LUẬN VĂN: Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 12

LUẬN VĂN:
Xây dựng một nền kinh tế độc lập
tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế
A.Lời giới thiệu (Đặt vấn đề)
Bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ XXI với sự phát triển nhảy vọt của khoa
học công nghệ, vai trò của kinh tế tri thức ngày càng nổi bật trong quá trình phát
triển lực lượng sản xuất. Và toàn cầu hoá, khu vực hoá là một xu thế khách quan
lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; Xu thế này đang bị một số nước phát
triển và tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu
thuẫn vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đối tác.
Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan đúng như Mác và Ăngghen
đã dự báo từ thế kỷ trước khi phân tích sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản

- Vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có
chế độ chính trị khác nhau.
- Các nước XHCN, Đảng cộng sản, công nhân các lực lượng tiến bộ
xã hội kiên trì đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội.
2. Các xu thế kinh tế quốc tế đáng chú ý:

2.1. Xu thế phân công lao động quốc tế mới thông qua việc các nước áp
dụng phổ biến chính sách hướng về xuất khẩu, tự do hoá mậu dịch (WTO và các
khối mậu dịch tự do khu vực).
Quá trình hội nhập quốc tế được đo bằng tốc độ hội nhập, tức là mức gia
tăng bình quân hàng năm của thương mại quốc tế trừ mức gia tăng bình quân của
tổng sản phẩm thế giới.
2.2. Xu thế về sự gia tăng mạnh dòng đầu tư nước ngoài tới các nước đang
phát triển (ODA và FDI), cụ thể một số số liệu về hai hình thức đầu tư là:
Đầu tư FDI:
1971 1981 1991
(FDI) Trực tiếp 2,4 tỷ USD 8,3 tỷ USD 33,1 tỷ USD
(FDI) gián tiếp 0,234 tỷ USD 2,0 tỷ USD 175 tỷ USD
Đầu tư FDI vào Việt Nam:
Năm Số dự án Vốn đăng ký
(tỷ USD)
Vốn thực hiện
(tỷ USD)

Singapore là một ví dụ.
Đón bắt xu thế này, nhiều nước đang phát triển nhấn mạnh đến hiện đại
hoá, rất coi trọng đầu tư vào chất xám, coi giáo dục, đào tạo là vòng đua quyết
liệt nhất của thế kỷ 21.
2.4. Cạnh tranh quốc tế mang những đặc trưng mới và ngày càng quyết
liệt.
Trong xu thế mới, các lợi thế cạnh tranh sơ cấp như lao động rẻ và tài
nguyên thiên nhiên ngày càng giảm dần. Lợi thế cạnh tranh bằng tri thức quản lý
hiện đại, tay nghề và kỹ năng của lao động kỹ thuật, bí quyết công nghệ mới, sự

hoàn hảo của hệ thống hạ tầng cơ sở, sự phát triển và hoà nhập quốc tế thị trường
vốn ngày càng có ý nghĩa hơn.
2.5. Bối cảnh trong nước – thời cơ lớn và thách thức lớn.
- Thời cơ lớn: Thành tựu của công cuộc đổi mới tạo ra thế và lực mới (cả bên
trong và bên ngoài): nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hoá hiện đại hoá
đã xuất hiện: quan hệ đối ngoại được mở rộng hơn bao giờ hết: giữ vững độc
lập tự chủ và thời cơ hội nhập với cộng đồng thế giới ngày càng thuận lợi.
- Bốn nguy cơ - thách thức lớn:
+ Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và
trên thế giới do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao, lại phải đi lên
trong môi trường cạnh tranh gay gắt.
+ Nguy cơ chệch hướng XHCN nếu không khắc phục được những lệch lạc
trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện:
+ Nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu.
+ Nguy cơ “diễn biến hoà bình” của thế lực thù địch
(Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, trang 25).


