Thực trạng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Tĩnh - Pdf 12

Chuyên đÒ luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, đầu tư nước ngoài trở thành một xu hướng
mạnh đối với các nước phát triển trên thế giới. Đối với các nước chậm phát triển và
đang phát triển thì vốn và công nghệ là chìa khóa, là điều kiện hàng đầu để thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên nhiều quốc gia đã
sớm nắm bắt và tận dụng cơ hội này để phát triển.
Đối với Việt Nam, trong điều kiện chuyển dịch từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
sang kinh tế thị trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao và để đưa đất nước phát
triển nhanh, Đảng ta khẳng định “Phát huy cao nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực
bên ngoài”.
Hà Tĩnh là một tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp, bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Trong
những năm qua, cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh đã quyết tâm đưa tỉnh Hà Tĩnh
phát triển kinh tế, dần dần thoát khỏi tỉnh nghèo. Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh năm 2005 đã xác
định mục tiêu: “Phát huy thế và lực hiện có, khai thác có hiệu quả các công trình Kinh tế - Xã hội đã
được xây dựng; tận dụng mọi nguồn lực cho đầu tư sản xuất, phát triển kết cấu hạ tầng, thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, trọng tâm là
công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, tạo nhiều sản phẩm có giá trị, có chất lượng và sức
cạnh tranh cao, nhằm tạo tiền đề vững tin đưa Hà Tĩnh ra khỏi tỉnh nghèo vào thời kỳ 2006-2010”.
Để góp phần vào công cuộc đổi mới phát triển kinh tế của tỉnh nhà, là một người con được sinh ra
và lớn lên trên mảnh đất xứ Nghệ, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Tĩnh”.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - Thạc sĩ Lê Thị Mỹ Ngọc và các cô chú,
anh chị trong Phòng đầu tư nước ngoài, Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Tĩnh đã đóng góp
ý kiến, chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi để đề tài này được hoàn thành.

Sinh viên: Nguyễn TiÕn Huy
1
Chuyên đÒ luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ

Theo cách phân chia của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp được
thực hiện dưới các dạng sau:
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thỏa
thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư,
trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân
chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh
ký. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thỏa thuận và được cơ quan có
thẩm quyền của nước nhận đầu tư chuẩn y.
Doanh nghiệp liên doanh
Do các bên nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng
hưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành
lập theo hình thức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo luật pháp nước nhận đầu
tư. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh
trong phạm vi phần vốn của mình trong vốn pháp định. Tỷ lệ góp vốn của bên nước
ngoài hoặc các bên nước ngoài do các bên liên doanh thỏa thuận. Theo luật đầu tư
nước ngoài của Việt Nam, vốn góp của bên nước ngoài không thấp hơn 30% vốn
pháp định của doanh nghiệp liên doanh và trong quá trình hoạt động không được giảm
vốn pháp định.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Sinh viên: Nguyễn TiÕn Huy
3
Chuyên đÒ luận văn tốt nghiệp
Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân
người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và
tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài được thành lập theo hình thức công ty TNHH có tư cách pháp nhân theo luật
pháp nước chủ nhà.

lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế. Đây là nguyên tắc chung cho cả lý
thuyết thương mại và di chuyển các nguồn lực sản xuất quốc tế. Mặt khác, các quan
điểm lý thuyết cũng cho rằng đầu tư nước ngoài có vai trò to lớn đối với sự phát triển
của nền kinh tế thế giới và các nước tham gia đầu tư.
Đầu tư nước ngoài ra đời do việc mở rộng thị trường ra nước ngoài để khai thác lợi
thế về công nghệ, kĩ thuật, quản lý của các nước đi đầu tư mà các nước nhận đầu tư
chưa có hoặc còn kém phát triển. Hoặc có thể giải thích vì các nước kém phát triển
thường dùng hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch, làm tăng giá nhập khẩu nên các
công ty chuyển sản xuất ra nước ngoài.
Sự hình thành đầu tư nước ngoài bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau:
Một là, do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển lượng sản xuất,
kết quả làm cho chi phí sản xuất hàng hóa giữa các nước không giống nhau, chênh
lệch nhau về giá cả hàng hóa, sức lao động, tài nguyên, vốn, khoa học kỹ thuật, vị trí
địa lý... Do vậy, tiến hành đầu tư ra nước ngoài cho phép tận dụng lợi thế so sánh ở
mỗi nước để giảm chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển....
Hai là, Ở các nước công nghiệp phát triển, ty suất lợi nhuận có xu hướng giảm
dần và kèm theo là hiện tuợng thừa “tương đối” tư bản ở trong nước nên các nước này
đầu tư ra nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chính vì vậy họ trở thành
nguồn cung cấp vốn chính cho nền kinh tế toàn thế giới.

