LUẬN VĂN:
Quan hệ phân phối trong nền
kinh tế nước ta hiện nay
a. Lời mở đầu Đất nước ta đang từng bước đổi mới,quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội . Với đặc
thù riêng về chính trị đất nước , hoàn cảnh lịch sử… tác động gián tiếp trực tiếp làm
xuất hiện nhiều thành phần kinh tế với sự đa dạng và phong phú về các hình thức sở hữu
. Sự đa dạng về các hình thức sở hữu này đã làm xuất hiện nhiều hình thức phân phối
nghi(tạo ra, cải biến) các sản phẩm của tự nhiên cho phù hợp với những nhu cầu của
con người, phân phối xác định tỷ lệ mỗi cá nhân thâm gia vào sản phẩm đã sản xuất ra ,
trao đổi đem lại cho cá nhân những sản phẩm nhất định mà anh ta muốn dùng phần
nhận được do phân phối để trao đổi…” Như vậy rõ ràng trong mọi nền kinh tế các tác
nhân kinh tế tham gia vào nền sản xuất xã hội thiết lập một quan hệ sản xuất nhất định,
quá trình sản xuất cho phép tạo ra những sản phẩm nhất định phục vụ cho nhu cầu của
xã hội và dưạ trên những nền tảng những quan hệ sản xuất của những tác nhân kinh tế
đó mỗi một tác nhân được nhận một sản phẩm nhất định do quá trình phân phối đem lại
.
Quan hệ phân phối là mối quan hệ giữa chủ thể sản xuất và chủ thể tiêu dùng.Dưới
chế độ xã hội nhủ nghĩa Mac cho rằng “ phân phối sản phẩm là do phương thức sản xuất
quyết định” như vậy trong xã hội tư bản và xã hội chủ nghĩa tồn tại hai phương thức sản
xuất khác biệt liệu có dẫn đến hai quá trình phân phối khác nhau không . Để hiểu rõ về
vấn đề này Mac đã đề cập đến các quan hệ phân phối ở từng khía cạnh trong từng xã hội
.
Phân phối và sản xuất: phân phối là nhân tố quyết định sản xuất cũng là nguồn thu
nhập , người lao động tham gia sản xuất tạo ra sản phẩm và qua đó họ dược hưởng tiền
công tiền lương, chế độ … người chủ sở hữu bỏ vốn sản xuất và họ thu được lợi nhuận,
cổ tức … Mac viết bản thân sự phân phối là sản vật của sản xuất không những về mặt
nội dung vì người ta chỉ có thể phân phối những kết quả của sản xuất thôi mà cả về mặt
hình thức, vì phương thức nhất định của việc tham gia vào sản xuất quy định hình thái
đặc thù của phân phối , hình thái đó theo đó người ta tham gia vào sự phân phối”
(1)
Trong xã hội tư bản người công nhân tham gia vào quá trình sản xuất họ sáng tạo ra
những giá trị lớn hơn nhữnh giá trị mà họ nhận được từ tay những nhà tư bản rất nhiều ,
họ bị nhà tư bản chiếm đoạt phần thặng dư đó . Như vậy trong xã hội tư bản không có
Nhìn nhận về quan hệ phân phối của Mac-Enghen đã đề ra. Trên nền tảng đó Đảng và
Nhà nước ta nhận định rằng “ chúng ta phải sống phù hợp với kết quả lao động của
mình không tiêu dùng quá giới hạn mà mức sản xuất cho phép”
(2)
“thiết lập trật tự mới
xã hội chủ nghĩa , trên mặt trận phân phối , lưu thông để góp phần ổn định đời sống đẩy
mạnh sản xuất chuyển đổi tình hình kinh tế xã hội . Phát huy tác dụng đòn kéo và cầu
nối của phân phối … phân phối , lưu thông phải tham gia đắc lực vào cuộc đấu tranh
giữa hai con đường , mở rộng trận địa chủ nghĩa xã hội , điều tiết bằng được thu nhập
