1
Tiểu luận
Đánh giá quá trình hình thành và
phát triển của thương hiệu Vissan
nay đó là lý do đề tài này ra đời.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề về thương hiệu, kinh nghiệm xây dựng và phát triển
thương hiệu của Vissan.
Rút ra bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp trong ngành.
Giải pháp phát triển thương hiệu trong dài hạn.
3. Phạm vi và giới hạn của đề tài
Phạm vi về không gian: Công ty Vissan ở thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi về thời gian: việc phân tích các số liệu, tài liệu trong giai đoạn 2005 –
2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin thị trường liên quan đến thương hiệu Việt, tài liệu về thương
hiệu Vissan, xử lý thông tin, phân tích định tính, định lượng. Phân tích việc xây dựng
3 thương hiệu của Vissan - doanh nghiệp đã thành công trên con đường xây dựng
thương hiệu, từ đó rút ra bài học cho công cuộc xây dựng thương hiệu Việt.
5. Bố cục của đề tài
Gồm có 3 chương
Chương 1: Giới thiệu về công ty TNHH Một Thành Viên Việt Nam Kỹ Nghệ
Súc Sản (VISSAN)
Chương 2: Đánh giá quá trình hình thành và phát triển thương hiệu Vissan
Chương 3: Một số giải pháp bảo vệ và phát triển thương hiệu Vissan CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN VIỆT
NAM KỸ NGHỆ SÚC SẢN (VISSAN)
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY VISSAN
1.1.1. Lịch sử hình thành
Công ty TNHH Một Thành Viên Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản (VISSAN) là
một doanh nghiệp thành viên của Tổng Công ty Thương Mại Sài Gòn, được thành
lập từ những ngày đầu giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước. Công ty TNHH
Một Thành Viên Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản hoạt động trong lĩnh vực công nghệ giết
mổ gia súc, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, cung cấp thịt tươi sống cho nhu cầu của
nhân dân Thành phố trong thời kỳ nền kinh tế còn theo cơ chế bao cấp. Sau đó, Công
ty đã tham gia xuất khẩu thịt đông lạnh sang thị trường Liên Xô và các nước Đông Âu
chủ yếu là dưới hình thức Nghị định thư .
Vào những năm cuối của thập niên 80 do tình hình chính trị và kinh tế trên thế
giới có nhiều biến động ảnh hưởng lớn đến các hoạt động xuất khẩu đồng thời Đảng
và Nhà nước có chủ trương chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, xóa bao cấp.
Trong thời kỳ này để tồn tại và phát triển, phát huy vai trò chủ đạo của thành phần
kinh tế Nhà nước, Công ty đã chủ động chuyển hướng sản xuất, mạnh dạn đầu tư
trang thiết bị, lấy thị trường nội địa làm đòn bẩy phát triển, đa dạng hoá sản phẩm, mở
rộng kênh phân phối, xây dựng chiến lược sản phẩm, giá cả phù hợp với thị hiếu và
thu nhập của người dân. Do đó, sau khi chuyển sang cơ chế thị trường đến nay Công
ty đã không ngừng phát triển về quy mô cũng như các lĩnh vực sản xuất. Trước đây
chỉ đơn thuần là giết mổ và phân phối thịt gia súc thì hiện nay mở rộng sang các
ngành chế biến thực phẩm, rau quả, chăn nuôi, đầu tư tài chính, xây dựng thành
công thương hiệu “VISSAN”, tạo được uy tín lớn trên thị trường thực phẩm tươi sống
và chế biến, là một trong những đơn vị chế biến thực phẩm hàng đầu trên cả nước.
Một số sản phẩm chế biến đã được xuất khẩu sang các nước Nga, Đông Âu, Châu Á…
1.1.2. Các giai đoạn phát triển
Hoạt động của công ty chuyên về sản xuất, chế biến và kinh doanh các sản
phẩm thịt heo trâu bò, thịt gia cầm tươi sống và đông lạnh, hải sản, sản phẩm thịt
nguội cao cấp theo công nghệ của Pháp, sản phẩm Xúc xích thanh trùng theo công
nghệ của Nhật Bản , sản phẩm chế biến theo truyền thống Việt Nam, sản phẩm đóng
hộp, trứng gà, vịt. Kinh doanh các mặt hàng công nghệ phẩm và tiêu dùng khác. Sản
xuất kinh doanh heo giống, heo thịt, bò giống, bò thịt. Sản xuất, kinh doanh thức ăn
gia súc. Dịch vụ kỹ thuật về chăn nuôi heo, bò. Kinh doanh ăn uống. Kinh doanh nước
trái cây, lương thực chế biến. Sản xuất kinh doanh rau củ quả các loại, rau quả chế
biến, các loại gia vị và hàng nông sản.
