣờng dầu lửa
1.2. Rủi ro biến động giá xăng dầu
1.3. Tại sao phải phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu
ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI
1. Các giải pháp vĩ mô
2. Các giải pháp vi mô
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
http://svnckh.com.vn
3
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Bảng
Biểu đồ 2.10: Giá xăng dầu nhập khẩu từ thị trường Singapore và giá bán trong nước.
Sơ đồ
Sơ đồ 1.1: Dòng tiền doanh nghiệp khi hedged
Sơ đồ 1.2: Cơ chế mua bán hợp đồng tương lai
Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa giá tương lai và giá giao ngay
Sơ đồ 2.1: Lượng tiêu thụ dầu trên đầu người năm 2007
Sơ đồ 2.2: Tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ tại các khu vực trên thế giới
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ thể hiện kho dự trữ, vận chuyển và phân phối xăng, dầu trong nước.
Sơ đồ 2.4: Khi chưa thực hiện hedging
Sơ đồ 2.5 : Hedge bằng swap
Sơ đồ 2.6: Hedge bằng quyền chọn mua (call)
Sơ đồ 2.7: Hedge bằng collar http://svnckh.com.vn
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.
Xăng dầu là loại nhiên liệu không thể thiếu được đối với mỗi nền kinh tế.
Thực tế các nước trên thế giới cho thấy, các nước thuộc nhóm nước phát triển
cao nhất đang sử dụng lượng xăng dầu nhiều nhất và ngược lại. Kinh tế càng
phát triển nhu cầu về xăng dầu càng lớn, xăng dầu là nhân tố duy trì, thúc đẩy sự
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế
với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao so với các nước đang phát triển nên đảm
bảo xăng dầu tiêu thụ là một yêu cầu cấp thiết. Việt Nam mỗi năm xuất khẩu
dầu thô khoảng trên 17.000 nghìn tấn tuy nhiên do chưa có nhà máy lọc dầu nên
hiện chúng ta phải nhập khẩu hoàn toàn xăng, dầu thành phẩm từ nước ngoài.
Chính vì vậy chúng ta bị phụ thuộc, bị động trước những biến động của nguồn
thống kê, so sánh, sử dụng các số liệu nghiên cứu thứ cấp. Bên cạnh đó các
phương pháp mô hình hóa sử dụng bảng biểu, đồ thị sẽ giải thích cơ chế hoạt
động của các công cụ phòng vệ một cách sinh động.
4. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và phụ lục, bài viết có kết cấu như sau:
Chương I: Lý luận chung về nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu.
Chương II: Ứng dụng các công cụ phái sinh vào phòng vệ rủi ro giá xăng
dầu ở Việt nam.
Chương III: Đề xuất các biện pháp phòng vệ rủi ro giá xăng dầu tại Việt
Nam trong thời gian tới.
5. Kết quả nghiên cứu dự kiến.
Đóng góp chủ yếu của đề tài là: i, Khái quát hóa cở sở lý luận của việc phòng vệ
biến động giá xăng dầu và kinh nghiệm sử dụng các công cụ phòng vệ giá xăng
dầu ở Trung Quốc; ii, Phân tích vai trò và khả năng ứng dụng các công cụ phòng
vệ giá xăng dầu ở Việt Nam; iii, Đề xuất các giải pháp sử dụng các công cụ
phòng vệ giá xăng dầu để bình ổn giá xăng dầu ở Việt Nam.
Do đây là một lĩnh vực mới ở Việt Nam, chưa có những nghiên cứu được
công bố trong nước cộng với trình độ người viết còn hạn chế nên bài viết chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các thầy, cô giáo và các bạn
đóng góp, chỉ bảo để đề tài của nhóm nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn. http://svnckh.com.vn
3
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ PHÒNG VỆ RỦI RO
BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU
1. Các vấn đề cơ bản về phòng vệ rủi ro.
1.1. Đặc điểm của thị trƣờng dầu lửa.
Dầu mỏ là hỗn hợp của các hiđrôcacbon, là hợp chất của hiđrô và cacbon.
dầu.