của các tầng lớp dân cư cho công bằng và hợp lý”
(3)
1.1.2) Quan đIểm về các quan diểm phân phối khác(Adámsmith,Ricardo,sismonvi)
Trước hết đến với quan điểm của Adáms.mith .Vềlý luận tiền theo ông trong xã hôI
nguyên thuỷ trước chủ nghĩa tư bản thì toàn bộ sản phẩm thuộc về người lao động .Điều
đó có nghĩa là Adámsmith đã khẳng định rằng một khi người lao động làm việc bằng
chính những tư liệu sản xuất và ruộng đât của mình , thì lẽ công bằng là người sản xuất
phải được sản phẩm toàn vẹn của lao động của họ
Nhưng khi sở hữu tư bản chủ nghĩa xuất hiện , người lao động bị tước đoạt hết tư
liệu sảnt xuất buộc họ trở thành những người làm thuê cho chủ tư bản .Trong điều kiện
như vậy người làm thuê chỉ được nhạn một phần tiền từ chủ sau khi đã làm việc cho chủ
một thời gian nhát định .Vạy tiền lưong của những người công nhân làm thuê không
phải là toàn bộ giá trị sản phảm mà lao động của họ làm ra ,mà chỉ là một bộ phận giá
trị đó. Ông chỉ ra mức bình thường của tiền lương và cho rằng tiền lương phải đạt được
ở mức tối thiểu .Theo Adamsmith,tiền lương không dược hạ thấp quá mức tối thiểu nếu
không đó sẽ là thảm hoạ đối với dân tộc .Bằng luận cứ khoa học ông chỉ ra rằng mức
tiền lương tối thiểu chỉ diễn ra ở những nước đang diễn ra sự thoái hoá về kinh tế.Còn ở
những nước phát triẻn nhanh thì tiền lương vượt ngoài mức tối thiểu .
Adámsmith cho rằng tiền lương cao sẽ là động lực tăng trưởng kinh tế .cụ thể khi
tiền lương cao, người lao động phấn khởi tìm mọi cách đẻ tăng năng suất lao động ,
2. Bản chất của quan hệ phân phối và nguyên tắc phân phối ở nước ta.
Quan hệ phân phối là một mặt quan trọng trong nền sản xuất. Phân phối không chỉ
đơn thuần là phân phối giá trị sản xuất ra mà nó còn bao hàm cả phân phối nguồn lực
cho sản xuất.
Phân phối cho sản xuất là sự bảo đảm các yêú tố đầu vào về tư liệu sản xuất, về lao
động, nguyên nhiên liêu… cho quá trình sản xuất. Trong bất cứ một quá trình sản xuất
nào thì phân phối cho sản xuất luôn là vấn đề thiết yếu nó quyết điịnh hiệu quả kinh tế,
sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất. Khi phân phối cho quá trình sản xuất đạt hiệu
quả kinh tế, nó có thể cho nhiều sản phẩm đầu ra hơn trong khi đầu vào không đổi. Rõ
ràng ở đây phân phối sản xuất đã đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy từ sự phân phối tư liệu sản xuất, cùng các yếu tố đầu vào khác đã tạo lên
những đặc trưng riêng của san phẩm đầu ra và từ những sản phẩm đầu ra đó người ta lại
tiến hàng phân phối và phân phối lại theo các hình thức khác nhau. Vậy thì ta thấy rằng
phân phối sản phẩm chẳng qua chỉ là kết quả của quá trình phân phối cho sản xuất, sự
phân phối này đã bao hàm trong quá trình sản xuất và quyết định cơ cấu sản xuất. Xem
xét sản xuất mà không quan tâm đến sự phân phối đó, sự phân phối bao hàm trong sản
xuất thì rõ ràng đó là một sự trừu tượng trống rỗng, còn sự phân phối sản phẩm thì trái
lại, đã bao hàm trong sự phân phối này là một yếu tố của sản xuất.
