phân tích báo cáo tài chính công ty vinamilk - Pdf 12

Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

1
TCDN 14 – K33
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành
đầu tư hay sản xuất họ đều mong muốn đồng tiền của họ bỏ ra sẽ mang lại lợi
nhuận cao nhất. Bên cạnh những lợi thế sẳn có thì nội lực tài chính của doanh
nghiệp là cơ sở cho hàng loạt các chính sách đưa doanh nghiệp đến thành công.
Việc phân tích tình hình tài chính sẽ giúp các doanh nghiệp xác định đầy đủ và
đúng đắn nguyên nhân mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính
của doanh nghiệp mình. Bên cạnh đó, việc lập kế hoạch tài chính cũng đóng một
vai trò quan trọng không kém, nó trở thành kim chỉ nam cho hoạt động của doanh
nghiệp, không có kế hoạch, doanh nghiệp sẽ hoạt động trong bối cảnh mù mờ về
mục tiêu tài chính, dễ dẫn đến mất kiểm soát và dễ gặp bất trắc. Do đó chúng em
đã quyết định chọn đề tài “Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn
hạn cho công ty”
Đề tài nhằm tìm hiểu, phân tích và đánh giá tình hình tài chính, vì thế quá
trình hân tích chủ yếu dựa vào sự biến động của các báo cáo tài chính để thực hiện
các nội dung: đánh giá khái quát tình hình tài chính Công ty, phân tích sự biến
động các khoản mục trong báo cáo kết quả kinh doanh, phân tích so sánh các tỉ số
tài chính, phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ… để đưa ra một số biện pháp - kiến
nghị nhằm cải thiện tình hình tài chính Công ty.
Trong quá trình thực hiện, chúng em nhận thấy công ty cổ phần sữa Việt Nam
Vinamilk là một công ty hoạt động có hiệu quả, ngay cả trong tình hình kinh tế
không mấy sáng sủa. Việc tìm tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu và phân
tích cũng khá dễ dàng do công ty đã minh bạch hóa số liệu và cập nhật thường
xuyên.
Tuy nhiên do phạm vi kiến thức về phân tích nói riêng và kiến thức tài chính
nói chung còn hạn hẹp, nên bài nghiên cứu không thể không tránh khỏi sai sót,
mong nhận được sự nhận xét, đóng góp từ cô để bài nghiên cứu hoàn thiện hơn./.

Ngành công nghiệp sữa Việt nam đã tăng trưởng nhanh trong những năm
gần đây nhờ vào sự tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng trong thập niên vừa qua.
Đồng thời với sự nâng cao mức sống của Việt Nam, khi khả năng có đủ sức và
việc có thể mua được công nghệ sản xuất phổ biến và sự cải thiện cở sở hạ tầng
một cách đáng kể đã tạo điều kiện cho sự gia tăng chung về tính đa dạng, chất
lượng và sản lượng sản phẩm sữa được sản xuất tại Việt Nam. Thị trường cũng đã
tiếp nhận sự tràn vào của các công ty đa quốc gia.
Tổng doanh thu mặt hàng sữa tại Việt Nam đã tăng trưởng 53,6%, tương
ứng khoảng 418 triệu Đô la Mỹ năm 2003 lên 642 triệu Đô la Mỹ năm 2007. Biểu
đồ sau đây thể hiện tổng doanh số mặt hàng sữa tại Việt Nam từ năm 2003 đến
năm 2007.
Tổng doanh số bán mặt hàng sữa tại
Việt Nam 2003 – 2007 (Triệu Đô la Mỹ)

Nguồn: Euromonitor International

418
472
530
589
642
0
100
200
300
400
500
600
700
2003

0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
500
2003 2004 2005 2006 2007
Việt Nam
Châu Á
Bắc Mỹ
Châu Âu
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

