Luận văn
Thực trạng huy động và sử
dụng các nguồn lực tài chính
tài trợ cho đầu tư phát triển
KTXH trên địa bàn tỉnh BR-
VT từ năm 2001 đến nay Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Vốn theo nghóa rộng được hiểu là toàn bộ những yếu tố đầu vào của
sản xuất xã hội (con người, của cải, tài nguyên, …). Theo nghóa hẹp là
khoản tiền, của cải tích luỹ của xã hội được sử dụng trong quá trình tái sản
xuất xã hội, duy trì tiềm lực và tạo ra tiềm lực mới cho sản xuất xã hội.
Như vậy, theo nghóa rộng hay nghóa hẹp vốn luôn đóng vai trò quyết đònh
đối với sự phát triển của nền KTXH, là cơ sở quan trọng để đầu tư hình
thành lên cơ sở hạ tầng, tài sản, máy móc thiết bò, công nghệ … Cũng như
cả nước, nguồn VĐT phát triển trên đòa bàn tỉnh BR-VT luôn trong tình
trạng thiếu hụt, hiệu quả sử dụng vẫn còn hạn chế. Với mục tiêu phát triển
nhanh, hiệu quả, bền vững, phù hợp với những lợi thế và tiềm năng của
tỉnh, trong những năm tới đòi hỏi tỉnh cần phải huy động và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn lớn với chất lượng cao. Việc tìm giải pháp không chỉ
quan trọng đối với những nhà lãnh đạo, nhà hoạch đònh chính sách, mà còn
quan trọng đối với những cá nhân quan tâm nghiên cứu. Trong đó, tác giả
cũng sẽ cố gắng tìm câu trả lời trong luận văn này.
2- Mục đích, ý nghóa và đối tượng nghiên cứu
Chương II : Thực trạng huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính
tài trợ cho đầu tư phát triển KTXH trên đòa bàn tỉnh BR-VT từ năm 2001
đến nay.
Chương III : Huy động và sử dụng nguồn lực tài chính tài trợ cho
đầu tư phát triển KTXH trên đòa bàn tỉnh BR-VT giai đoạn 2006-2015 và
2020 theo hướng bền vững.
Do khả năng, tài liệu và thời gian còn hạn chế nên luận văn không
tránh khỏi sai sót. Nhiều vấn đề đặt ra trong luận văn nhưng chưa được
nghiên cứu và giải quyết thật thấu đáo. Kính mong các Thầy, Cô, các đồng
nghiệp và các bạn quan tâm cho những ý kiến để luận văn được hoàn
thành và mang ý nghóa thiết thực hơn.
Trang 3
Chương I :
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH - VAI TRÒ CỦA VỐN
ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
1.1- NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH - PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG -
VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1- Tổng quan về nguồn lực tài chính
1.1.1.1- Lý luận chung về tài chính :
Tài chính ra đời cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá, việc trao đổi, mua bán được diễn ra một cách
dễ dàng thông qua tiền tệ làm vật trung gian trao đổi. Tiền tệ đóng vai trò
đặc biệt quan trọng kích thích sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ
Tài chính quốc tế … Tất cả các lónh vực đó hình thành nên nguồn lực tài
chính tài trợ cho đầu tư của Nhà nước, DN, dân cư và các chủ thể kinh tế
quốc tế.
1.1.1.2- Các nguồn lực tài chính tài trợ cho đầu tư phát triển :
1.1.1.2.1- Ngân sách Nhà nước :
NSNN là khâu tài chính tập trung lớn nhất trong hệ thống tài chính.
NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán
được Quốc hội quyết đònh và thực hiện trong một năm, để đảm bảo việc
thực hiện các chức năng của Nhà nước. NSNN bao gồm ngân sách Trung
ương và ngân sách đòa phương. NSNN được hình thành từ việc huy động
các khoản thu của Nhà nước từ thuế, phí, lệ phí, các khoản viện trợ, vay
nợ, các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân và các khoản thu khác.