Sản phẩm VISSAN hiện nay đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, với
doanh thu và thị phần chiếm lĩnh. VISSAN được xem như một doanh nghiệp SX-KD
ngành súc sản và rau củ quả đứng đầu cả nước.
1.3. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC
1.3.1. Chức năng
Tổ chức khai thác, thu mua các mặt hàng gia cầm, gia súc ở thành phố Hồ Chí
Minh và các tỉnh lân cận.
6 Tổ chức kế hoạch dự trữ, thực hiện chung chiến lược của Thành phố theo yêu
cầu về nguồn thịt tươi sống, đảm bảo chất lượng thịt cung cấp cho thị trường tiêu
dùng và xuất khẩu.
Tổ chức giết mổ, sản xuất chế biến các sản phẩm về thịt, hải sản, và các sản
phẩm chế biến từ thịt khác để cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước.
Liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước, hợp tác đầu tư và xây dựng cơ sở
kỹ thuật.
7 .
TPTS
P. Kế
toán
Tài vụ
Văn
phòng
Công
ty
P. Tổ
chức
Nhân
sự
P. Kế
hoạch
Đầu tư
XN.CB
KD
Thực
ph
ẩ
m
XN.CB
KD
Rau
qu
ả
XN.
Chăn
Xuất
nhập
kh
ẩ
u
P. Vật
tư Kỹ
thuật
P.
KCS
P. NC
&
PTSP
8 Ban Tổng Giám đốc
Điều hành hoạt động của công ty theo pháp luật, các điều lệ của công ty và các
quy định của cơ quan chủ quản cấp trên.
Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh tách ra làm hai phòng riêng biệt là phòng kinh doanh thực
phẩm chế biến và kinh doanh thực phẩm tươi sống.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo định kỳ lên ban lãnh đạo công ty
một cách chính xác, kịp thời, trung thực.
Trực tiếp tham mưu với Ban Tổng Giám Đốc và phân tích các hoạt động sản
9 Đảm nhận toàn bộ công việc hành chánh, lưu trữ hồ sơ văn bản của công ty,
tiếp nhận, phân loại các công văn chủ trương chế độ của Nhà nước. Thực hiện mua
sắm văn phòng phẩm, thiết bị bảo hộ lao động.
Phòng tổ chức nhân sự
Tham mưu cho Ban Tổng Giám Đốc về công tác tổ chức lao động, phân công
lao động, tuyển dụng và đào tạo nhân sự, nâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ
công nhân viên phù hợp với nhiệm vụ của từng người.
Thực hiện các quy định của Ban Tổng Giám Đốc về tính dụng, ký kết các hợp
đồng cho thôi việc, xếp lương, khen thưởng, kỷ luật, xây dựng các phương án trả
lương thưởng.
Phòng kế hoạch đầu tư
Lập kế hoạch đầu tư ngắn hạn, vay và dài hạn cho công ty, theo dõi và thực
hiện dự dán.
Lập kế hoạch kinh doanh tháng, quý, năm và các kế hoạch dài hạn. Phân tích,
đánh giá, thực hiện các quy định tiêu hao về nguyên liệu và các chi phí khác. Tham
khảo thị trường để xác định giá mua nguyên vật liệu, tính toán xác định giá thành
phẩm.
Phòng nghiên cứu và phát triển sản phầm (R&D)
Phân tích hiệu quả kinh tế về các sản phẩm của công ty. Đề ra chiến lược phát
triển sản phẩm mới theo nhu cầu của người tiêu dùng. Nghiên cứu sản phẩm nhằm tổ
chức sản xuất các mặt hàng mới.
1.4. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Kết quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty được cho trong bảng 1.1.