5
TCDN 14 – K33
nền kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, lạm phát tăng vọt, lãi vay ngân hàng cao, và tỷ
giá biến động gây khó khăn cho rất nhiều doanh nghiệp. Giá tiêu dùng năm 2008
tăng cao ngay từ quý I và liên tục tăng lên trong quý II, quý III, nhưng quý IV liên
tục giảm, nên giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng
19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng 22,97%. Tốc độ tăng trưởng
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chậm lại chỉ còn 6,23% sau 3 năm
liên tục có mức tăng trưởng GDP trên 8%. Kinh tế thế giới nói chung và kinh tế
Việt Nam nói riêng được dự báo sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong năm 2009.
Đối với ngành sữa, ngoài khó khăn chung của nền kinh tế, bê bối sữa nhiễm
melamine phát hiện tại Trung Quốc và sau đó là tại các nước lân cận đã ảnh hưởng


6
TCDN 14 – K33
có tốc độ tăng trưởng ngành sữa cao thứ hai khu vực, bình quân 15,2% trong giai
đoạn 1996-2006, khá sát với tốc độ tăng trưởng 16,1% của Trung Quốc. Nếu Việt
Nam duy trì tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân 10% hàng năm đến năm
2020; thì mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt khoảng 31
kg/người/năm, tương đương với mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người năm 2006
của người Trung Quốc
2. Khó khăn
Ngành chăn nuôi bò sữa còn khá mới, người nông dân ít kinh nghiệm nên chất
lượng sữa chưa cao. Quy mô còn nhỏ lẻ nên khó áp dụng khoa học công nghệ vào
việc chăn nuôi bò sữa. 80% nguồn thức ăn chăn nuôi bò sữa phải nhập khẩu nên
chi phí chăn nuôi cao. Điều kiện khí hậu nóng ẩm ở Việt nam không thích hợp lắm
với việc chăn nuôi bò sữa. Chỉ rất ít vùng có khí hậu ôn hòa thích hợp cho việc
chăn nuôi bò sữa Là những khó khăn gây thiếu hụt nguồn cung cấp sữa từ nội
địa.
Năng lực sản xuất sữa của khu vực chăn nuôi chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu
chế biến của các nhà máy nên ngành sữa nước ta vẫn còn phải nhập khẩu nguyên
liệu sữa.
Tỷ suất sinh lợi của khâu chăn nuôi bò sữa thấp nên người chăn nuôi không có
khả năng mở rộng quy mô sản xuất (hoặc thậm chí là từ bỏ nghề chăn nuôi bò
sữa). Điều này sẽ khiến tình trạng thiếu hụt nguồn nguyên liệu sữa sẽ tiếp tục diễn
ra.
Mức tiêu thụ các sản phẩm sữa bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp.
Hiện tại Việt Nam nằm tại khu vực Đông Nam Á, được nhận định là vùng trũng
của thị trường sữa thế giới, có mức tiêu thụ bình quân 11,2 kg/người/năm (2006) ,
rất thấp khi so sánh với mức bình quân tại châu Á (62 kg/người/năm), Châu Âu
(290 kg/người/năm) và thế giới (96 kg/người/năm).
Thị trường sữa Việt Nam có mức độ cạnh tranh cao. Bên cạnh các nhà sản xuất

súng đang khiến cho hoạt động tiêu thụ sữa gặp khó khăn.
Theo cam kết gia nhập WTO, mức nhập khẩu sữa bột thành phẩm đến năm
2012 ở mức 25% nhưng hiện nay vẫn còn thấp hơn cam kết khiến cho các sản
phẩm sữa nhập khẩu cạnh tranh dễ hơn đối với các sản phẩm nội địa.
B. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
VINAMILK
I. Lịch sử hình thành và phát triển:
Tiền thân là Công ty Sữa, Café Miền Nam thuộc Tổng Công ty Thực Phẩm,
với 6 đơn vị trực thuộc là Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường Thọ,
Nhà máy sữa Dielac, Nhà máy Café Biên Hòa, Nhà máy Bột Bích Chi và Lubico.
Năm 1978 Công ty được chuyển cho Bộ Công Nghiệp thực phẩm quản lý và
Công ty được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I. 1992
Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I được chính thức đổi tên thành Công
ty Sữa Việt Nam và thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Nghiệp Nhẹ. 1996
Liên doanh với Công ty Cổ phần Đông lạnh Quy Nhơn để thành lập Xí Nghiệp
Liên Doanh Sữa Bình Định. Liên doanh này tạo điều kiện cho Công ty thâm nhập
thành công vào thị trường Miền Trung Việt Nam.
Năm 2003 Chính thức chuyển đổi thành Công ty Cổ phần vào tháng 11 năm
2003 và đổi tên thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam cho phù hợp với hình thức
hoạt động mới của Công ty.
Năm 2004 Công ty thực hiện việc mua thâu tóm Công ty Cổ phần sữa Sài
Gòn, tăng vốn điều lệ đăng ký của Công ty lên con số 1.590 tỷ đồng.
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