Đồng thời NSNN được sử dụng để chi tiêu cho hoạt động của bộ máy Nhà
nước, chi cho an ninh quốc phòng, y tế, văn hoá, giáo dục, chi trả nợ, các
khoản khác theo quy đònh và quan trọng hơn đó là chi cho đầu tư phát
triển. Nguồn NSNN hình thành lên quỹ dự trữ quốc gia, điều tiết kinh tế vó
mô của Nhà nước.
1.1.1.2.2- Vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài :
Vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài được Chính phủ, các DN
thực hiện dưới các hình thức như : Vay tín dụng thương mại; phát hành
giấy nợ (trái phiếu) trên thò trường vốn. Đây là nguồn vốn bổ sung quan
trọng nhằm thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu của Chính phủ, đặc biệt là chi
Trang 5
đầu tư phát triển. Với DN, nguồn vốn này quan trọng hơn rất nhiều, vì nhu
cầu đầu tư phát triển SXKD rất lớn và vốn tự có không đủ để đáp ứng.
Nhất là hiện nay, cạnh tranh ngày càng gay gắt và có tính toàn cầu, các
DN bắt buộc phải đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản
phẩm, dòch vụ … mới có thể đứng vững trong cạnh tranh.
có thể huy động vốn trên thò trường này bằng cách phát hành các loại trái
phiếu, công trái.
1.1.2.5- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) :
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư bản nước ngoài trực tiếp
đầu tư cho SXKD ở nước nhận vốn. Đây là nguồn vốn lớn, có ý nghóa quan
trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối với những nước đang phát triển,
ở những nước này nhu cầu đầu tư cao, nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế lại hạn hẹp. Ngày nay, FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong điều
kiện hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa. Không một quốc gia nào lại không
cần đến nguồn vốn đầu tư này và tất cả đều coi đó là nguồn vốn quan
trọng cần khai thác để từng bước hoà nhập vào cộng đồng quốc tế. Ngay
cả những quốc gia có tiềm lực kinh tế như Mỹ, Nhật bản, dưới tác động
của KHCN hiện đại ngày nay cũng không tự mình giải quyết được những
vấn đề KTXH đã, đang và tiếp tục đặt ra. Chỉ có hợp tác, trong đó FDI là
loại hình đầu tư, hợp tác có hiệu quả.
1
1.1.1.2.6- Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) :
Nguồn vốn ODA là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của
một nước , một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này. ODA
được thực hiện trên cơ sở song phương hoặc đa phương với các nội dung :
Viện trợ không hoàn lại; Viện trợ hỗn hợp; Viện trợ có hoàn lại, thực chất
là vay tín dụng ưu đãi.
ODA là nguồn vốn cực kỳ quan trọng cho công cuộc phát triển kinh
tế của các nước đang phát triển. Thông qua dự án ODA, cơ sở hạ tầng kinh
tế của nước tiếp nhận được nâng lên một bứơc. Nếu sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn ODA sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1.1.2- Phát triển bền vững
Ngày nay, trong đầu tư phát triển người ta không chỉ quan tâm đến
vấn đề tăng trưởng kinh tế cao mà quan trọng hơn là đầu tư để phát triển
1.1.3- Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế – xã hội.
1.1.3.1- Vốn đầu tư :
Vốn đầu tư gồm : Tư bản, thể hiện dưới các hình thức như tiền, các
loại tài sản, nguyên vật liệu…; Tài nguyên thiên nhiên; Vốn con người.
Những yếu tố trên tác động với nhau tạo thành quá trình kinh tế vận động
không ngừng, nối tiếp nhau làm cho của cải ngày tăng lên và do đó tạo
dựng thêm vốn mới. Vốn mới lại tạo ra những yếu tố vật chất mới, công
nghệ mới, sức lao động và trí tuệ mới … của cải tạo ra ngày càng nhiều
hơn, vốn mới được tạo ra nhiều hơn. Theo nghóa rộng, vốn được hiểu là
Trang 8
những yếu tố đầu vào của sản xuất như : Tiền, lao động, tài nguyên, công
nghệ, vật tư hàng hoá … Theo nghóa hẹp, vốn là tiền tích luỹ của xã hội,
của các DN, của dân cư và huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử
dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, khoản tích luỹ này
phải sử dụng cho mục đích đầu tư sinh lợi thì mới được gọi là vốn. Tiền
đem tiêu dùng hoặc đưa vào cất trữ thì không gọi là vốn.