Trong quá trình phân phối cho sản xuất tạo nên cơ cấu sản xuất khác nhauvà từ đó
thiết lập lên quan hệ phân phối sản phẩm khác nhau như ta đã nói. Ơ nước ta chủ yếu là
hình thức công hữu về tư liệu sản xuất, kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể giữ vai trò chủ
đạo. Vì tư liệu sản xuất là bình đẳng cho mọi người lao động nên ở nước ta có được
quan hệ phân phối công bằng hơn cho người lao động. Tuy nhiên toàn bộ những sản
phẩm mà xã hội làm ra lhông phải đều được sử dụng cho tiêu dùng cá nhân mà trước hết
những giá trị tạo ra đó phải được sử dụng để:
- Bù đắp những tư liệu sản xuất đã hao phí, hao mòn trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
- Lập quỹ dự phòng đề phòng thiên tai, tai nạn bất ngờ , quốc phòng an ninh…
tư tưởng ỉ lạ, ăn bám “ muốn trút bỏ gánh nặng lao động cho người khác ” trong tình
hình đó phân phối theo lao động là giải pháp hợp lý. đất nước ta mới chỉ đang ở giai
đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế còn nghèo nàn, sản phẩm quốc dân chưa
đủ để phân phát cho mọi người theo nhu cầu, hơn nữa lao động chưa trở thành nhu
cầu mà nó vẫn còn là phương thức sinh nhai của mỗi người, trong hoàn cảnh đó thì
phân phối theo lao động sẽ thúc đẩy mọi người lao động ngày một tích cực và hăng
hái hơn giúp cho sản xuất phát triển.
Như vậy để phân phối theo lao động cần đảm bảo các yêu cầu: Phải căn cứ vào số
lượng chất lượng lao động của mỗi người dể trả công cho người lao động ,phải trả
cong bằng nhau cho lao động như nhau,trả công khác nhau cho lao động khác nhau
khong phan biệt già trẻ , gái trai, dân tộc …Mặt khác phải giải quyết tốt mối quan hệ
giữa lợi ích vật chất với đông viên tinh thần cho người lao động,có vậy mới phát huy
khả năng lao động, sáng tạo của mọi người .Sau cùng để phân phối theo lao động
được công bằng hơn chúng ta cần đấu tranh chống lại hai sai lầm phổ biến đó là chủ
nghĩa bình quân và khuynh hướng đòi mở rộng quá mức khoảng cách bậc lương mà
không có căn cứ kinh tế .Thực hiện tốt phân phối theo lao động ở nước ta hiện nay
sẽ mang lại nhiều tác dụng to lớn ,nó sẽ góp phần tạo ra công bằng trong xã hội
,khuyến khích người lao dộng tích cực lao động hết năng lực và khong ngừng nâng
cao trình độ bản thân , qua đó tạo diều kiện phân bổ lao động hợp lý giữa các ngành
kịnh tế , thúc đẩy nền sản xuât xã hội phát triển.
2.2.2.Phân phối theo tài sản ,ng uồn vốn và những đóng góp khác
Nguyên tắc phân phối này cũng rất phù hợp cho thực trạng nền kinh tế nước ta
hiện nay khi mà chúng ta đang thực đa dang hoá các hình thức sở hữu trong kinh
doanh .Phân phối theo vốn taì sản và những đóng góp khác đựoc hiểu là quá trình trả
công cho vốn tài sản và những đóng góp khác đó nó được thể hiện thông qua lãi ,cỏ
tức ,lợi nhuận…Với một nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay bao gồm
chủ yếu là hình sản suất nhỏ lẻ ,hộ gia đình chưa thành lập được công ty lớn (vì
hưởng những giá trị phân phối nhất định từ thành quả lao động ,đóng góp ấy.Thế
vậy còn nhưng người không có khả năng lao động(như người ốm yếu ,già cả mất sửc
lao đọng….) thì sao.Quan hệ phân phối trong xã hội chủ nghĩa mà cụ thể là nước ta
đảm bảo cho họ một mức sống ổn định tối thiểu .
Nhận định về hình thửc phân phối này ta thấy rằng nó tạo ra sức phát triển toàn diện
cho mọi thành viên trong xãhội,đúng theo quan điẻm mà đại hội VII của đảng dã đề
ra “coi con nguời là trung tâm của mọi sư phát triển gắn liền chíng sách phát triển
kinh tế với chíng sách phát triển xã hội”
2.2.4) Đến với đa quan hệ phân phối trên ta thấy đó là ba quan hệ phân phối phổ
biến và quan trọng , không thể thiếu đối với nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện
nay. Các quan hệ phân phối này tạo nên các hình thức thu nhập khác nhau giữa các
tầng lớp dân cư ,phổ biến là các hình thức thu nhập sau:
Thứ nhất là: hình thức tiền công,tiền lương :
Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nước ta từ một nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trường là quá trình chúng ta dần dần thừa nhận sức lao
động là hàng hoá. Khi người lao đọng làm việc cho chủ doang nghiệp hoặc tổ chức
kinh tế quốc doanh người lao đọng nhận được một khoản thu nhập gắn với kết quả
lao dộng của họ . Về nguyên tắc khoản thu nhập đó phải dược tương xứng với số
lượng và chất lượng lao động mà họ đã cống hiến . Số thu nhập theo lao đong đó
dược gọi la tiền lương .Hay nói cách khác tiền lương chính là hình thức thu nhập
theo lao đọng .