8
TCDN 14 – K33
Năm 2005 Mua số cổ phần còn lại của đối tác liên doanh trong Công ty Liên
doanh Sữa Bình Định (sau đổi thành nhà máy Sữa Bình Định). Khánh thành Nhà
máy Sữa Nghệ An ngày 30/06/2005 đặt tại Khu Công Nghiệp Cửa Lò, Tỉnh Nghệ
An. Liên doanh với SABmiller Asia B.V để thành lập Công ty TNHH Liên

GROUP
Cty TNHH
đầu tư BĐS
quốc tế
Cty cổ phần
BĐS
Chiến Thắng
Việt Nam
Cty TNHH
Bò Sữa
Việt Nam
Cty cổ phần
sữa
Lam Sơn
Liên doanh
bia
Sabmiler
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

9
TCDN 14 – K33
Tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2008, Công ty có các công ty con và liên doanh
như sau:
Ngày 17 tháng 2 năm 2009, Công ty đã ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ phần
vốn góp trong liên doanh cho đối tác liên doanh là Sabmiller Asia B.V.

Tên
Ngày
thành lập
Ngành nghề kinh doanh

cư, khu công nghiệp; xây
dựng công trình dân dụng và
công nghiệp.
45 tỷ đồng 64,25%
Công ty TNHH
Một Thành viên
Bò sữa Việt Nam
14/12/2006

Chăn nuôi bò sữa, trồng trọt
và chăn nuôi hỗn hợp, mua
bán động vật sống.
100 tỷ
đồng
100%
Công ty Cồ phần
Sữa Lam Sơn
26/02/2007

Sản xuất và kinh doanh sữa
hộp, sữa bột và bột dinh
dưỡng và các sản phẩm từ
sữa khác, bánh, sữa đậu nành
và nước giải khát; kinh
doanh công nghệ, thiết bị
phụ tùng và nguyên vật liệu;
chăn nuôi bò sữa.
80 tỷ đồng 55%
Công ty TNHH
Liên Doanh

Bà NGUYỄN THỊ NHƯ HẰNG – Phó Tổng Giám đốc.
Ông TRẦN MINH VĂN – Phó Tổng Giám đốc.
Ông TRẦN BẢO MINH – Phó Tổng Giám đốc.
• Ban kiểm soát
Bà NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI – Trưởng Ban Kiểm soát.
Bà NGÔ THANH THẢO – Thành viên Ban Kiểm soát.
Ông NGUYỄN ANH TUẤN – Thành viên Ban Kiểm soát.
IV. Sản phẩm Danh mục sản phẩm của Vinamilk rất đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của người tiêu dùng. Công ty có 4 thương hiệu lớn là Vinamlik,
Dielac, Vfresh và Café Moment. Với danh mục sản phẩm đa dạng:
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

12
TCDN 14 – K33
1. Các sản phẩm sữa:
• Sữa nước
1. Sữa nước cho gia đình: Vinamilk sữa tươi 100%, Vinamilk Flex
2. Sữa nước cho trẻ em
• Sữa chua
1. Sữa chua uống
2. Sữa chua ăn.
3. Sữa chua men sống Probi
• Sữa bột
1. Sữa bột Dielac Mama dành cho bà mẹ mang thai
2. Sữa bột Dielac Alpha dành cho trẻ em
3. Sữa bột dành cho người lớn: Dielac Canxi, Dielac Sure, Dielac
Diecerna