1.1.3.2- Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế – xã hội
:
Cơ sở hạ tầng tốt, thiết bò mới hiện đại cùng với nguồn nhân lực có
trình độ phù hợp là hai nhân tố có tác động mạnh mẽ, có tính quyết đònh
đến năng suất, chất lượng và hiệu quả SXKD. Vốn đầu tư tham gia vào
các hoạt động đầu tư đóng vai trò quan trọng hình thành lên cơ sở hạ tầng,
hình thành lên các tài sản, máy móc thiết bò, công nghệ, tác động đến chất
lượng nguồn nhân lực. Như vậy VĐT có vai trò quyết đònh đối với sự phát
triển nền KTXH, nó không chỉ tác động làm tăng năng suất, sản lượng mà
còn có tác động mạnh đến chất lượng nguồn lao động, yếu tố có vai trò
quyết đònh nhất trong nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững.
Về vai trò của VĐT, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod và Evsay
Domar cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa VĐT và tăng
tiết kiệm từ các chủ thể trong nền kinh tế. Trong hội nhập kinh tế quốc tế,
một nền kinh tế mở, ngoài những nguồn vốn huy động trong nước thì
nguồn vốn từ nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng, đặc biệt đối với các
nước đang phát triển.
1.2.1- Các kênh trong nước :
Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia.
Nguồn vốn này có tính ổn đònh, bền vững, giảm thiểu được những rủi ro và
hậu quả xấu do những tác động từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nước chủ
yếu được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế trong nước, nghóa
là từ Chính phủ, các doanh nghiệp và hộ dân cư.
1.2.1.1- Tiết kiệm từ NSNN :
Tiết kiệm từ NSNN, là số chênh lệch dương giữa các khoản thu ngân
sách trừ đi phần chi tiêu thường xuyên của Chính phủ, phần tiết kiệm này
hình thành nên nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Nguồn tiết kiệm NSNN
hình thành trên cơ sở tăng thuế hoặc cắt giảm chi tiêu thường xuyên của
Chính phủ, nó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của nền kinh tế và thu nhập
bình quân đầu người. Tăng thuế, có thể làm cho tiết kiệm ngân sách tăng
trong điều kiện chi tiêu không thay đổi, nhưng lại tạo thêm gắng nặng cho
Trang 10
các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư và có thể sẽ có những tác động
ngược như : không khuyến khích hoạt động đầu tư SXKD, hiệu quả SXKD
sụt giảm, hay tạo ra phản ứng tìm cách gian lận thuế … và như vậy nguồn
thu NSNN lại giảm xuống. Giảm chi tiêu thường xuyên cuả Chính phủ
cũng làm tăng tiết kiệm NSNN, tuy nhiên lại tác động làm tổng cầu xã hội
giảm và điều đó làm nhu cầu đầu tư, nhất là khu vực tư nhân giảm sút. Do
đó, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi Nhà nước
phải gia tăng tiết kiệm NSNN, trên cơ sở chính sách thuế hợp lý để tăng
nguồn thu và có chính sách tiết kiệm chi tiêu một cách hợp lý. Nguồn tiết
1.2.1.4- Các đònh chế tài chính :
Các đònh chế trung gian tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc tích tụ và chuyển các quỹ tiền tệ tiết kiệm trong nền kinh tế đến các
nhà đầu tư. Trình độ phát triển của các đònh chế trung gian tài chính cũng
như tính đa dạng, hiệu quả của những sản phẩm mà các tổ chức này cung
cấp cho nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của nền
KTXH. Sự linh hoạt và hiệu quả của các đònh chế tài chính có thể tạo ra
nguồn vốn đủ lớn để tài trợ nhanh chóng cho những dự án lớn có hiệu quả
KTXH cao, đồng thời dòng vốn cũng được lưu chuyển một cách linh hoạt
trong nền kinh tế. Do đó, có tác động tích cực đối với sự phát triển KTXH.