Để cho người lao đọng thực sự yên tâm từ dó sẵn sàng mang hết sức sáng tạo của
mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh ,điều quan trọng trước hết ở chỗ là người
lao dộng phải được nhận đủ mức lương và nhận kịp thời ,mức lương đó phải ngày
một tăng theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của chính họ. Do vậy trong cơ
cấu tiền lương thường bao gồm hai phần là tiền lương cơ sở và tiền thưởng . Phần
tiền lương cơ sở là phần lương tính chung cho người lao động có trình độ và điều
và dám chấp nhận rủi ro, thậm chí phá sản. Để đạt lợi nhuận tất yếu các nhà sản xuất
kinh doanh phải cạnh tranh mạnh mẽ với nhau tìm mọi cách để giảm chi phí để thu lợi
nhuận cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường lưọi nhuận là động lực chi phối hoạt động
của người sản xuất kinh doanh. Chính lợi nhuận đã đưa doanh nghiệp đến các khu vực
sản xuất hàng hóa mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các khu vực ít người tiêu dùng.
Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật ngày càng rộng rãi
và hiệu quả nhất. Lợi nhuận tạo điều kiện xúc tác cho thị trường hàng hóa ngày càng
hoàn thiện và đa dạng để có thể đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất kinh doanh ngoài phần thu nhập là
tiền lương, còn khoản thu nhập khác đó là lợi nhuận và phần này ngày càng tăng lên,
chiếm ưu thế trong tổng thu nhập. Tổng thu nhập mà mỗi người lao động nói chung mỗi
nhà sản xuất nói riêng nó vừa phải phản ánh kết quả lao động của mỗi người, vừa phản
ánh kết quả lao động của tập thể với tư cách là chỉnh thể. Để thúc đẩy tăng trưởng và
phát triển kinh tế cần phải phát huy tối đa sức sáng tạo của các nhà kinh doanh giỏi và
thạo với cơ chế thị trường. Đúng vậy cần không nâng cao thu nhập trong đó có lợi
nhuận của họ. Việc không ngừng nâng cao thu nhập cho họ đòi hỏi không ngừng cải
tiến cơ chế quản lý và các chinsh sách kinh tế, trong đó có chính sách phân phối lợi
nhuận. Việc đưa ra đúng cơ chế hình thành và phân phối lợi nhuận sẽ góp phần hình
thành quan hệ “làm chủ thực sự với côngviệc”.
Lợi tức chính là một phần từ lợi nhuận mà các tổ chức kinh tế trả cho người sở
hữu tiền tệ (đóng góp cổ phần vào doanh nghiệp) như vậy lợi tức có nguồn gốc từ lợi
nhuận, tuỳ theo hình thức mua bán cổ phiếu mà lợi tức được chi trả theo các phương
thức khác nhau. Lợi lức chính là động cơ để mọi người mua cổ phiếu cả doanh nghiệp,
thường thì những doanh nghiệp có uy tín sẽ thu hút được mọi mua cổ phiếu khi doanh
nghiệp phát hành cổ phiếu. Thông qua hình thức phát hành cổ phiếu giúp cho doanh
nghiệp có thể huy động vốn nhàn rỗi để mở rộng quy mô của doanh nghiệp, tăng nguồn
vốn chủ sở hữu.