B. Giải quyết vấn đề
Vận dụng quan điểm triết học Mác – Lênin về mối liên hệ phổ biến để giải quyết
vấn đề.
I. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật và hiện tượng.
1. Nội dung nguyên lý: Khái niệm liên hệ phổ biến nói lên rằng, các sự
vật, hiện tượng muôn hình muôn vẻ trong thế giới không có cái nào tồn tại một
cách cô lập mà chúng là một thể thống nhất, trong đó các sự vật, hiện tượng tồn
tại bằng cách tác động nhau, ràng buộc nhau, qui định và chuyển hoá lẫn nhau.
Mối liên hệ này chẳng những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự
nhiên xã hội và trong tư duy mà còn diễn ra giữa các yếu tố, các mặt khác, các
quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ này là khách quan nó bắt
nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới biểu hiện trong các quá trình tự
nhiên, xã hội và tư duy.

Mối liên hệ của sự vật, hiện tượng trong thế giới là đa dạng và nhiều vẻ:
có mối liên hệ bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp cơ bản và không cơ
bản chủ yếu và thứ yếu
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm
toàn diện khi nghiên cứu sự vật hiện tượng tức là: Khi phân tích sự vật hiện
tượng phải đặt nó trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác, phải xem
xét tất cả các mặt, các yếu tố, kể cả các khâu trung gian gián tiếp của chúng.
Tuy nhiên quan điểm toàn diện không có nghĩa là cách xem xét cào bằng,
tràn lan mà phải thấy được vị trí của từng mối liên hệ, từng mặt, từng yếu tố
trong tổng thể của chúng. Có như thế chúng ta mới thực sự nắm bắt được bản
chất sự vật. Vì vậy quan điểm toàn diện bản thân nó đã bao hàm quan điểm lịch
sử, cụ thể.
2, ứng dụng nguyên lý: Phân tích đường lối xây dựng một nền kinh tế độc

với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên ngày nay thế lực của đất nước nước ta cũng đang lớn mạnh lên
thể hiện qua những thành tựu kinh tế đạt được trong hoàn cảnh nền kinh tế khu
vực và thế giới diễn biến phức tạp(ví dụ : khủng hoảng kinh tế Châu á - Đông
Nam á năm 1997)
+, Hàng năm kinh tế nước ta vẫn tăng trưởng khá.
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm 7%. Tuy
không đạt kế hoạch đề ra(9-10%) nhưng trong bối cảnh đó đạt được 7% là khá.
- Nông nghiệp phát triển liên tục, góp phần quan trọng vào mứa tăng trưởng
chung và giữ vững ổn định kinh tế xã hội:
Giá trị sản xuất nông lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,7% hàng năm(mục
tiêu 4,5 - 5%) trong đó nông nghiệp tăng 5,6% lâm nghiệp 0,4% ngư nghiệp
8,4%.
- Công nghiệp và xây dựng vượt qua được những khó khăn và thách thức
đạt được tiến bộ: cụ thể. Nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp bình
quân hàng năm 13,5% (kế hoạch đề ra 14-15%).

- Các ngành dịch vụ cũng phát triển: Giá trị ngành dịch vụ tăng 6,8% năm.
2.2.2. Tương quan giữa nội lực và ngoại lực:
Về nội lực: Đất nước ta còn nhiều tiềm năm về tài nguyên thiên nhiên và
lao động đặc biệt với tiềm năng trí tuệ, tinh thần của con người Việt Nam. Nếu
có giải pháp đúng đắn để phát huy tính sáng tạo có hiệu quả của nền kinh tế tri
thức trong thế kỷ XXI. Nếu phát huy được những tiềm năng đó, nâng cao dân trí,
bồi dưỡng và sử dụng tốt nhân tài thì có khả năng tiến nhanh, tiến mạnh.
- Nhân dân ta có phẩm chất tốt đẹp
- Chúng ta có một xã hội có nền chính trị ổn định.
Về ngoại lực: Chúng ta sống trong một môi trường hòa bình, hợp tác, liên