West Texas Intermediate (WTI) cho dầu mỏ Bắc Mỹ.
Dubai được sử dụng làm chuẩn cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương của
dầu mỏ Trung Cận Đông.
Tapis (từ Malaysia, được sử dụng làm tham chiếu cho dầu mỏ nhẹ Viễn
Đông).
Minas (từ Indonesia, được sử dụng làm tham chiếu cho dầu mỏ nặng Viễn
Đông).
Giỏ OPEC bao gồm:
o Arab Light (Ả Rập Saudi)
o Bonny Light (Nigeria)
o Fateh (Dubai)
o Isthmus (Mexico)(không OPEC)
o Minas (Indonesia)
o Saharan Blend (Angiêri)
o Tia Juana Light (Venezuela)
Từ cuối thế kỷ XIX, hết thế kỷ XX cho đến hôm nay, dầu mỏ đều ít nhiều
là tác nhân gây nên những cuộc tranh giành quyền lực, dẫn đến những cuộc đại
khủng hoảng kinh tế thế giới và cuối cùng là hai cuộc chiến tranh thế giới trong
thế kỷ XX. Vào đầu những năm 1970, do dầu đột ngột tăng giá, kinh tế thế giới,
nhất là ở những nước công nghiệp tiên tiến, đã rơi vào một cuộc khủng hoảng
http://svnckh.com.vn
5
năng lượng nghiêm trọng. Từ đó tới nay những biến động về giá dầu đã trở
thành mối quan tâm hàng ngày, hàng giờ. Nhiều lúc người ta có cảm tưởng sự
tồn vong và phát triển của thế giới hiện nay phụ thuộc phần lớn vào các nguồn
tài nguyên, chủ yếu là dầu mỏ và khí đốt, nguồn năng lượng mà loài người hiện
chỉ còn 30 đến 35% dự trữ, tức là với tốc độ sử dụng hiện nay dầu mỏ chỉ còn
1,6% - 1,8%/năm.
1.1.1. Tổng quan về xuất-nhập khẩu dầu mỏ của thế giới.
Trung Đông luôn là khu vực xuất khẩu lớn nhất thế giới với tỷ trọng xuất
khẩu luôn tăng từ 1986 lại đây. Lượng xuất khẩu này chưa bao giờ dừng lại và
trong tương lai vẫn với vai trò là những nước có trữ lượng lớn nhất, con số này
sẽ không giảm mà có thể nói là tăng nhanh, cho dù có những vấn đề chính trị
nào có thể xảy ra đi chăng nữa. Sau khu vực Trung Đông, khu vực xuất khẩu lớn
thứ hai là Nga và các nước Đông Âu, kế tiếp là khu vực châu Phi và các nước
Mỹ Latinh.
Bảng 1.1: Các nƣớc xuất khẩu dầu thô trên 1 triệu thùng/ngày
Đơn vị: triệu thùng/ngày
STT
Nƣớc
Số lƣợng
STT
Nƣớc
Số lƣợng
1
Ả Rập Xêut
7,38
7
Nigeria
2
2
Nga
4,76
8
Irắc
2
3
http://svnckh.com.vn
7
Bảng 1.2: Các nƣớc nhập khẩu lớn trên thế giới
STT
Nƣớc
Tiêu thụ (triệu
thùng/ngày)
Nhập khẩu (triệu
thùng/ngày)
1
Mỹ
19
11
2
Nhật
5,5
5,3
3
Đức
2,8
2,5
4
Opec tăng sản lƣợng 10%
Khủng hoảng tài chính châu Á
Một loại mức cắt giảm sản
lƣợng của OPEC còn 4,2
triệu thùng/ngày
Mỹ điều khiển
giá dầu
Chiến tranh
vùng Vịnh
Chiến tranh Iraq
Kinh tế châu Á phục hồi
Đồng đôla suy yếu
Giá dầu thế giới
Biều đồ 1.2: Giá dầu thô trên thế giới từ 1947 – 5/2008
http://svnckh.com.vn
8
Vào năm 1960, OPEC được thành lập với 6 thành viên sáng lập là Iran,
Iraq, Kwait, Saudi Arabia và Venezuela. Vào cuối năm 1971, 6 thành viên khác
cũng tham gia: Qatar, Indonesia, Libya, Cộng hoà Ả Rập, Algeria và Nigeria.