nắm vững hoặc làm chủ quá trình phát triển. ở Indonexia các tổ chức phi chính phủ có
đóng góp to lớn trong việc tiếp cận, giúp đỡ các tầng lớp nghèo khổ. Sự ra đời các tổ
chức này, một mặt do nhu cầu phải bổ sung những khiếm khuyết trong những chương
trình của chính phủ. Mặt khác có quan hệ chặt chẽ với việc suy giảm các nguồn tài trợ
từ ngân sách do thu nhập từ dầu lửa giảm. Hoạt động của các tổ chức này gồm bốn dạng
chính, huấn luyện, nghiên cứu, phát triển thực hiện các chương trình như sản xuất, tư
vấn… về các chức năng của các tổ chức này tỏng việc giảm bớt nghèo khổ có thể kể
đến là hỗ trợ, bổ sung và làm trung gian. Do tính chất quan liêu nặng nề, các chương
trình của chính phủ có thể không với tới các vùng các nhóm dân cư. Sự có mặt của các
tổ chức phi chính phủ ở những nơi bị bỏ trống này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Với tư
cách là người hỗ trợ, các tổ chức này làm chức năng cộng sự thực hiện các chương trình
của chính phủ giúp đỡ các tầng lớp nghèo, với tư cách là người trung gian họ chuyển
những nguyện vọng cảu tầng lớp nghèo đến các cơ quan của chính phủ.
2.3.2 )Singapore :
Đất nước giàu có và có thu nhập cao, việc giảm bớt nghèo khổ, chênh lệch thu
nhập lại có những điểm khác. Sự tăng trưởng kinh tế cao và liên tục trong nhiều thập
niên đã làm cho việc xoá bỏ nghèo khổ ở đây ít nan giải hơn. Một chiến lược quan trọng
nhằm làm giảm nghèo khổ là đầu tư vào con người. Trong những năm gần đây, chính
phủ Singapore đã có những cố gắng đáng kể để tăng kỹ năng và chất lượngcủa toàn bộ
lượng lao động, coi đó như là một phần của cải cách kinh tế của chính phủ. Chi phí cho
giáo dục tăng nhanh chủ yếu là tập trung cho các lĩnh vực giáo dục kỹ thuật, đào tạo
chuyên ngành. Mặt khác các chính sách được áp dụng đều khuyến khích công nhân có
tay nghề cao. ậ Singapore sự can thiệp của nhà nước vào thị trường lao động và giáo
dục có tác dụng toạ nên nguồn vốn nhân lực trong các hộ gia đình và cá nhân. Các biện
pháp trên không trực tiếp loại bỏ mức thu nhập thấp và những bất bình đẳng về của cải.
Nó chỉ giúp cho mọi cá nhân có được việc làm tốt với thu nhập xứng đáng.
2.3.3 )Thailand :
Tóm lại kinh nghiệm thực tế của các nước và lý thuyết kinh tế hiện đại đã chứng
minh rằng, giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập có mối quan hệ mật
thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Tăng trưởng kinh tế không chỉ dẫn đến
sự giàu có chung của đất nước, mà còn tạo điều kiện thuận lợi giúp các nhóm có
thu nhập thực hiện việc xoá đói giảm nghèo mặt không thể có tăng trưởng kinh tế
kéo dài nếu không áp dụng các chính sách phân phối thu nhập công bằng hơn.
Việc tăng thu nhập của đông đảo quần chúng nhân dân sẽ dẫn đến mở rộng thị
trường tiêu thụ nhiều loại sản phẩm thông dụng kích sản xuất phát triển. Việc
chính phủ quan tâm đến giáo dục y tế và các dịch vụ xã hội khác có tác dụng
nâng cao chất lượng lao động ổn định xã hội. Tất cả những điều này đều rất quan
trọng cho quá trình phát triển sản xuất tiếp theo. Đó là những kinh nghiệm thực
tế hết sức quý báu đòi hỏi đảng và nhà nước ta phải biết chắc lọc và áp dụng vào
nền kinh tế nước nhà một cách linh hoạt.
Chương II: Thực trạng quan hệ phân phối và một số giải pháp cơ bản nhằm
hoàn thiện quan hệ phân phối ở nước ta trong thời gian tới.
I/ Thực trạng phân phối theo lao động ở Việt Nam .
1)Nhìn lại quá khứ- phân phối theo lao động trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập
trung.