Ngược lại, sự kém hiệu quả, thiếu linh hoạt của các đònh chế tài chính kéo
theo khó khăn cho hoạt động đầu tư vì những nguồn tiết kiệm từ những
người không có cơ hội đầu tư không đến được những người có nhu cầu đầu
tư, gây khó khăn cho phát triển KTXH.
1.2.1.5- Thò trường tài chính trong nước :
Đây là kênh huy động và tài trợ vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển. Sự phát triển của thò trường tài chính sẽ có tác động mạnh đến việc
thu hút, huy động các nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư
phát triển KTXH; khuyến khích tiết kiệm và đầu tư; thúc đẩy, nâng cao
hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính; và góp phần tạo môi trường thực
hiện các chính sách tài chính – tiền tệ của Chính phủ. Chính vì vậy, khai
thông thò trường tài chính, đặc biệt là TTCK sẽ tạo ra kênh huy động và tài
trợ vốn linh hoạt, hiệu quả cho đầu tư, từ đó có tác động tích cực đến sự
phát triển nền kinh tế.
1.2.2- Các kênh nước ngoài :
Nguồn vốn nước ngoài luôn là nguồn vốn quan trọng đối với sự phát
triển KTXH của một nước. Với các nước đang phát triển, nhu cầu VĐT
Trang 12
bình thường trong một số ngành của nền kinh tế, đưa đến sự mất công
bằng trong phân phối thu nhập, độc quyền sản xuất, thất nghiệp và thiểu
Trang 13
dụng việc làm theo cấu trúc, dẫn đến sự mất cân đối, kém linh hoạt … cản
trở phát triển cân đối, hài hoà nền kinh tế. (ii) FDI cũng có thể sử dụng
công nghệ lạc hậu, lỗi thời, sản xuất sản phẩm không phù hợp, gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ, đến chất lượng cuộc sống con
người, cản trở mục tiêu phát triển hài hoà, bền vững, nhân văn. (iii) FDI
thường phân bố tập trung ở các đô thò lớn, nơi tập trung những tiện ích
cuộc sống, gần bến cảng, cơ sở hạ tầng tốt, gần nguồn lao động, gần nơi
tiêu thụ, làm tăng sự cách biệt giữa nông thôn và thành thò, gia tăng
khoảng cách giàu nghèo, tạo làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thò, tạo
ra mất cân đối phát triển vùng. (iv) FDI có thể làm cán cân ngoại hối bò
thâm hụt. (v) Hoạt động chuyển giá cũng là một thách thức đối với nước
nhận FDI.
Trong những năm gần đây, với sự xuất hiện ngày càng rõ nét nền
kinh tế tri thức, với vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn vốn con người
trong hoạt động sáng tạo và công nghệ. Sự khác biệt trong tăng trưởng của
các quốc gia không chỉ giải thích ở luận điểm “sự khác biệt về hiệu quả
đầu tư” mà được giải thích nhiều ở luận điểm sự khác biệt về “tri thức” và
“nguồn vốn con người”. FDI còn được hiểu là sự chuyển giao tri thức, và
tích tụ nguồn vốn con người. Do đó, những tác động tích cực hay tiêu cực
đến sự phát triển kinh tế xã hội của FDI còn tuỳ thuộc vào nguồn vốn con
người với tri thức của họ, nếu con người thấp, thì rất có thể FDI lại có tác
động ngược đối với phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, việc thu hút các dòng vốn đầu tư FDI cần đặc biệt quan
tâm thu hút những dòng vốn có chất lượng, nhằm phát huy những mặt tích
cực, đồng thời giảm tối đa những tác động cản trở đối với phát triển
hưởng lãi suất thấp hơn và ngược lại.