Nhìn vào bảng kết quả cho thấy hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty Vissan
trong các năm qua có biến chuyển tích cực như năm 2008 doanh thu của công ty là
2.975 tỷ đồng qua năm 2009 tăng lên 3.030 tỷ đồng, tăng tương ứng 1,8%, lợi nhuận
trước thuế năm 2008 là 86 tỷ đồng và tăng lên 95,5 tỷ đồng trong năm 2009. Mặc dù
hiện được trong năm 2010 là 3.270 tỷ đồng, đạt 109% kế hoạch, tăng 16% so với cùng
kỳ; Lợi nhuận trước thuế : 107 tỷ đồng, đạt 119% kế hoạch; Nộp ngân sách : 163 tỷ
đồng; Thu nhập bình quân 7,5 triệu đồng/lao động/tháng đạt 112% kế hoạch và tăng
15%. (Xem chi tiết bảng 1.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm và
bảng 1.2: Tốc độ tăng trưởng)
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm của công ty VISSAN
Đơn vị: Tỷ đồng
STT Chỉ tiêu 2008 2009 2010
1 Doanh thu 2975 3030 3270
2 Lợi nhuận trước thuế 86 95,5 107
3 Lợi nhuận sau thuế 64,5 71 80
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
Bảng 1.2: Tốc độ tăng trưởng
Đơn vị: %
STT Chỉ tiêu 2008/2007 2009/2008 2010/2009
1 Doanh thu 5% 1,8% 8%
2 Lợi nhuận trước thuế 16,21% 11,04% 12,04%
3 Lợi nhuận sau thuế 9,32% 10,07% 12,67%
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
Hình 1.1 thể hiện rõ mức độ tăng doanh thu qua các năm. Năm 2009 so với
2008, tốc độ tăng trưởng của doanh thu còn thấp là do ảnh hưởng của tình hình chung,
nhưng sau khi công ty đã có những chiến lược thích hợp thì năm 2010 có nhiều biến
đổi. Năm 2010 doanh thu tăng 240 tỷ đồng tương đương 8% là một bức phá trong thời
kỳ khủng hoảng.
Hình 1.1: Doanh thu của
Công ty VISSAN qua các
năm (tỷ đồng)
Hình 1.3: Lợi nhuận sau thuế của Công ty VISSAN qua các năm (tỷ đồng)
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
Vận dụng chủ trương kích cầu tiêu dùng của Nhà nước, nhanh nhạy nắm bắt
nhu cầu thị trường cùng thị hiếu người tiêu dùng, Ban Tổng Giám đốc công ty Vissan
đã có được những quyết định kịp thời và sáng suốt. Doanh thu của công ty không
những tăng cao qua các năm, ổn định thu nhập cho 3.000 lao động, mà quan trọng hơn
cả là góp phần nâng cao thêm uy tín thương hiệu Vissan.
1.5. HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH THỰC PHẨM
Thị trường thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay diễn biến phức tạp.
Nhu cầu về lương thực hàng ngày của người dân là vấn đề tất yếu, nhưng giá cả lại
biến động từng ngày. Lấy cớ đầu vào (như chi phí vận chuyển, giá thức ăn chăn nuôi,
phân bón…) tăng, các nhà cung cấp đã điều chỉnh giá tăng. Giá thịt heo được xem là
86
95.5
107
0
20
40
60
80
100
120
2008 2009 2010
Lợi nhuận trước thuế
Mặc dù tình hình hiện tại khó khăn nhưng theo dự báo của Tổ chức Giám sát
Kinh doanh Quốc tế (BMI) thì có vẻ khả quan hơn. Tổng mức tiêu dùng thực phẩm ở
các thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2009-2014 sẽ tăng 67,3%, riêng trong năm
2014, mức tiêu dùng này ước tính đạt 426.997 tỷ đồng. Mức tiêu thụ bình quân theo
đầu người ước đạt 56,4% (tương đương 4.537.628 đồng) vào năm 2014. Riêng thực
phẩm đóng hộp, BMI dự báo ngành công nghiệp thực phẩm đóng hộp của Việt Nam
sẽ tăng 24,2% về lượng và 48,7% về giá trị doanh số bán hàng. Nguyên nhân chủ yếu
là do cuộc sống bận rộn cùng với lối sống hiện đại ở các thành phố lớn dẫn đến nhu
cầu về các loại thực phẩm chế biến sẵn ngày càng gia tăng.