Chỉ một thời gian ngắn sau đó, OPEC đã thông qua kết cục của một cuộc chiến
tranh không hề dự định trước đó là sẽ mở rộng khả năng kiểm soát của tổ chức
này lên giá dầu.
1.1.2.2. Từ năm 1973 – 1981: Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất, thời
kỳ Ả Rập cấm vận đối với Mỹ.
Vào năm 1972, giá dầu thô vào khoảng 3$/thùng và vào cuối năm 1974,
giá dầu mỏ đã tăng gấp 4 lần tới 12$. Nguyên nhân có thể là cuộc chiến tranh
Yom Kippor nổ ra vào mùa thu năm 1973, theo sau đó là việc các quốc gia Ả
do nhiều thành viên khác của OPEC sản xuất lớn hơn mức hạn ngạch quy định.
Trong suốt thời gian này Ả Rập Xêut đã thực hiện như một đầu tầu làm gương,
cắt giảm sản lượng để ngăn cản việc giảm tự do của giá dầu. Vào tháng 8/1985,
Ả Rập Xêut cũng đã quá mệt mỏi với vai trò này. Họ đã liên kết giá dầu của
mình với thị trường dầu thô giao ngay và đầu năm 1986 đã tăng sản lượng dầu
từ 2 triệu thùng mỗi ngày lên đến 5 triệu thùng mỗi ngày. Giá dầu thô giảm
mạnh xuống còn 10$/thùng vào giữa năm 1986.
Vào tháng 12 năm 1986, giá dầu của OPEC đạt mức kỷ lục là 18$/thùng
và kỷ lục này cũng bị phá vỡ vào tháng 1/1987. Giá dầu vẫn ở mức yếu. Giá dầu
tăng vào những năm 1990 với việc kết hợp cả cuộc xâm lược của Irắc với Cô-
oet và tiếp theo là cuộc chiến tranh vùng Vịnh, nhưng cuộc chiến dầu mỏ tiếp
theo đó đã làm giảm mạnh giá dầu cho tới tận năm 1994 giá dầu được điều chỉnh
theo lạm phát đạt mức thấp nhất kể từ năm 1973.
1.1.2.4. Từ năm 1991 – 2001: Khủng hoảng dầu mỏ lần thứ ba năm 1991.
Giá dầu thô trong năm 1990 tăng vọt đầy biến động gắn liền với việc Iraq
xâm lược Iran và sự leo thang của chiến dịch Bão táp sa mạc với kết cục là ép
được Saddam Hussein phải rút quân. Đợt tăng giá lần này là hết sức đáng kể -
chỉ vài tuần trong tháng 8 năm 1990, giá dầu thô nhẹ của Ả Rập Xêut đã tăng từ
15$/thùng lên trên 33$/thùng. Tuy nhiên tác động lên nguồn cung ứng dầu là
không nhiều bởi vì Ả Rập Xêut và các quốc gia Ả Rập khác lần này là đồng
minh với liên minh Hoa Kỳ đã chiến thắng Iraq, giá dầu ngay lập tức đã tụt
xuống. Và sau đó giá cả đã giảm xuống tiếp khi cuộc chiến tranh vùng Vịnh tiếp
theo đó diễn ra nhanh hơn với ít thương vong hơn so với dự đoán của các nhà
http://svnckh.com.vn
10
phân tích. Sau chiến tranh, giá dầu thô bước vào một thời kỳ giảm đều cho đến
năm 1994, khi mà giá cả đã có điều chỉnh theo lạm phát xuống mức thấp nhất kể
từ năm 1990. Tiếp theo cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và việc Liên hợp
tải biển ở mức cao. Mặc khác, theo xu hướng trong tương lai, sự đông thêm và
hiện đại hơn của đội tàu chở dầu thế giới sẽ làm giảm cước phí.