1.2.2.4- Nguồn vốn ODA :
Đây là dòng vốn viện trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc
tế, của Chính phủ hoặc phi chính phủ cho các nước đang phát triển, nhằm
thúc đẩy sự phát triển của các nước này, nâng cao phúc lợi xã hội … Dòng
vốn này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, vì
ở các nước này cơ sở hạ tầng thường yếu kém, nhu cầu đầu tư cao nhưng
lại rất thiếu vốn, đặc biệt là vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
1.2.3- Mối quan hệ giữa các dòng vốn :
Một nền kinh tế muốn có sự phát triển với tốc độ cao, theo xu hướng
ổn đònh, bền vững cần phải có một cơ cấu huy động và sử dụng các nguồn
Trang 15
vốn đầu tư phù hợp. Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước thì khó có thể
đạt được tốc độ phát triển cao, bền vững trong điều kiện tiết kiệm trong
nước không đủ để để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. Ngược lại,
chỉ dựa vào nguồn vốn từ bên ngoài thì cũng khó chủ động thực hiện được
những mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Sự kết hợp hài hoà, bổ
sung lẫn nhau giữa các nguồn vốn trong nước và nước ngoài sẽ đảm bảo
cung cấp đủ vốn cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế.
1.3- NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC DÒNG VỐN ĐẦU TƯ
Nền kinh tế là một hệ thống nhất, trong đó các biến kinh tế vó mô
như : Lãi suất thò trường, thu nhập quốc dân, chính sách tài chính - tiền tệ,
tài khoá, xuất nhập khẩu … có mối quan hệ, tác động lẫn nhau. Những biến
số này có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các dòng VĐT, đến cầu
cũng như nguồn cung VĐT của các chủ thể kinh tế, ảnh hưởng của các
nhân tố này được thể hiện như sau :
1.3.1- Lãi suất :
Lãi suất là một trong những biến số kinh tế vó mô quan trọng nhất
giảm xuống. Mặt khác, thuế tăng, đặc biệt là thuế thu nhập DN sẽ làm
cho khả năng tiết kiệm, tích luỹ vốn của DN giảm, hiệu quả đầu tư giảm
và làm nản lòng các nhà đầu tư, làm cho cả cung và cầu đầu tư giảm.
Ngược lại, thuế suất thấp hơn cũng có thể có tác động làm tăng tiết kiệm,
khuyến khích đầu tư, kích thích nền kinh tế phát triển. Đối với Chính phủ,
thuế suất cao có thể đảm bảo nguồn thu, đáp ứng tốt nhu cầu chi tiêu của
Chính phủ, nhưng nếu thuế quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và
đầu tư, không khuyến khích nền kinh tế phát triển. Ngược lại, giảm thuế
thì nguồn thu ngân sách có thể sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của
Chính phủ. Như vậy, chính sách thuế phải phù hợp, một mặt đảm bảo
nguồn thu cho nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, mặt khác phải đảm bảo
khuyến khích tiết kiệm và đầu tư trong các khu vực còn lại của nền kinh
tế.
1.3.3- Sự phát triển của các đònh chế tài chính:
Sự phát triển của các đònh chế tài chính với những sản phẩm dòch vụ
đa dạng, linh hoạt tạo điều kiện thuận lợi cho những người tiết kiệm có thể
dễ dàng tiếp cận và sử dụng những sản phẩm này thì sẽ góp phần gia tăng
tiết kiệm. Đồng thời, cũng tập trung được nguồn lực tài chính to lớn sẵn
sàng tài trợ cho những dự án đầu tư và do đó có tác động làm tăng cả
Trang 17
nguồn cung và cầu về đầu tư. Ngược lại, sẽ rất khó huy động vốn từ nguồn
tiết kiệm của người dân, làm cho nguồn vốn giảm xuống, hơn nữa nhà đầu
tư cũng khó tiếp cận được các khoản vay. Như vậy, các đònh chế tài chính
kém phát triển một mặt không kích thích tiết kiệm, mặt khác làm giảm
khả năng tiếp cận vốn của những người có nhu cầu đầu tư. Do đó, cả
nguồn cung và cầu VĐT đều giảm, có tác động tiêu cực đối với sự phát
triển của nền kinh tế. Như vậy, để khuyến khích tiết kiệm, tăng nguồn
VĐT cũng như khả năng tiếp cận nguồn VĐT, đòi hỏi hệ thống đònh chế
Về môi trường chính trò xã hội : Sự ổn đònh chính trò – xã hội sẽ tạo
ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Một nhà
nước mạnh thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển KTXH, đáp ứng nhu
cầu của người dân sẽ mang lại niềm tin và sức hấp dẫn đối với các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Thể chế ổn đònh, hệ thống pháp luật ổn đinh
và hiệu lực, các vấn đề xã hội được giải quyết theo hướng nhân văn như
xoá đói, giảm nghèo, giải quyết tệ nạn xã hội, đạo đức kinh doanh, y tế
chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, giáo dục, văn hoá, đảm bảo an toàn đầu tư,
quyền sở hữu tài sản … Tất cả những yếu tố đó sẽ tạo thêm động lực để
các nhà đầu tư yên tâm thực hiện dự án đầu tư lớn.