thứ hai vào doanh thu nội địa của Vinamilk và lớn thứ ba trong tổng doanh thu của
Công ty. Năm 2008, sữa nước chiếm 27% doanh thu sản phẩm của Vinamilk. Sữa
nước được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam. Sữa nước là thị trường có mức độ
cạnh tranh rất cao với nhiều công ty sữa trong nước tham gia sản xuất như
Vinamilk, Dutch Lady, Hanoimilk, Mộc Châu, v.v. và một số ít sản phẩm sữa tiệt
trùng nhập khẩu. Đối thủ lớn nhất của Công ty vẫn là Dutch Lady với thị phần
tương đương. Đây là sản phẩm trọng tâm phát triển của Vinamilk trong thời gian
tới.
• Sữa bột:
Bao gồm sữa bột và bột dinh dưỡng, được tiêu thụ tại thị trường trong nước và
xuất khẩu. Đây là sản phẩm xuất khẩu chính của Vinamilk qua thị trường khu vực
Trung Đông. Sữa bột chiếm 29% doanh thu sản phẩm của Công ty trong năm
2008, tương đương với tỷ trọng của sữa đặc, nhờ vào sự tăng trưởng mạnh của
doanh thu nội địa lẫn doanh thu xuất khẩu trở lại mức bình thường. Phân khúc thị
trường này chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của sản phẩm nhập khẩu với rất nhiều
thương hiệu quốc tế như Abbott, Mead Johnson, Nestlé, Friso, và cả những nhà
sản xuất có cơ sở trong nước như Dutch Lady, Nutifood, v.v Đây là thị trường có
tiềm năng tăng trưởng mạnh và là trọng tâm phát triển của Vinamilk trong thời
gian tới.
• Sữa chua:
Chiếm 12% tổng doanh thu sản phẩm của Vinamilk trong năm 2008. Sau khi
tốc độ tăng trưởng của sữa chua chậm lại còn khoảng 10% trong năm 2007, doanh
thu của nhóm này đã tăng ngoạn mục trong năm 2008 với tốc độ tăng trưởng 42%
nhờ đầu tư mạnh vào hệ thống tủ đông, tủ mát để mở rộng hệ thống phân phối
nhóm hàng lạnh. Vinamilk giữ vị trí gần như duy nhất trong thị trường này.
• Công suất thiết kế:
Tổng công suất hiện nay của Vinamilk là 504 nghìn tấn/năm, với hiệu suất sử
dụng đạt gần 70%. Trong năm 2008, Vinamilk đã hoàn tất và đưa vào sử dụng nhà
máy sữa Tiên Sơn đặt tại khu công nghiệpTiên Sơn, Bắc Ninh, sản xuất sữa tiệt
trùng, sữa chua uống, sữa chua ăn và nước trái cây, phục vụ cho khu vực phía Bắc.

Sữa bột, 29%
Sữa đặc, 29%
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

15
TCDN 14 – K33
Thị phần các loại sản phẩm của công ty trong cả nước năm 2008

Nguồn: VNM
2. Thị trường tiêu thụ:
Chủ yếu nằm ở thị trường trong nước, chiếm khoảng 80% tổng doanh thu.
Doanh thu xuất khẩu chỉ chiếm tỷ lệ 20%. Thị trường xuất khẩu chủ yếu của công
ty đến từ khu vực Trung Đông, Campuchia, Philippines và Úc.
3. Vị thế của công ty trong ngành:
VNM là công ty sữa lớn nhất cả nước với thị phần 37%. Quy mô nhà máy cũng
lớn nhất cả nước với tổng công suất hiện nay là 504 nghìn tấn/năm, đạt hiệu suất
70%.
4. Chiến lược phát triển:
- Mục tiêu của Công ty là tối đa hóa giá trị của cổ đông và theo đuổi chiến
lược phát triển kinh doanh dựa trên những yếu tố chủ lực sau:
- Củng cố, xây dựng và phát triển một hệ thống các thương hiệu cực mạnh
đáp ứng tốt nhất các nhu cầu và tâm lý tiêu dùng của người tiêu dùng Việt Nam.
- Phát triển thương hiệu Vinamilk thành thương hiệu dinh dưỡng có uy tín
khoa học và đáng tincậy nhất với mọi người dân Việt Nam thông qua chiến lược
áp dụng nghiên cứu khoa học về nhu cầu dinh dưỡng đặc thù của người Việt Nam
để phát triển ra những dòng sản phẩm tối ưu nhất cho người tiêu dùng Việt Nam.
- Đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh qua thị trường của các mặt hàng nước
giải khát có lợi cho sức khỏe của người tiêu dùng thông qua thương hiệu chủ lực
19%
6%