dân tộc.
Nên độc lập, tự chủ là nền kinh tế trước biên động của thị trườn, trước hết
khủng hoảng kinh tế của nền kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả năng cơ
bản duy trì ổn định và phát triển. Trước sự bao vây chống phá của các thế lực thù
địch vẫn có khả năng đứng vững không bị sụp đổ, không bị rối loạn.
1.2. Làm thế nào để đảm bảo độc lập tự chủ về kinh tế:
Thực tế cho thấy muốn giữ vững được độc lâp tự chủ về kinh tế phải có 2
điều kiện.
Một là: phải có đường lối, chính sách độc lập tự chủ có nghĩa là chúng ta tự
lựa chọn định hướng phát triển, tự mình xác định chủ trương, chính sách mô
hình kinh tế, không bị động và hệ thống vào bên ngoài.
Hai là: Phải có giá trị của nền sản xuất trong nước phải đáp ứng được nhu
cầu tiêu dùng của nhân dân và có phân tích luỹ cần thiết từ nội bộ nền kinh tế
quốc dân để tái sản xuất mở rộng. Phải có thế chế KT - XH bên vững có cơ cấu
kinh tế gắn liền với cơ cấu công nghệ, có đủ khả năng sáng tạo, ra sức cạnh tranh
và hiệu quả, trả được nợ, tạo đựợc tích luỹ, đáp ứng được thị trường trong nước,

chiếm lĩnh và giữ được thị trường nước ngoài, bảo đảm giữ vững được nhịp độ
tăng nhanh, ổn định, bên vững,
- Phải có một năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ nhập khẩu và
sáng tạo công nghệ mới của Việt Nam. Bảo đảm sự trao đổi bình đẳng về kinh tế
và công nghệ với bên ngoài nhất là trong điều kiện như ngày nay.
- Phải làm giữ vững được ổn định kinh tế, tài chính vĩ mô với hệ thống tài
chính tiền tệ lành mạnh, bảo đảm được cán cân thương mại và cán cân thanh
toán: có dự trữ ngoại lệ cần thiết, không dễ bị động và lệ thuộc.
- Phải có yếu tố vật chất, bảo đảm an toàn và điều kiện cơ bản cho phát
triển. Trước hết là các yếu tố về, an ninh lương thực, an toàn năng lượng, an toàn

Sáu quan điểm đại hội VIII nêu lên về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
thời kỳ mới:
Một là: Giữ vững độc lập tự chủ đi đối với mở rộng hợp tác quôc tế, đa
phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là
chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực nước ngoài. Xây dựng một nền kinh tế
mở, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu,
đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu
quả.
Quan hệ nguồn lực trong nước và nước ngoài.
(Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam)
Đầu tư Tiết kiệm trong nước
Hàn Quốc
1965 – 1973 24 24
1973 – 1980 30 29
1980 – 1987 32 32
1987 – 1990 37 38
Malaixia
1965 – 1973 16 15
1973 – 1980 20 17

1980 – 1987 22 17
1987 – 1990 23 18
Inđônêxia
1965 – 1973 18 17
1987 – 1990 34 36
Philipin
1965 – 1973 21 21

4. DN ngoài QD 41,5 23,4 26,7
5. Nước ngoài 14,7 25,8 33,3
Hai là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước là chủ đạo.
Số lượng DNNN
Số TT Loại hình doanh nghiệp Số lượng Tổng số vốn
kinh doanh (Tỷ
đồng)
1 Doanh nghiệp nhà nước 5.863 70.000

Trong đó:
- Tổng công ty 91 18 36.313
- Tổng công ty 90 (đã cấp ĐK) 73 10.629
2 Doanh nghiệp tập thể 2.200
3 Kinh tế tư nhân theo Luật C.ty 25.410 13.591
Trong đó:
- Công ty TNHH 7.800 7.357
- Công ty cổ phần 210 2.490
- DN tư nhân 17.400 3.744
4 Hộ kinh doanh dưới vốn pháp định
(theo Nghị định 66)
1.100.000