Ổn đònh kinh tế vó mô, tạo môi trường ổn đònh : Chính phủ các nước
đều sử dụng chính sách kinh tế, tiền tệ, tài khoá của mình nhằm duy trì sự
ổn đònh kinh tế vó mô. Sự ổn đònh tiền tệ, tỷ giá, kiềm chế lạm phát … là
những yếu tố làm giảm tính bất ổn, rủi ro trong hoạt động đầu tư và có tác
động tích cực làm tăng cả nguồn cung và cầu đầu tư của nền kinh tế. Ổn
đònh kinh tế vó mô là điều kiện tiên quyết để các nhà đầu tư có thể tính
toán và đưa ra các quyết đònh đầu tư, đồng thời, giúp tránh những cuộc
khủng hoảng, do đó tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư vào tương lai và tạo
cơ hội thu hút được nhiều VĐT hơn.
Cơ sở hạ tầng : Là tổng thể các cơ sở vật chất kỹ thuật, các công
trình, các phương tiện tồn tại trên một lãnh thổ nhất đònh, được dùng làm
điều kiện sản xuất và sinh hoạt nói chung, đảm bảo sự vận hành liên tục,
thông suốt các luồng của cải vật chất, thông tin và dòch vụ nhằm đáp ứng
nhu cầu có tính phổ biến của sản xuất và đời sống. Cơ sở hạ tầng kém sẽ
tạo ra những rào cản gây khó khăn trong việc thu hút những dòng VĐT,
nhất là những dự án có hàm lượng công nghệ cao từ nước ngoài. Ngược lại,
sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ là điều kiện thuận lợi thu hút
các nguồn VĐT trong và ngoài nước.
Trang 19
trong dân cư, thành lập các quỹ hỗ trợ để tài trợ vốn ưu đãi cho những lónh
vực cần ưu tiên phát triển, chính sách tiền lương thấp trong khi năng suất
lao động tăng mạnh. Chính nhờ các biện pháp trên đã giúp Nhật Bản tích
Trang 20
luỹ được nguồn vốn lớn góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và cất
cánh.
Tích luỹ trong nước được cải thiện còn nhờ vào tiết kiệm chi tiêu
của Chính phủ. Suốt hai thập kỷ 50 và 60, chi phí quân sự thấp, hạn chế
gắt gao phúc lợi xã hội và tinh giảm bộ máy hành chính, đã tạo điều kiện
cho Chính phủ Nhật tập trung đầu tư vào những lónh vực quan trọng. Chi
ngân sách đóng góp tới 20% tổng đầu tư vào các ngành công nghiệp và
chiếm 40% tổng đầu tư vào bốn ngành công nghiệp mũi nhọn, như : Công
nghiệp điện, đóng tàu, thép, khai thác than … Về đầu tư xây dựng cơ bản,
ngân sách nhà nước dành một tỷ lệ khá cao là 23% trong giai đoạn 1973-
1981 (ở các nước phát triển chỉ chiếm 6-9% tổng chi ngân sách). Trong
thời kỳ nền kinh tế Nhật rơi vào khủng hoảng, những năm đầu thập kỷ 80,
Chính phủ luôn luôn đảm bảo tốc độ tăng chi ngân sách không được vượt
quá tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiến hành cải cách tài chính, các biện
pháp cân đối ngân sách đều gắn liền với hạn chế nhu cầu chi tiêu của
NSNN.