phối nào. Hiện công ty có hai kênh phân phối: (1) kênh truyền thống (138 nhà
phân phối và hơn 94,000 điểm bán lẻ), thực hiện phân phối hơn 80% sản lượng
của công ty; (2) phân phối qua kênh hiện đại (như hệ thống siêu thị, Metro …).
Đối với sản phẩm sữa, khi giá nguyên liệu mua vào cao, các công ty sữa có thể
bán với giá cao mà khách hàng vẫn phải chấp nhận. Do vậy, VNM có khả năng
chuyển những bất lợi từ phía nhà cung cấp bên ngoài sang cho khách hàng.
− Sản phẩm thay thế: Mặt hàng sữa hiện chưa có sản phẩm thay thế. Tuy
nhiên, nếu xét rộng ra nhu cầu của người tiêu dùng, sản phẩm sữa có thể cạnh
tranh với nhiều mặt hàng chăm sóc sức khỏe khác như nước giải khát…Do đó,
VNM ít chịu rủi ro từ sản phẩm thay thế. Hiện nay, VNM đang phát triển ra nhiều
sản phẩm nước uống có lợi cho sức khỏe để mở rộng thị phần.
− Đối thủ tiềm tàng: Đối với sản phẩm sữa bột chi phí gia nhập ngành sữa
không cao, do đó các đối thủ tiềm năng dễ dàng tham gia vào phân khúc này.
Ngược lại, chi phí gia nhập ngành đối với sản phẩm sữa nước và sữa chua lại khá
cao. Quan trọng hơn, để thiết lập mạng lưới phân phối rộng đòi hỏi một chi phí
lớn. Hiện nay, VNM đã có lợi thế lớn trong vấn đề này. Dù vậy, chi phí chuyển
đổi sản phẩm của người tiêu dùng gần như bằng 0 nên VNM vẫn bị áp lực cạnh
tranh ở mức độ trung bình.
− Cạnh tranh nội bộ ngành: VNM cũng bị cạnh tranh cao ở các công ty sữa
trong nước như Hanoimilk, công ty nước ngoài như Abbott, Mead Johnson;
Nestlé, Dutch Lady Trong tương lai, thị trường sữa Việt Nam tiếp tục mở rộng
và mức độ cạnh tranh ngày càng cao hơn.

Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

17
TCDN 14 – K33
6. Hệ thống phân phối:
- Thị trường nội địa:
Doanh thu nội địa chiếm

toàn quốc.
Có mối quan hệ đối tác chiến lược bền vững với các nhà cung cấp, đảm bảo
được nguồn nguyên liệu ổn định, đáng tin cậy với giá cạnh tranh nhất trên thị
trường.
Năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới theo xu hướng và nhu cầu
tiêu dùng của thị trường.
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

18
TCDN 14 – K33
Hệ thống và quy trình quản lý chuyên nghiệp được vận hành bởi một đội ngũ
các nhà quản lý có năng lực và kinh nghiệm được chứng minh thông qua kết quả
hoạt động kinh doanh bền vững của Công ty.
Thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại và tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế.
Điểm yếu:
• Phụ thuộc vào nguyên liệu nước ngoài trong khi giá lại luôn biến
động
Thách thức:
• Bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi nhiều công ty sữa trong và ngoài nước
• Các vấn đề an toàn thực phẩm có thể sẽ làm người tiêu dùng e ngại
sử dụng sản phẩm sữa
Triển vọng:
• Ngành sữa Việt Nam đang ở trong giai đoạn tăng trưởng nên VNM
có nhiều tiềm năng phát triển. Trong khi đó, mức độ tiêu thụ sữa
bình quân đầu người ở Việt Nam còn thấp.
VII. Hoạt động tài chính:
Mặc dù doanh số của VNM tăng không đồng đều qua các năm, nhưng sau 5
năm cổ phần hóa, VNM đã đạt một tốc độ tăng trưởng rất cao. Doanh số của VNM
năm 2008 tăng gấp đôi so với năm 2004, từ 4,226 tỷ đồng lên 8,380 tỷ đồng. Lợi
nhuận sau thuế của VNM thậm chí còn tăng ở mức cao hơn, gấp 2.4 lần so với