Vai trò kinh tế quốc doanh
Đơn vị tính: %
1991 1992 1993 1994 1995 1996
1. Tốc độ tăng trưởng

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhất là về công nghệ và hiệu quả kinh
doanh.
Ba là: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát
triển nhanh và bền vững. (Nghị quyết trung ương 2 mới đây về giáo dục và đào
tạo). Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích lũy
cho đầu tư phát triển. Vấn đề tích lũy cho công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa, tích
lũy công nghiệp hoá XHCN theo quan niệm trước đây và hiện nay.
Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá, giáo
dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường (tính thời đại của
vấn đề môi trường).
Theo kinh nghiệm quốc tế, nếu mức đầu tư hàng năm tăng 15 đến 20% thì
có thể đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm là 10%. Trong đó:

- Tăng trưởng do lao động: 1,9%
- Tăng trưởng do vốn đầu tư: 3,8%
- Tăng trưởng do áp dụng tiến bộ công nghệ: 3,5%
Lưu ý: Phần đóng góp từ tiến bộ công nghệ suy cho cùng cũng từ nhân tố
đào tạo con người (có sức sáng tạo công nghệ hoặc tiếp nhận sử dụng công nghệ
mới).
Bốn là: Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hoá (Nghị
quyết Trung ương 2 về khoa học và công nghệ). Kết hợp công nghiệp truyền
thống với công nghệ hiện đại ở những khâu quyết định.
Năm là: Lấy hiệu quả kinh tế – xã hôi làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định
phương án phát triển.
- Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế – xã hội.
Sáu là: Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh.

3.2. Những vấn đề ưu tiên trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế.
- Phát huy lợi thế, tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, của
hàng hoá và của cả nền kinh tế, giảm dần hàng rào bảo hộ.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế, hiệu quả hợp tác
quốc tế.
- Tăng nhanh tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, dự kiến đến năm 2010 sẽ đạt
trên 30% GDP.
- Tăng nhanh tổng kim ngạch xuất khẩu (dự kiến nhịp độ tăng xuất khẩu
gấp trên 2 lần nhịp độ tăng GDP).
- Tập trung thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài vào các khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao (dự kiến trong 5 năm 2001 – 2005 sẽ thu hút đưa
vào thực hiện trong nền kinh tế khoảng 9 – 10 tỷ USD). Thu hút và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) (dự kiến trong 5 năm
2001 – 2005 sẽ thu hút giải ngân được 10 – 11 tỷ USD). C. Kết luận:
Như vậy phân tích trên ta thấy xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trên cơ
sở phát huy cao độ các nguồn nội lực là quyết định đồng thời thu hút và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức
mạnh tổng hợp là một nội dung quan trọng của đường lối kinh tế do Đảng IX đề
ra.
Có thể nói chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là để tạo điều kiện xây dựng

Tài liệu tham khảo

- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc: IX, VIII, VII, VI.
- Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội Đảng IX
- Tạp chí cộng sản số 5 (Tháng 3/2001).
- Giáo trình Triết học Mác – Lênin tập II.
- Báo cáo Phát triển kinh tế – xã hội của Bộ chính trị tháng 9/1996.
- Niên giám thống kê năm 1996

Mục lục

Trang
A. Lời giới thiệu
1
I. Bối cảnh trong nước và quốc tế
1
1. Bối cảnh quốc tế chung 1
2. Các xu thế kinh tế quốc tế đáng chú ý 2
II. Quan điểm chiến lược – phát triển
5
B. Giải quyết vấn đề
5
I. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật và hiện tượng
5
1. Nội dung nguyên lý 5
2. ứng dụng nguyên lý 6
II. Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status