Trong thời kì kế hoạch hoá tập trung phân phối theo lao độngở Việt Nam đã có
rất nhiều điểm yếu kém thể hiện tư tưởng nóng vội của Đảng ta muốn nhanh chóng đạt
được nền sản xuất của chủ nghĩa xã hội mà Các Mác đã nêu. Nhìn nhận một cách khách
quan cho ta thấy. Đảng và nhà nước đã xuất phát từ những nguyện vọng chính đáng, tất
cả vì nhân dân phục vụ nhưng Đảng ta đã vận dụng tư tưởng của Mác một cách quá
máy móc. Xây dựng quan hệ sản xuất trước khi xây dựng lực lượng sản xuất- trong điều
kiện đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh tàn phá lực lượng sản xuất còn nghèo nàn lạc
Mác đưa ra Đảng và nhà nước ta đã dần khắc phục những điểm yếu đó từng bước cải tổ
nền kinh tế theo quan điểm của Mác nhưng thích ứng hơn với kinh tế thị trường. Đó là
việc làm cần thiết cứu nguy cho nền kinh tế thoát khỏi tình trạng của kế hoạch hoá tập
trung.
Trong nền kinh tế mở hiện nay chúng ta thiết lập nhiều quan hệ sản xuất mới
nhưng vẫn lấy kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể làm chủ đạo phát triển kinh tế nhiều
thành phần để tận dụng được thế mạnh của từng thành phần kinh tế đó. Do sự đa dạng
đó dẫn đến thiết lập các quan hệ phân phối theo lao động có nhiều điểm khác so với thời
kì kế hoạch hoá tập trung. Nhà nước cho phép sự hoạt động của nhiều thành phần kinh
tế tạo ra yếu tố cạnh tranh. Người lao động ngày nay có thể tự do tìm cho mình một
công việc phù hợp với khả năng và trình độ của mình.Quan hệ phân phối trong thời kì
này công bằng hơn đối với người lao động. Người làm nhiều thì hưởng nhiểu , người
làm ít thì hưởng ít ngươì không làm thì không hưởng. Sự công bằng trong phân phối là
yếu tố kích ứng sự nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn , văn hoá …không những
của những người lao động hiện thời mà của mọi lớp người trong xã hội. Bởi vì xuất phát
từ lợi ích cá nhân của mình khi càng ngày sự phân phối càng công bằng hơn. Nền sản
xuất ngày càng có trình độ khoa học kĩ thuật cao hơn đòi hỏi trình độ tay nghề của
người lao động ngày một cao hơn, nếu họ không tự thân vận động , không bắt kịp với sự
thay đổi đó thì chính bản thân họ sẽ bị nền sản xuất loại trừ, xã hội loại trừ. Khi trình độ
tay nghề của người lao động được nâng lên kết quả dĩ nhiên là họ sẽ được nền sản xuất
chấp nhận và thu nhập của họ ngày càng cao, thu nhập đó là thành quả lao động chính
đáng với trình độ của họ và nó sẽ làm cho mức sống của họ ngày càng cao. Đó cũng
chính là mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế nước ta hiện nay.
Tuy nhiên không phải trong giai đoạn hiện nay sự bất công trongphân phối theo
lao động đã được dỡ bỏ hoàn toàn. Nền kinh tế thị trường hiện nay luôn có những mặt
trái của nó và chúng ta có thể nhìn nhận thấy nó ngay trong vấn đề phân phối.
Sự đa dạng hoá về hình thức sở hữu có mặt tích cực nhưng cũng có mặt tiêu cực
trước pháp luật kinh tế quốc doanh cũng không còn là một hệ thống kinh tế độc quyền
như xưa, tuy thế mạnh nắm trong tay lực lượng vật chất kĩ thuật quốc gia to lớn. Nhưng
chúng ta thấy rằng trong giai đoạn hiện nay kinh tế nhà nước vẫn chưa phát huy được
sức mạnh của nó và chưa thể hiện được vai trò trụ cột trong nền kinh tế nhiều thành
phần này.Trong khi đó kinh tế tư nhân tư bản, kinh tế cá thể có ưu thế nhiều hơn về đầu
tư về trang thiết bị đang thích ứng nhanh nhạy với cơ chế thị trường và đang đạt được
những hiệu quả kinh tế rất khả thi. Điều đó đòi hỏi nhà nước phải có những biện pháp
tích cực cải tổ nền kinh tế hơn nữa trong thời gian tới cụ thể :
Một là: cần phải đẩy mạnh phát triển kinh tế quốc doanh, tập thể vững mạnh cổ phần
hoá rộng rãi các xí nghiệp quốc doanh đồng thời ban bố luật phá sản đối với các xí
nghiệp làm ăn thua lỗ
Hai là ta cần thành phần kinh tế quốc doanh mạnh làm cơ sở kinh tế – xã hội để thực
hiện nguyên tắc phân phối theo lao động đồng thời với việc thu hẹp phạm vi tương đối
số lao động nhân viên hưởng biên chế trong khu vực kinh tế nhà nước để tiết kiệm ngân
sách nhà nước, tiến hành các biện pháp thi biên chế công chức để tạo ra sự phấn đấu
tránh tư tưởng trì trệ của cán bộ công nhân viên nhà nước.