Rủi ro về tỷ giá hối đoái: tỷ giá giữa đồng USD so với VND có xu
hướng tăng cao, làm tăng chi phí và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh
doanh. Rủi ro về tỷ giá có thể được phòng ngừa bằng cách sử dụng các hợp đồng
phái sinh.
Rủi ro về thời gian: là rủi ro hàng giao quá nhiều làm tăng chi phí lưu
kho hoặc giao quá ít, thiếu hụt làm ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh.
1.3. Tại sao phải phòng vệ biến động giá xăng dầu.
Xăng dầu là một mặt hàng nhạy cảm, dễ biến động về giá. Đặc biệt trong
một vài năm trở lại đây, giá xăng dầu thế giới biến động mạnh theo chiều hướng
tăng. Tại Việt Nam rủi ro biến động giá xăng dầu gây ảnh hưởng trực tiếp đến
chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp và có thể đẩy lạm phát lên cao ra đe
dọa sự ổn định của nền kinh tế. Việc Chính phủ bù lỗ giá xăng dầu, chưa thả nổi
giá xăng dầu theo cơ chế thị trường dẫn đến nhiều tác động tiêu cực:
i, Ngân sách phải chi một khoản khổng lồ để bù lỗ cho ngành xăng dầu,
mỗi năm bù lỗ trên dưới cả chục ngàn tỷ đồng.
ii, Việc bù lỗ ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng nâng cao năng lực cạnh
tranh và khả năng hội nhập của ngành xăng dầu, hình thành thái độ ỷ lại cho các
doanh nghiệp sử dụng xăng dầu. Khi giá cả của thế giới tăng lên thì cách phản
ứng hợp lý nhất đối với doanh nghiệp là nâng cao năng suất lao động và cắt
giảm chi phí một cách hợp lý để hạ giá thành sản phẩm, áp lực phải làm như vậy
đã bị chính sách trợ giá vô hiệu hoá. Các doanh nghiệp khó có thể cải tổ kịp thới
để đón nhận cạnh tranh để đón nhận cạnh tranh của thời kỳ hội nhập.
iii, Do bù lỗ nên giá xăng dầu của Việt Nam rẻ hơn so với các nước xung
quanh, sự chênh lệch này dẫn đến nạn chảy máu xăng dầu qua biên giới, thất
thoát tiền của nhà nước. Hơn nữa chi phí tăng cường phòng chống buôn lậu qua
biên giới là gánh nặng cho Chính phủ.
giá xăng dầu. Như vậy, vai trò của việc phòng tránh rủi ro được thể hiện rất
quan trọng và có tính cấp thiết.
Chúng ta đã khẳng định xăng dầu có vị trí rất quan trọng đối với bất cứ
một nền kinh tế nào trên thế giới, cụ thể hơn xăng dầu thể hiện vai trò rõ nét
trong các nghành sản xuất, kinh doanh.
Trong hoạt động của ngành vận tải, chi phi cho xăng dầu chiếm tới 40%,
hoạt động sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 5-17%. Cụ thể:
Bảng 1.4: Phần trăm chi phí cho xăng dầu trong các hoạt động
Ngành
Phần trăm chi phí cho xăng dầu
Vận tải
40%
Sản xuất nhiệt điện
22-25%
Sản xuất công nghiệp
5-17%
Nông nghiệp
3-15%
Đánh bắt thuỷ sản
70-80%
(Nguồn: Nguyễn Đình Cát, bí mật thế giới dầu mỏ - báo Nhân dân 2006)
http://svnckh.com.vn
13
Giá xăng dầu trên thị trường thế giới luôn luôn biến động khó lường. Vì
vậy việc kiểm soát được giá xăng dầu rất quạn trọng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Cụ thể việc kiểm soát được giá xăng dầu sẽ mang lại cho doanh
nghiệp những lợi ích.
Thứ nhất, ổn định dòng tiền ra/vào doanh nghiệp.
Dòng tiền mong đợi
Xác
xuất
(%)
Dòng tiền ($)
http://svnckh.com.vn
14
việc thu chi. Giảm thiểu việc chi tiêu dàn trải, lãng phí và thừa thãi trong phân
bổ nguồn ngân quỹ.