Sinh viên: Nguyễn TiÕn Huy
5
Chuyên đÒ luận văn tốt nghiệp
Ba là, sự quốc tế hóa kinh tế toàn cầu gia tăng dẫn đến sự hợp tác phân công lao
động khu vực và quốc tế phát triển theo hương mới. Chính điều này đã đòi hỏi ở mỗi
nước phải không ngừng đầu tư và phát triển để theo kịp trình độ của khu vực và thế
giới. Do đó, nhu cầu vốn là rất lớn nhưng lại cũng khan hiếm đối với những nước kém
phát triển. Đó chính là động lực để kích thích đầu tư ra nước ngoài.
Bốn là, đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích ràng buộc về chính trị và kinh tế.
Năm là, tình hình bất ổn định và an ninh quốc phòng cũng là nguyên nhân khiến

triển mà cũng đầu tư sang các nước khác, mặc dù vẫn thiếu vốn cho sự phát triển kinh
tế - xã hội trong nước. Nguồn gốc sâu xa của xu thế trên đây là do sự tác động đồng
thời của bản thân hoạt động đầu tư đơi với cả nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu
tư.
1.4.1 Đối với nước nhận đầu tư
FDI có tác động hai mặt tời nền kinh tế của cả nước nhận đầu tư và nước đi đầu
tư. Đối với các nước đang phát triển, để phát triển kinh tế - xã hội thì phải đương đầu
với sự thiếu thốn gay gắt các thứ cần thiết cho sự phát triển. Còn đối với các nước
phát triển thì mặc dù họ thu hút FDI không phải do thiếu vốn đầu tư nhưng khi tiếp
nhận FDI, các nước này cũng thu được những lợi ích nhất định. Chúng ta cùng xem
xét những lợi ích và ảnh hưởng tiêu cực của FDI đối với nước nhận đầu tư.
1.4.1.1 Lợi ích của FDI đối với nước nhận đầu tư
FDI đem đến cho các nước nhận đầu tư những nguồn nhân lực bổ sung quan trọng,
trong đó phải kể đến ba nguồn lực cơ bản nhất là vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản
lý.

Sinh viên: Nguyễn TiÕn Huy
7
Chuyên đÒ luận văn tốt nghiệp
- Về vốn, đối với các nước đang phát triển thì vốn FDI có vai trò rất quan trọng, nó
được coi là một “cú huých” giúp các nước này thoát dần ra khỏi “vòng luẩn quẩn của
sự nghèo đói”. Các nước này trên còn đường phát triển của mình vấp phải một trở
ngại đó là thiếu vốn đầu tư do tích lũy nội bộ của nền kinh tế rất thấp. Nhưng đổi lại,
tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực giá rẻ là những thứ sẵn có ở các nước đang
phát triển, cũng là những thứ mà các nhà đầu tư nước ngoài đang cần.
-Về công nghệ, trong hoạt động FDI, nhà đầu tư không chỉ đầu tư vốn bằng tiền mà
còn chuyển cả máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ vào nước nhận đầu tư.
-Về kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài được cung cấp
thông qua FDI cũng tạo ra những lợi ích quan trọng đối với nước nhận đầu tư. Những
lợi ích gián tiếp này xuất hiện khi những nhân viên địa phương, nững người đào tạo