Thứ ba là ta cần các thành phần kinh tế quốc doanh làm cơ sở tạo lập một cơ sở hạ
tầng định hướng XHCN. Không có một cơ sở hạ tầng như thế, thì cũng không có một
nhà nước mang bản chất vô sản của dân, do dân và vì dân được. Trong nền kinh tế tập
trung mối quan hệ này tỏ rõ tính đồng nhất tương quan phù hợp sự ăn khớp nhịp nhàng.
Trong cơ chế thị trường sự biến động trong cơ cấu thành phần sự đa dạng phức tạp và
xu thể tăng của khu vực tư nhân , cá thể, tư bản tác động trực tiếp ngay vào sự ra đời
nhà nước cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Mâu thuẫn đã rõ, những
nghịch lý phát sinh còn nhiều nhưng mục tiêu xã hội chủ nghĩa thì không bao giờ được
từ bỏ.
Giải pháp cho toàn bộ vấn đề này là phải thấy rõ được mối quan hệ biện chứng kéo
cách giữa ba nhân tố (vẽ hình)
Kiến trúc thượng
Nhà nước
Cần phải đổi mới tận gốc quan niệm và phương pháp công tác cán bộ, từ khâu
đánh giá , tuyển chọn, sử dụng, bố trí cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt. Cuộc sống mới đòi
hỏi phải tập trung trong bộ máy nhà nước những con người có tài đức nhin xa thấy rộng
Kinh tế tập thị trường kinh tế
Quốc doanh thể tư nhân
dám làm, dám chịu tính toán hiệu quả, giữ nghiêm kỉ cương phép nước. Đánh giá lựa
chon cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn cơ bản. Những người có bản lĩnh chính trị kiên
định với mục tiêu và lí tưởng của Đảng có lối sống lành mạnh cần kiệm liêm chính, gần
gũi quần chúng, có năng lực và phẩm chất ngang tàm nhiệm cụ. Phải dân chủ hoá công
tác cán bộ, mới tránh được tư thù, phe cánh họ hàng gia thế, bè phái, mới đề cao được
yêu cầu tuyển chọn thận trọng công tâm.
Tất cả lại gắn với công tác đào tạo bồi dưỡng theo chức danh để tạo ra được
những con người của XHCN đúng như lời Bác đã dạy “ Muốn xây dựng chủ nghĩa xã
hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”.
Giải quyết đối với hình thức phân phối tiền lương và lợi nhuận
Suy đến cùng vấn đề phân phối thu nhập, phân phối lợi ích kinh tế cho
người lao động, tập thể và xã hội được giải quyết như thế nào cho công bằng so
với sự đóng góp về lao độngtrong quá trình tạo ra lợi ích kinh tế. Một nền kinh tế
đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển ngày càng cao hoàn toàn có điều kiện
và khả năng thực tế để giải quyết tốt các lợi ích kinh tế. Đến lượt mình, việc giải
quyết tốt các lợi ích kinh tế lại tạo ra động lực mới cho sự phát triển.
Cần đổi mới cơ chế hình thành và phân phối lợi nhuận: vê cơ chế hình
thành lợi nhuận không nên xác đinh lợi nhuận bình quân theo cấu thành giá thành
như trước đây. Nhà nước nên quy định và điều chỉnh lại tỉ lệ lợi nhuận định mức
khác nhau. Nhà nước nên nâng tỉ lệ lợi nhuận định mức, còn đối với những sản
phẩm tính giá trị lớn, sản phẩm độc quyền , nhà nước nên hạ tỉ lệ lợi nhuận định
định 235/HD-BT & những ưu nhược điểm.