13 CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
THƯƠNG HIỆU VISSAN
2.1. THỊ TRƯỜNG VÀ THỊ PHẦN TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT VÀ
KINH DOANH
2.1.1. Thị trường thực phẩm của Vissan
Thị trường của Vissan hiện nay chủ yếu là thị trường trong nước, doanh thu
hàng nội địa chiếm 99% tổng doanh thu bán hàng của công ty. Với 60 của hàng, 1000
đại lý Vissan chiếm lĩnh thị trường Thành phố Hồ Chí Minh với các sản phẩm thịt
heo, trâu bò tươi sống và đông lạnh, các sản phẩm chế biến từ thịt như thịt nguội cao
cấp theo công nghệ của EU, xúc xích tiệt trùng theo công nghệ của Nhật, thực phẩm
34%
36%
38%
32
33
34
35
36
37
38
39
2008 2009 2010
Vissan
34%
19%
7%
12%
16%
12%
0
10
20
30
40
Vissan Hạ Long Truyền
Ký
Saigon
Food
Cầu Tre Khác
2008
Hình 2.2 Thị phần của Vissan
năm 2008 (%)
Nguồn: Phòng Thị Trường –
Công ty Vissan 15 36%
20%
7%
13%
15%
9%
0
10
20
30
40
Vissan Hạ Long Truyền
Ký
Saigon
Food
Hình 2.4 Thị phần của Vissan năm 2010 (%)
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
2.1.3. Thị phần của Vissan trong các mặt hàng
2.1.3.1. Đối với mặt hàng tươi sống
Chủ yếu là sự cạnh tranh giữa Vissan và các nhóm tư thương. Tư thương có hệ
thống bán lẻ rộng khắp, có nhiều lợi thế về thu mua và giá cả nên thị phần tương đối
lớn.
Bảng 2.2 Thị phần của Vissan đối với mặt hàng tươi sống
Đơn vị: %
Hàng tươi sống
%
Vissan 25
Tư thương 72
Hàng nhập 3
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
người tiêu dùng trong nước, và có một lượng khách hàng trung thành. Đặc biệt sản
phẩm của Cầu Tre được người tiêu dùng đánh giá là có uy tín, khẩu vị phù hợp với
người Việt Nam. Ngoài ra còn có các thương hiệu khác: Sài Gòn Food, Hạ Long,
Agrex.
Bảng 2.3 Thị phần của Vissan đối với mặt hàng chế biến truyền thống
Đơn vị: %
Hàng chế biến truyền thống
%
Vissan 22
Cầu tre 29
Sài Gòn Food 13
Hạ Long 10
Khác 26
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
Hình 2.6 Thị phần của
Vissan đối với mặt hàng chế
biến truyền thống (%)
Nguồn: Phòng Thị Trường –
Công ty Vissan
Vissan
25%
Tư thương
72%
Hàng
nhập
%
Vissan 50
Hạ Long 26
Truyền Ký 12
Hảng ngoại 5
Khác 7
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
Hình 2.7 Thị phần của Vissan đối với mặt hàng đồ hộp (%)
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
2.1.3.4. Đối với mặt hàng thịt nguội
Mặc dù Vissan đang dẫn đầu nhưng các nhãn hiệu khác đang từng bước chiếm
lĩnh thị trường như Legourmet, Superchef, Trường Vinh, Việt Hương. Ngoài ra đối
với sản phẩm ngoại nhập thì có sản phẩm Legourmet của Pháp với thông điệp: “Là
người sành ăn” đang gây áp lực cạnh tranh gay gắt với thị phần của Vissan.
Hình 2.8 Thị phần của Vissan đối với mặt hàng thịt nguội (%)
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
2.1.3.5. Đối với mặt hàng đông lạnh
Có nhiều đơn vị tham gia vào thị trường này. Trong đó Cầu Tre cũng là đối thủ
chính của Vissan. Ngoài ra còn có các đối thủ khác như Agrex, Seapimex, Cholimex,
Sao Việt.
Bảng 2.6 Thị phần của Vissan đối với mặt hàng đông lạnh
Đơn vị: %
Mặt hàng đông lạnh %
Vissan 36.1
Cầu Tre 28.6
Agrex 6.3
Seaspimex 2
Cholimex 6
Sao Việt 7.1
Khác 13.9
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
19Vissan
36.1%
Mặt hàng xúc xích %
Vissan 73
Hạ Long 9
Seaspimex 15
Khác 3
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
Hình 2.10 Thị phần của Vissan đối với mặt hàng xúc xích (%)
Nguồn: Phòng Thị Trường – Công ty Vissan
2.2. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU VISSAN
2.2.1. Các hoạt động xây dựng thương hiệu
Vissan
73%
Hạ Long
9%
Seaspimex
15%
Khác
3%
20 2.2.1.1. Tên thương hiệu
Công ty hiện nay đang áp dụng chiến lược tên chung. Tất cả các sản phẩm của
công ty bán ra trên thị trường trong và ngoài nước với tên chung mang nhãn hiệu
Vissan. Tên Vissan là chữ viết tắt từ tên gọi của công ty Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản.