các doanh nghiệp trong nước. Các công ty đa quốc gia nước ngoài có khả năng rút
tiền ở bất cứ đâu để tài trợ cho chi phí sản xuất ở nước nhận đầu tư. Vì thế nó có thể
độc chiếm thị trường nước nhận đầu tư bằng cách đặt giá thấp hơn các doanh nghiệp
trong nước và đẩy các doanh nghiệp trong nước vào tình trạng phá sản. Một khi thị
trường bị độc quyền hóa, công ty đa quốc gia nước ngoài sẽ tăng giá cao hơn mức giá
phổ biến trên thị trường cạnh tranh, độc quyền hóa sẽ gây hại đối với nền kinh tế nước
nhận đầu tư. Điều này đặc biệt đúng ở các nước có rất ít doanh nghiệp có khả năng
cạnh tranh một cách hiệu quả với các công ty nước ngoài thường là các nước đang
phát triển. Nó khó xảy ra hơn đối với các nước công nghiệp phát triển.
Những tác động tới độc lập chủ quyền quốc gia:
Rất nhiều chính phủ nước nhận đầu tư lo ngại ràng FDI đi kèm với những thiệt
hại về độc lập kinh tế. Vấn đề là những quyết định cơ bản có thể gây ảnh hưởng tới
nền kinh tế nước nhận đầu tư sẽ do công ty mẹ đưa ra, các công ty này không có một

Sinh viên: Nguyễn TiÕn Huy
9
Chuyên đÒ luận văn tốt nghiệp
cam kết thực sự nào với nước nhận đầu tư. Do đó, chính phủ nước nhận đầu tư không
có khả năng kiểm soát thực sự. Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế học bác bỏ lý lẽ vô
căn cứ và không hợp lý đó.Trong một thế giới nơi mà các doanh nghiệp từ các quốc
gia phát triển đang đầu tư ngày càng nhiều hơn vào thị trường của nhau không thể có
chuyện một nước có thể xâm hại nước khác mà không làm tổn thương chính họ.

Những tác động tiêu cực đối với chuyển giao công nghệ:
Có ý kiến cho rằng, các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành chuyển giao công
nghệ chậm hoặc thực hiện việc chuyển giao công nghệ lạc hậu, do đó cần phải xem
xét kỹ và có những đánh giá khách quan về vấn đề này:
Thứ nhất, mục đích cuối cùng của các nhà đầu tư nước ngoài là thu lợi nhuận,
do vậy họ muốn tận dụng và khai thác tối đa những lợi thế về công nghệ và sở hữu
công nghệ của mình. Những công nghệ còn khả năng khai thác có hiệu quả trong

nhờ đó mà tiếp tục duy trì được việc sử dụng các sản phẩm này, tạo thêm lợi nhuận
cho nhà đầu tư.
Bên cạnh đó FDI còn giúp các chủ đầu tư phân tán được rủi ro khi tình hình kinh
tế, chính trị trong nước bất ổn định. FDI giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước
theo hướng hiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động khu vực và quốc
tế mới.
1.4.2.2 Những tác động tiêu cực của nước đi đầu tư
Đối với việc hiệu ứng việc làm, vấn đề nghiêm trọng nhất nảy sinh khi FDI
được xem là hình thức thay thế sản xuất trong nước. Một hậu quả hiển nhiên là FDI sẽ
làm giảm số lượng việc làm trong nước. Nếu thị trường lao động ở nước đi đầu tư có

Sinh viên: Nguyễn TiÕn Huy
11
Chuyên đÒ luận văn tốt nghiệp
một tỷ lệ thất nghiệp thấp, điều này có thể không là vấn đề lớn. Tuy nhiên, nước đi
đầu tư phải đối mặt với nạn thất nghiệp, mọi chuyện sẽ khác hoàn toàn.
Cán cân thanh toán của nước đi đầu tư cũng bị ảnh hưởng nều FDI thay thế xuất
khẩu trực tiếp hoặc mục đích hoạt động là đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước từ
những nước có chi phí sản xuất thấp hơn.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở TỈNH HÀ
TĨNH TRONG THỜI KÌ 1993-2005
2.1 Khái quát về tình hình FDI tại Việt Nam trong thời gian qua
Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong hơn 17 năm qua, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã
trải qua 3 giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất từ năm 1988 đã tăng liên tục và đạt đỉnh cao nhất vào năm
1996; trong 9 năm đó đã có 1.998 dự án với số vốn đăng ký đạt 30.395 triệu USD,
chiếm 48,2% tổng vốn đăng ký trong hơn 17 năm qua, bình quân 1 năm đạt 3.377,2