Thứ tƣ, giữ vững lợi tức doanh nghiệp, doanh nghiệp phát triển ổn định,
đạt được các chỉ tiêu cơ bản đã đề ra.
Thứ năm, giúp định giá bán hàng đầu ra. Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ đạt
mức tối ưu, phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng, tạo ra được doanh
số tối đa và do đó có được lợi nhuận tối đa trong điều kiện có thể.
Thứ sáu, bảo hiểm trước những rủi ro bất khả kháng. Thị trường luôn vận
động và xuất hiện những cơ hội may mắn cho các doanh nghiệp, nhưng cũng
xuất hiện những hiểm hoạ luôn rình rập chờ đón. Có những rủi ro không thể
lường trước được, dựa vào việc kiểm soát giá, doanh nghiệp phân tích, đề ra
những biện pháp ứng phó với những bất trắc có thể có và hạn chế đến mức tối
thiểu hậu quả của những rủi ro kinh doanh. Hình thành thói quen thích nghi và
ứng phó thuận lợi khi xảy ra rủi ro.
Thứ bảy, nắm giữ lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Lợi thế cạnh tranh
quyết định đến thương hiệu của mỗi doanh nghiệp.
2. Ứng dụng các công cụ phái sinh trong phòng vệ rủi ro biến động giá xăng
dầu.
Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, cùng với sự phát triển của thị trường
hàng hóa, thì việc sử dụng những công cụ tài chính để phòng ngừa rủi ro cũng
rất phát triển. Có thể kể ra đó là những nghiệp vụ phòng vệ sử dụng công cụ
phái sinh ngày càng phổ biến. Các công cụ phái sinh rất đa dạng nhưng nhìn
chung có 4 loại cơ bản, đó là hợp đồng tương lai (futures), hợp đồng kỳ hạn
(forwards), hợp đồng quyền chọn (options) và hợp đồng hoán đổi (swaps). Các
công cụ tài chính phái sinh này là công cụ quan trọng cho việc phát triển và sử
dụng các quỹ bình ổn giá xăng dầu cho các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Công cụ phái sinh được định nghĩa là một công cụ tài chính có giá trị phụ
thuộc vào hay bắt nguồn từ giá trị một tài sản cơ sở khác. Tài sản cơ sở có thể là
nông sản, nhiên liệu, các loại chứng khoán, ngoại tệ, lãi suất, tỉ giá hay các chỉ
số chứng khoán. Các sản phẩm phái sinh được giao dịch trên cả thị trường tập
trung và thị trường phi tập chung (thị trường OTC). Trên thị trường tập trung,
các hợp đồng phái sinh đã được chuẩn hóa và mua bán trên sở giao dịch có tổ
chức. Các nhà đầu tư thường không quan tâm đối tác giao dịch của mình là ai vì
việc giao dịch tại sở giao dịch được tiến hành qua trung tâm thanh toán bù trừ
http://svnckh.com.vn
16
làm trung gian. Trên thị trường phi tập chung các hợp đồng mua bán phái sinh là
sự thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên mà không cần thông qua trung gian.
2.1 Hợp đồng kỳ hạn (Forwards)
2.1.1 Khái niệm
Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận giữa hai bên về việc mua hoặc bán một
lượng tài sản nhất định ở một mức giá xác định tại một thời điểm nhất định
trong tương lai. Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày thanh toán hợp
đồng hay là ngày đáo hạn. Thời gian kể từ khi ký hợp đồng đến khi đáo hạn hợp
f: giá trị của hợp đồng kỳ hạn
S: giá giao ngay (spot price)
K: giá thực hiện trong hợp đồng (delivery
price)
e: cơ số của logarit tự nhiên
u:chi phí lưu kho theo tỷ lệ % giá trị
hàng
y: lợi suất tiện dụng (convenience yield)
r: lãi suất liên tục
T: thời hạn của hợp đồng
Nhìn chung nếu không tính đến các nhân tố khác thì giá kì hạn bao giờ
cũng lớn hơn giá giao ngay, vì nó bao gồm cả yếu tố lãi suất, chi phí lưu kho. – CBOT
(New York Mercantile Exchange) là sở giao dịch hàng hoá lớn nhất thế giới; sàn
giao dịch liên châu lục (ICE) tại Anh; Sở giao dịch hàng hoá DCE ở Trung Quốc
(Dalian Commodity Exchange). http://svnckh.com.vn
18
tới một mức giới hạn (mức bảo chứng duy trì (maintenance margin)) giả sử là
250.000USD thì Petrolimex được yêu cầu ký thêm quỹ cho đạt tới mức bảo
chứng ban đầu (margincall). Nếu Petrolimex không ký thêm quỹ thì công ty bảo
chứng sẽ “đóng” một phần hay toàn bộ giá trị hợp đồng tương lai để bảo đảm
mức bảo chứng được thỏa mãn. Sau đó hoạt động thanh toán của hợp đồng hàng
ngày sẽ diễn ra như mô tả dưới đây.