người tiêu dùng là mọi người từ già đến trẻ đều thích sản phẩm của Vissan, công ty
21 luôn đặt trọng trách là bạn của tất cả mọi người, có thể đáp ứng tuyệt đối mọi nhu cầu,
mang đến sự yêu thích cho mọi đối tượng khách hàng. Trong sản xuất kinh doanh,
Vissan luôn xác định phương châm “khách hàng là Thượng đế” để phục vụ tốt nhất,
làm hài lòng mọi khách hàng khó tính nhất.
Tuy nhiên việc dùng nhiều slogan như vậy là do Vissan chưa thực sự tìm được
cho mình một slogan đúng nghĩa Vissan. Slogan hiện tại: “Cả nhà đều thích” được ra
đời vào Tết năm 2008 tồn tại đến ngày nay. Slogan này nói lên được tiêu chí phục vụ
khách hàng của Vissan, nhưng xét về tính cá biệt thì chưa cao chưa thực sự xứng đáng
với thương hiệu Vissan ngày nay.
2.2.2. Định vị thương hiệu
2.2.2.1. Phân khúc và lựa chọn khách hàng mục tiêu
Đối tượng khách hàng của Vissan được thể hiện qua slogan: “Cả nhà đều
thích”. Cả nhà từ già đến trẻ đều là khách hàng của Vissan. Với giá cả của Vissan hiện
nay ngoại trừ các sản phẩm đã bình ổn giá thì ta có thể thấy rõ đối tượng chính là các
gia đình có thu nhập trung bình khá trở lên. Chính vì sự xác định đối tượng khách
hàng rộng lớn thế này đã làm cho Vissan gặp không ít khó khăn. Thay vì chỉ bán vài
chục loại sản phẩm thì Vissan phải bán đến vài trăm mặt hàng khác nhau và ngày càng
đa dạng hóa sản phẩm của Vissan nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhóm khách hàng nói
trên.
Lúc trước Vissan chỉ có xúc xích heo với các trọng lượng khác nhau thì nay đã
có xúc xích bò Vissan, xúc xích Chipo Vissan, xúc xích dinh dưỡng, tôm các loại,
những dạng xúc xích lạnh như xúc xích phô mai, xúc xích Cocktail,…
được xuất hiện trên các báo đài mà không tốn chi phí quảng bá hình ảnh của mình.
2.2.2.3. Các chiến dịch quảng cáo
Các phương tiện quảng cáo của Vissan:
Quảng cáo của Vissan chủ yếu là trên các báo, tạp chí như: Báo Sài Gòn
Giải Phóng, Sài Gòn Tiếp Thị, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Phụ Nữ, Báo
Lao Động, Tạp Chí Món Ngon Việt Nam,…
Trên truyền hình thường là các phóng sự trên các kênh HTV7, VTV3
với tần số xuất hiện nhiều, gây ấn tượng mạnh cho khán giả.
Quảng cáo ngoài trời: Pannel, áp phích, banroll,… tại các điểm bán
hàng. Ngoài ra còn có hệ thống xe tải chở hàng có hình logo ba bông
mai vàng đã gây được ấn tượng cho người dân.
Trang website của Vissan cũng là một kênh đưa thông tin hiệu quả.
Chiến dịch quảng cáo của Vissan không nhiều chủ yếu người dân biết đến các
sản phẩm của Vissan là từ các cửa hàng giới thiệu sản phẩm và hệ thống đại lý hay từ
các bài viết được đăng báo giấy và báo điện tử.
2.2.2.4. Các hoạt động khẳng định tên tuổi
Vissan hầu như không từ bỏ một hội chợ nào của Hàng Việt Nam Chất Lượng
Cao và các hội chợ uy tín khác. Ngoài việc tham gia hội chợ, Vissan còn hưởng ứng
tích cực cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” cùng với
nhiều chương trình khác Vissan từng bước xây dựng thương hiệu, khẳng định tên tuổi
của Vissan.