Ngoài ra, Nhật còn giữ mức thuế thấp để kích thích đầu tư và tạo
điều kiện cho các công ty tăng thêm nguồn lực cho tích luỹ. Tỷ lệ thuế
trong GDP ở Nhật thấp hơn so với các nước tư bản khác, bình quân năm
(1967-1969) là 24,3% trong khi ở Anh là 34,1%, Ý 30,2%, Đức 33,6%,
Pháp là 36,2%.
1.4.2- Kinh nghiệm từ Trung Quốc :
Trung Quốc (TQ) là quốc gia láng giềng khá tương đồng với Việt
Nam, cũng với xuất phát là nền kinh tế kém phát triển chủ yếu dựa vào
Một là, nguồn lực tài chính trong nước luôn là yếu tố quyết đònh,
nhất là nguồn vốn từ khu vực tư nhân. Để kích thích tiết kiệm khu vực này,
Chính phủ phải tăng cường sử dụng mạnh mẽ các công cụ tín dụng Nhà
nước để thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư, thành lập các quỹ hỗ trợ để tài
trợ vốn ưu đãi cho những lónh vực cần ưu tiên phát triển.
Hai là, tiết kiệm trong chi tiêu NSNN, tập trung chi cho đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng, cho phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn phù hợp
với lợi thế quốc gia và những công nghệ hiện đại.
Ba là, chính sách thuế phải được cải cách nhằm khuyến khích sự
phát triển SXKD của các DN, tạo điều kiện cho các DN tăng tích luỹ nội
bộ.
Trang 22
Bốn là, hệ thống các đònh chế tài chính bao gồm đònh chế NH và phi
NH phải được xậy dựng và phát triển theo hướng hiện đại, mở rộng thò
trường, đa dạng hoá sản phẩm để huy động tối đa những nguồn tài chính
nhàn rỗi từ các chủ thể kinh tế cũng như từ mọi người dân.
Năm là, hoàn thiện và phát triển thò trường tài chính, tạo kênh huy
động nguồn vốn lớn nhanh chóng, hiệu quả, phù hợp với tiến trình hội
nhập nền kinh tế thế giới.
1.4.3.2- Nguồn vốn nước ngoài :
Một là, nguồn vốn nước ngoài luôn là nguồn vốn quan trọng, nhất là
đối với những nước đang phát triển như nước ta. Vốn trong nước còn hạn
chế, nhất là vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, vì thế phải tạo ra những điều
kiện thuận lợi để có thể thu hút nguồn vốn ODA, FDI, FPI cũng như các
khoản vay nước ngoài và phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để đầu
phát triển SXKD, cơ sở hạ tầng …
Hai là, có kế hoạch xúc tiến đầu tư, gọi VĐT vào những lónh vực
kinh tế mũi nhọn mà chúng ta đã xác đònh phù hợp với từng thời kỳ.
KTXH ở những nước này trong những giai đoạn khác nhau. Tác giả cũng
trình bày một số bài học đối với Việt Nam nói chung và tỉnh BR-VT nói
riêng. Từ đó làm cơ sở để phân tích những thực trạng về hoạt động huy
động và sử dụng vốn cho đầu tư phát triển KTXH trên đòa bàn tỉnh trong
những năm qua, đặc biệt là từ năm 2001 đến nay, sẽ được làm rõ hơn trong
Chương II của luận văn. Trang 24
Chương II :
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TÀI TR CHO ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN KTXH TỈNH BÀ RỊA –VŨNG
TÀU TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
2.1- KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KTXH TỈNH BÀ RỊA-VŨNG
TÀU TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
2.1.1- Đặc điểm đòa lý tự nhiên :
Tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ và
vùng kinh tế (VKT) trọng điểm phía Nam, có nhiều lợi thế để phát triển