Bảng 1.5: Hoạt động thanh toán của hợp đồng Futures hàng ngày
Thời gian
Giá Gasoil($/bbl)
Lỗ (Lãi)/ngày
Tài khoản bảo chứng
(USD)
sáng 1/7 mua
hợp đồng tương
lai
Giá tương lai
Fo = 100
0
30.000
Cuối 1/7
102
10000*(102-100)
50.000
Cuối 2/7
100
10000*(100-102)
30.000
Cuối 3/7
99
10000*(99-100)
Gọi F là giá thực hiện trong hợp đồng kỳ hạn (forward) hoặc hợp đồng
tương lai (future). S
T
là giá giao ngày của thị trường tại thời điểm đáo hạn T. Giá
trị nhận được đối với người mua hợp đồng kỳ hạn (forward) hoặc hợp đồng
tương lai (future) tại thời điểm đáo hạn.
Giá trị nhận được đối với người bán khi hợp đồng kỳ hạn (forward) hoặc
hợp đồng tương lai (future) đáo hạn.
F
lãi
giá
0
S
T
- F
Nếu S
T
> F. Người mua nhận được
một khoản lãi ròng là (S
T
– F). Vì
người mua có thể bán với giá giao
ngay S
T
trên thị trường trong khi chỉ
phải mua với giá F.
Nếu ST < = F. Người mua mất một
T
trong khi người bán bán được với
giá F.
0
http://svnckh.com.vn
21
Xác định giá tương lai trong hợp đồng kỳ hạn (forwards), hợp đồng tương lai
(futures).
Tình huống: ngày 1/7/ 2008, bạn ký một hợp đồng mua Gasoil, giá tương lai của
hợp đồng tương lai đáo hạn vào 1/1/2009 là Fo. Giả sử sau 1 tháng vào 1/8/2008
bạn cũng thiết lập một hợp đồng tương lai mua bán Gasoil đáo hạn đúng vào
ngày 1/12/2008 với mức giá tương lai là F
1
. Tình huống là xác định giá F
1
, so
sánh với giá Fo.
Mô hình.
Giá tương lai được xác định trên cơ sở thiết lập mối quan hệ giữa giá
tương lai (future price) và giá giao ngay (spot price) theo nguyên tắc là ở mức
giá xác định thì không thể thu được lợi nhuận bằng cách kinh doanh dựa vào
chênh lệch giá (principle of no arbitrage).
Giả sử giá tài sản cở sở hiện hành là S
o
. Chúng ta đi vay khoản tiền trị giá
S
o
với lãi suất là r để mua tài sản cơ sở. Đồng thời bán hợp đồng tương lai với
S
T
+ D
Bán hợp đồng tương lai tài sản cơ sở
0
F
o
- S
T
Cộng
0
F
o
- S
o
( 1+r) + D
Đến ngày đáo hạn ta nhận được số tiền là cuối kỳ là {F
o
– S
o
(1 + r) + D}.
Nguyên tắc không thể thu lợi từ chênh lệch giá đưa đến kết luận là đầu kỳ ta bỏ
ra 0 đồng thì kỳ cuối ta cũng nhận được lại 0 đồng.
Tức là {F
o
– S
o
(1 + r) + D} = 0. hay F