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu,
bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, tất yếu
phải đổi mới các chính sách kinh tế xã hội cũ trước đây cho phù hợp với cơ cấu
và cơ chế mớicủa nền kinh tế. Trong đó chính sách tiền công và tiền lương lao
động là hết sức cần thiết, nó thể hiện quan điểm của Đảng và nhà nước ta trong
sự hình thành và phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Sau 1/9/1985 nhà nước bắt đầu có những chính sách điều chỉnh tiền
lương. Cụ thể năm 1986- 1987 –1988-1989 liên tục tiến hành điều chỉnh mức
tiền lương làm cho mức đời sống của cán bộ công nhân viên nhà nước được nâng
lên ngày một cao hơn giảm dần hình thức phân phối theo hiện vật, chế độ tem
phiếu.
Nhà nước trực tiếp quy định định mức lao động, định mức tiền lương
duyệt quĩ lương, qui định thang lương, bậc lương cụ thể cho các đơn vị sản xuất
kinh doanh phải thực hiện. Nhà nước quy định mức lương tối thiểu mà người sử
dụng lao động phải trả cho người lao động để đảm bảo mức sống tối thiểu cho
người lao động, nhà nước không quy định mức lương tối đa.
Đối với các cơi quan hành chính sự nghiệp ngoài mức lương chính được
tính theo bậc lương nhà nước còn quy định chế độ tiền thưởng đối với cá nhân
tập thể có thành tích. Đồng thời cho phép tất cả các cơ quan đơn vị thuộc lĩnh
vực này được tổ chức các hoạt động dịch vụ đời sống dưới nhiều hình thức để
tăng thêm thu nhập. Các cơ quan nghiên cưu khoa học ngoài phần ngân sách nhà
nước cấp, được trực tiếp kí kết hợp đồng với các cơ quan đơn vị khác để tăng
thêm thu nhập.
Ưu điểm: Những giải pháp mang tính thiết thực trên đã góp phần khuyến khích
những người lao động làm công ăn lương hăng say sản xuất góp phần chuyển
biến bộ mặt kinh tế đất nước. Đồng lương gắn liền với lợi ích người lao động nên
ta hiện nay. Sự nghiệp cách mạng trong điều kiện đổi mới đã đặt con người vào
vị trí trung tâm. Họ có thể phát huy hết tiềm năng sáng tạo của mình, khi lợi ích
kinh tế của họ được đảm bảo trước hết là tiền lương và nói rộng hơn là thu nhập.
Chính vì vậy, để phát huy tối đa khả năng sáng tạo của nhân tố con người trong
nền kinh tế tất yếu và trước hết phải giải quyết vấn đề tiền lương với tư cách là
một trong những hình thức phân phối thu nhập ở nước ta hiện nay.
1.2 Những giải pháp cơ bản nhằm giải quyết vấn đề tiền lương nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Đối với những người làm công ăn lương thì thu nhập từ đồng lương phải là
nguờn thu nhập chính để nuôi sống họ, từ đó họ có thể hoàn toàn yên tâm say mê
với nghề nghiệp. Vì vậy, giải quyết vấn đề tiền lương sẽ có tác dụng kích thích
sự phát triển, ổn định và cải thiện đời sống cho người lao động, trên cơ sở đó
nâng cao mức sống trên cho toàn xã hội.
Chúng ta phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách tiền lương
không chỉ trong khu vực kinh tế nhà nước mà cả trong kinh tế ngoài nhà nước.
Phải làm cho tiền lương thực sự trở thành giá cả của sức lao động. ở nước
ta hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường số lượng
lao động ngày càng được trưng dụng nhiều hơn với các ngành nghề đa dạng.
Người lao động có quyền tự do chọn lựa cho mình công việc, nơi làm việc
phù hợp.Nhưng dù làm việc gì, ở đâu thì chế độ tiền lương phải thực sự phản
ánh được giá trị sức lao động. Mức lương cho người lao động phải phản ánh