2 CN nhẹ 1.633 8.206,71 3.189,37
3 Xây dựng 304 3.942,21 2.157,90
4 CN thực phẩm 257 3.083,78 1.882,98
5 CN dầu khí 27 1.891,19 4.555,11
6 Nông-Lâm nghiệp 649 3.367,28 1.678,27
7 Thuỷ sản 110 303,47 152,22
8 Xây dựng văn phòng, căn hộ 110 3.884,11 1.692,61
9 GTVT-Bưu điện 158 2.907,51 716,68
10 Khách sạn-Du lịch 171 2.849,07 2.121,81
11 XD khu đô thị mới 4 2.551,67 51,29
12 Dịch vụ khác 416 1.112,82 350,99
13 Văn hóa-Ytế-Giáo dục 201 1.103,26 273,05

Sinh viên: Nguyễn TiÕn Huy
13
Chuyên đÒ luận văn tốt nghiệp
14 XD hạ tầng KCX-KCN 20 986,10 521,37
15 Tài chính-Ngân hàng 53 702,55 611,93
(Tin từ Báo ĐT, TBKT , www.vneconomy.com.vn các ngày 2-4/11)

Phân theo vùng và lãnh thổ: Tính chung từ 1988 đến hết tháng 10 năm 2005, đã có
17 địa bàn đạt trên 500 triệu USD, trong đó có 9 địa bàn đạt trên 1 tỷ USD, đó là:
Tp.HCM đạt 15.137,2 triệu USD; Hà Nội 10.841,4 triệu USD; Đồng Nai 8.712,4 triệu
USD; Bình Dương 4.784,4 triệu USD; Bà Rịa - Vũng Tàu 3.802,8 triệu USD; Hải
Phòng 2.346,9 triệu USD; Quảng Ngãi 1.350,1 triệu USD;Quảng Ninh 1.205,1 triệu
USD; Đà Nẵng 1.017,7 triệu USD
Những địa bàn đạt trên 500 triệu USD là: Lâm Đồng 935,5 triệu, Vĩnh Phúc 765 triệu,
Long An 752,8 triệu, Thanh Hoá 719,7 triệu, Hải Dương 657,6 triệu, Hà Tây 642,3
triệu; Khánh Hoà 538,2 triệu, Kiên Giang; 501 triệu.
Chia theo vùng thì lớn nhất là Đông Nam Bộ 33.172,5 triệu USD, tiếp đến là đồng

2 Singapore 383 7.508,93 4.180,78
3 Hàn Quốc 1.004 5.391,92 2.504,74
4 Hồng Kông 351 3.683,71 1.940,50
5 B.V.Islands 243 2.623,56 1.267,26
6 Pháp 162 2.136,86 1.165,36
7 Hà lan 60 1.886,33 1.784,53
8 Thái Lan 125 1.474,08 716,82
9 Malaysia 175 1.471,38 843,51
10 Hoa Kỳ 245 1.398,48
(Tin từ Báo ĐT, TBKT , www.vneconomy.com.vn các ngày 2-4/11)
Doanh thu của khu vực có vốn FDI đạt 21 tỷ USD, giá trị xuất khẩu đạt 11130 triệu
USD (chưa kể dầu thô), chiếm 34,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Giá trị
nhập khẩu là 11082 triệu USD. Nộp ngân sách nhà nước 1,129 tỷ USD tăng 41% so
với năm 2004, tạo việc làm cho hơn 800 nghìn lao động. Với sự gia tăng vốn, doanh
thu, xuất khẩu, nộp ngân sách và tạo việc làm, FDI với cơ cấu đầu tư của nó đã có tác
động tích cực tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện
đại hoá, góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, làm tăng kim ngạch xuất
khẩu, góp phần duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2001-2005
Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005

Sinh viên: Nguyễn TiÕn Huy
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status