Chương trình bán hàng về nông thôn cũng là một trong những chương trình
trọng điểm của Công ty Vissan để phát triển thương hiệu Vissan tại thị trường vùng
sâu, vùng xa và đây cũng là một bước tiến mới để đưa sản phẩm đến gần người tiêu
dùng nông thôn, đến các địa bàn xa xôi không có siêu thị hoặc bà con nông thôn
23
Chú trọng tối đa hoá chất lượng, bảo đảm an toàn cho người sử dụng là yêu cầu
bắt buộc, là nền tảng cho sự phát triển bền vững của công ty, để thương hiệu Vissan
tiếp tục tiến xa, tiến vững chắc hơn nữa trên thị trường.
Không ngừng tạo ra sản phẩm mới nhằm nhanh chống đáp ứng nhu cầu đa
dạng của người tiêu dùng. Gần đây Vissan đã tung ra thị trường dòng thực phẩm chế
biến làm từ thịt gà. 24 2.3. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU
2.3.1. Quá trình phát triển thương hiệu
Từ đầu thập niên 80 đến thập niên 90 của thế kỷ trước, Vissan gặp nhiều khó
khăn và biến động. Ban lãnh đạo công ty đã xác định lại phương hướng hoạt động, tập
trung phát triển thị trường nội địa, cung cấp sản phẩm tươi sống và bắt đầu chuyển
sang chế biến một số sản phẩm từ thịt. Trong giai đoạn này, tuy sản lượng tiêu thụ còn
thấp nhưng đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới và đầy hứa hẹn.
Từ cuối thập niên 90, công ty đã khôi phục và mở rộng sản xuất ngành chế biến
thực phẩm, nhập khẩu trang thiết bị hiện đại. Các mặt hàng chế biến mới như thịt
nguội, xúc xích tiệt trùng, giò lụa, chả giò… ngày một xuất hiện nhiều hơn. Khi thấy
số lượng chủng loại bắt đầu tăng nhanh, công ty vừa phát triển sản xuất, vừa mở rộng
mạng lưới phân phối cũng như xây dựng chính sách kinh doanh. Nhờ vậy mà chỉ
trong một thời gian ngắn, Vissan đã chiếm lĩnh được thị trường nội địa.
Do biết đa dạng hóa ngành hàng kinh doanh như: thịt tươi sống, thực phẩm chế
biến và rau, củ, quả nên Vissan đã nhanh chóng xây dựng được thương hiệu và kênh
phân phối rộng khắp cả nước. Theo năm tháng, quy mô và phạm vi hoạt động của
được hình ảnh một công ty kinh doanh hiệu quả, một thương hiệu mạnh.
Một lợi thế gần đây là Vissan trở thành trung tâm của chương trình bình ổn giá.
Bình ổn giá là vấn đề nóng bổng trong giai đoạn giá cả leo thang, Vissan tích cực
tham gia chương trình này ngoài việc kìm giá để bán hàng còn là chiến lược làm
thương hiệu trong thời khủng hoảng.
2.3.2.2. Các hoạt động quảng cáo
Quảng cáo của Vissan phần nhiều là trên các báo với nội dung là giới thiệu sản
phẩm mới, chương trình khuyến mãi.Vissan đăng báo nhằm mục đích thông tin về sản
phẩm, giá cả.
Vissan đã tổ chức nhiều cuộc đi bộ tập thể nhằm khuyến khích người dân thành
phố tích cực luyện tập thể dục chú ý gìn giữ sức khỏe. Những người tham gia cuộc
diễu hành được mặc áo thun của Vissan có in logo và tên thương hiệu Vissan. Hoạt
động này cũng gây được sự chú ý của người dân thành phố, nhưng diễn ra không
thường xuyên và ở một khu vực nhất định nên hiệu quả truyền thông không cao.
2.4. KHẢO SÁT KHÁCH HÀNG
Đối tượng được khảo sát là các khách hàng của công ty Vissan, địa điểm tại các
cửa hàng của Vissan ở Thành phố Hồ Chí Minh. Với số mẫu thu được là 133.
Thuộc các nhóm tuổi
Số khách hàng của Vissan được hỏi nhiều nhất là ở độ tuổi 25 – 31 tuổi chiếm
53.4%, đây là nhóm tuổi của những người đã đi làm, bận rộn với công việc, ít có thời
gian cho việc nấu nướng nên với họ Vissan là sự lựa chọn số một.
Bảng 2.8 Nhóm tuổi của đối tượng
Nguồn: Khảo sát thực tế
39-45 14 10.5%
>45 0 0%
Tổng 133 100%