Lợi nhuận sau thuế
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

19
TCDN 14 – K33
phí bán hàng và cuối cùng là chi phí quản lý doanh nghiệp. Cơ cấu chi phí
của VNM và Hanoimilk là tương đồng và đặc trưng cho ngành sữa.
Cơ cấu chi phí theo yếu tố SXKD- Vinamilk

Nguồn: VNM
Bảng 1: Phân tích Dupont Vinamik

2006 2007 2008
ROS
10,5% 14,4% 14,9%
Doanh thu/Tổng TSBQ
1,7 1,5 1,5
ROAA
17,6$ 21,3% 21,9%
Tổng TSBQ/nguồn VCSHBQ
1,5 1,3 1,3
ROEA
26,5% 27,3% 27,5% QLDN, 2,50%
Giá vốn hàng

3-4 lần so với lợi nhuận biên tế của Hanoimilk. Hiệu suất sử dụng tài sản của
hai doanh nghiệp này là gần tương đương như nhau.
Sự khác nhau trong lợi nhuận biên tế là do Hanoimilk là do hai nguyên
nhân: Thứ nhất, lợi nhuận gộp của VNM là đang được cải thiện dần trong
khi của Hanoimilk lại đang giảm đi, mặc dù trước đó lợi nhuận gộp của hai
doanh nghiệp này là gần như nhau.
Thứ hai, VNM đã kiểm soát tốt chi phí bán hàng ở tỷ lệ 40%-50% so với
lợi nhuận gộp. Trong khi đó, chi phí bán hàng của Hanoimik thường ở mức
65%-70% so với lợi nhuận gộp. Đặc biệt trong năm 2008, chi phí này đã
tăng vượt quá cả lợi nhuận gộp là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thua lỗ.
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

21
TCDN 14 – K33 0,00%
5,00%
10,00%
15,00%
20,00%
25,00%
30,00%
35,00%
2005 2006 2007 2008
Lợi nhuận gộp
Vinamilk Hanoimilk

SỐ TIỀN TỶ
TRỌNG

SỐ TIỀN TỶ
TRỌNG

SỐ
TIỀN
TỶ LỆ
%
T

TR
ỌNG
200 TÀI SẢN DÀI
HẠN
2,247,390 41.40 2,779,354 46.58 531,964 23.67
5.18
210 Các khoản phải
thu
762 0.03 475 0.02 -287 -37.66 -
0.01
219 Phải thu dài hạn
khác
762 100.00 475 100
-287 -37.66
0.00
220 Tài sản cố định 1,641,669 73.05 1,936,923 69.69 295,254 17.98 -
3.36
221 Tài sản cố định hữu

-241,440 -40.35 -
18.03
240 Bất động sản
- -
27,489 0.99 27,489
-
0.99
241 Nguyên giá - - 27,489 100 27,489 -
100.00
245 Giá trị hao mòn luỹ
kế
- - - - - - -

250 Các khoản đầu tư
dài hạn
401,018 17.84 570,657 20.53 169,639 42.30
2.69
251 Đầu tư vào công ty
con
- - - - - - -

252 Đầu tư vào công ty
liên kết, kinh doanh

78,189 19.50 23,702 4.15
-54,487 -69.69 -
15.35
258 Đầu tư dài hạn 322,829 80.50 546,955 95.85
224,126 69.43
15.35

5,425,117 100.00 5,966,959 100 541,842 9.99 NGUỒN VỐN

300 NỢ PHẢI TRẢ 1,073,230 19.78 1,154,432 19.35 81,202 7.57 -
0.43
310 Nợ ngắn hạn 933,357 86.97 972,502 84.24 39,145 4.19 -
2.73
311 Vay và nợ ngắn
hạn
9,963 1.07 188,222
19.35 178,259 1789.2
18.28
312 Phải trả người bán 621,376 66.57 492,556
50.65 -128,820 -20.73 -
15.92
313 Người mua trả tiền
trước
5,717 0.61 5,917
0.61 200 3.5
0.00
314 Thuế và các khoản
phải nộp Nhà nước
35,331 3.79 64,187
6.60 28,856 81.67
2.81
315 Phải trả người lao
động
426 0.05 3,104

0.79
400 VỐN CHỦ SỞ
HỮU
4,315,937 79.55 4,761,913 79.80 445,976 10.33
0.25
410 Vốn chủ sở hữu 4,224,315 97.88 4,665,715 97.98 441,400 10.45
0.10
411 Vốn góp của chủ
sở hữu
1,752,757 41.49 1,752,757
37.57 0 0 -
3.92
412 Thặng dư vốn cổ 1,064,948 25.21 1,064,948
22.82 0 0 -
2.39
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

24
TCDN 14 – K33
phần
417 Quỹ đầu tư phát
triển
744,540 17.63 869,697
18.64 125,157 16.81
1.01
418 Quỹ dự phòng tài
chính
136,313 3.23 175,276
3.76 38,963 28.58
0.53

541.842 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 9,99%. Trong đó, nợ phải trả tăng 81.202 triệu
đồng với tỷ lệ tăng là 7,57%. Tỷ trọng nợ phải trả là 19,35%, giảm so với 2007 là
0,43%. Nguồn vốn chủ sở hữu tăng 445.976 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 10,33%.
Tỷ trọng vốn chủ sở hữu là 79.8%, tăng 0.25% so với 2007. Điều này cho thấy
chính sách tài trợ của công ty là sử dụng nguồn vốn của công ty, đây là chính sách
được VNM duy trì qua nhiều năm, và ngày càng mang đến kết quả cao hơn, điều
này thể hiện rõ ràng ở tình hình tài chính của công ty được cải thiện trong cả năm
2008.
Với tỷ số nợ trên vốn cổ phần là 24%, tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần là
3.8% và tỷ số nợ trên tài sản là 19.35% cho thấy tỷ lệ nợ dài hạn của công ty là
thấp, khả năng thanh toán nợ vay cao. Vì vậy, có thể nói cơ cấu nguồn vốn của
VNM vào thời điểm hiện tại là tương đối phù hợp, các khoản nợ ngắn hạn và vay
dài hạn tuy đều tăng chậm lại, phù hợp với lãi suất không ổn định và tình hình
kinh tế biến động xấu trong năm 2008. Cơ cấu vốn với tỷ lệ vay nợ thấp của VNM
cũng là một lợi thế tại thời điểm hiện nay khi mà nhiều công ty cạnh tranh cùng
ngành đang gặp khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng hoặc khất nợ. Bên cạnh
đó, công ty đã chấp hành tốt kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng, quan tâm đến
việc giữ uy tín trong quan hệ với khách hàng nên VNM vẫn luôn đứng vững với vị
trí đầu ngành.
• Nợ phải trả:
Phân tích và lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn cho công ty”

25
TCDN 14 – K33
- Nợ ngắn hạn tăng nhẹ 39.415 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 4,19%, mặc dù
tỷ trọng tương ứng lại giảm đôi chút, từ 86,97% xuống 84,24%, tuy nhiên vẫn
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nợ phải trả. Đặc biệt, trong nợ ngắn hạn, vay và nợ
ngắn hạn tăng đột biến, từ 9.963 lên 188.222 triệu đồng với tỷ lệ tăng là hơn
1789%. Như vậy, tỷ trọng đóng góp của vay và nợ ngắn hạn trong nợ ngắn hạn đã
tăng từ 1,07% lên 19,35%. Ngược lại, phải trả người bán và các khoản phải trả,

với năm 2007, tổng tài sản tăng lên 541.842 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 9.99%.
Điều đó cho thấy quy mô về vốn của công ty tăng lên, quy mô sản xuất kinh doanh
đã được mở rộng.

Trích đoạn Phân tích tỷ số tài chính: Phân tích Dupont:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status