Kỹ thuật nuôi Artemia - Pdf 12

Kỹ thuật nuôi Artemia
Artemia là loài giáp xác nhỏ chỉ sống ở nước lợ mặn và chỉ sinh sản trứng ở
nước có độ mặn cao, vì vậy mà chỉ có ở ruộng muôi mới đủ tiêu chuẩn về độ
mặn cho artemia đẻ trứng. Artemia sẽ đẽ con nếu độ mặn thấp dưới 120
phần nghìn.

III. KỸ THUẬT NUÔI ARTEMIA TRÊN RUỘNG MUỐI
1. Thời vụ sản xuất Artemia?
Trùng hợp với thời vụ sản xuất muối khác nhau ở từng địa phương, chẳng
hạng ở khu vực Vĩnh châu Bạc liêu mùa vụ sản xuất Artemia bắt đầu từ cuối
tháng 11 và kết thúc vào đầu tháng 6 dương lịch hàng năm, trong khi quá
trình này kéo dài từ đầu tháng 1 và kết thúc vào cuối tháng 8 ở khu vực Cam
ranh.
Tuy nhiên, mùa vụ có thể kéo dài nếu nước mặn được chuẩn bị sớm và độ
mặn trong ao được duy trì ở các tháng đầu của mùa mưa.
2. Xây dựng ao nuôi Artemia:
- Chọn điểm: Ngoài các yêu cầu về kỹ thuật trong lựa chọn địa điểm cấy thả,
trước khi xây dựng kế hoạch cần lưu ý các điểm sau:
+ gần nguồn nước biển (khắc phục tình trạng thiếu nước nhất là trong mùa
khô)
+ thuận lợi trong giao thông (để vận chuyển nguyên liệu, phân bón…)
+ an ninh (tránh trộm cắp, mất mát)
- Diện tích: Để dể quản lý, diện tích ao nuôi khoảng 0.5 đến 1 ha là thích
hợp nhất. Ao thường có dạng hình chử nhật với chiều dài gấp 3 đến 4 lần
chiều rộng.
- Hướng ao: Trục dài hoặc đường chéo của ao nằm xuôi theo hướng gió
chính của địa bàn, để giúp cho việc thu trứng sau này được thuận lợi, vì
trứng nổi trên mặt nước sẻ được gió thổi tấp vào bờ cuối gió.

cần mực nước ngập trảng (đáy ao) vài phân (một đến hai lóng tai) là có thể
xuống giống, tuy nhiên cũng cần tính toán sao cho lúc cá thể đạt cở trưởng
thành mực nước phải đủ sâu để Artemia lẩn tránh sự săn bắt của chim.
Mặc dù Artemia có thể sống ở độ muối thấp, ta không nên cấy thả Artemia ở
độ muối dưới 80 phần ngàn (8 chữ), vì lúc này còn hiện diện rất nhiều:
Fabrea, copepod, tảo độc…hoặc tôm cá dữ làm hạn chế tăng trưởng hoặc
tiêu diệt hoàn toàn số Artemia mới thả.
- Phòng ngừa địch hại: Địch hại thường gặp và cách phòng ngừa
Địch hại
Cách phòng ngừa
+ Ao chưa thả giống
.Cá các loại
Rút cạn nước ao, dùng vôi hoặc thuốc cá
.Lab-lab, rong tạp các loại
Dọn ao, bừa trục, phơi nền đáy
+ Ao đã xuống giống
.Fabrea,copepod, tảo độc
Cấp nước có độ muối cao hơn 80ppt
Cá các loại
Dùng lưới chài để giăng bắt hoặc sang ao để gạn cá tạp
Lab-lab, rong tạp các loại
Bừa trục, dọn đáy ao thường xuyên nếu cần thì tháo cạn cải tạo lại
Chim
Dùng lưới gió, bù nhìn, pháo hoặc có người canh giữ trực tiếp
Chuẩn bị thức ăn cho ao nuôi Artemia:
Bước này chỉ cần thiết cho những ao nghèo tảo thức ăn (nước ao không màu
hoặc màu nhạt), để gây màu thường dùng các loại phân vô cơ (urea, lân…)
hoặc hữu cơ (phân heo, phân gà, phân bò, phân dê, phân cút…) với liều
lượng
+ Phân hữu cơ: 500 đến 1000 kg/ha

giờ) hoặc chiều tối (17 đến 19 giờ), điều này cần nắm để tính toán kế hoạch
ấp nở cho hợp lý.
+ Mật độ thả: Thường mật độ thả ở ao đất được đề nghị là 50 cá thể cho mỗi
lít, tuy nhiên theo quan sát thực tế nếu ao nuôi được cấy thả ở mật độ lớn
hơn 100 cá thể trên lít thì sau 2 tuần ao nuôi bắt đầu cho trứng, trong khi ở
ao có mật độ thưa, quần thể phải trải qua giai đoạn tăng gia mật độ trước khi
tham gia cho trứng.
+ Vận chuyển giống: Nếu nơi cấy thả khá xa (thời gian vận chuyển từ một
giờ trở lên) nơi ấp nở hoặc ao cung cấp giống, giống nở cần được xan thưa,
đóng oxy và hạ nhiệt độ của môi trường vận chuyển để giãm thấp tỉ lệ hao
hụt.
+ Nơi thả giống: Thích hợp nhất là bờ ao phía trên hướng gió, hoặc đầu
nguồn nước cấp nhằm đãm bảo cho giống được phân bố đều trong ao.
+ Nơi thu mẫu để đánh giá: Đối với giống lớn thì dể dàng quan sát sự tồn tại
của chúng trong ao vừa cấy thả, ngược lại nếu cấy giống ấp nở thì rất khó
phát hiện chúng trong hai ba ngày đầu; tuy nhiên chúng có tập tính phân bố
ở nơi trên hướng gió, hoặc góc bờ. Dùng vợt bằng lưới mịn để thu và quan
sát mẫu.
+ Quan sát mẫu: Ấu thể Artemia có màu trắng sữa hoặc trắng hồng, chúng
bơi lội theo đường zig-zăg nhưng đường di chuyển ngắn hơn của Copepod,
có tập tính hướng quang dương (tập trung nơi có nhiều ánh sáng).
+ Những dấu hiệu xấu cho ao nuôi: Với sự xuất hiện riêng lẻ hoặc kết hợp
của các yếu tố sau đây: fabrea, copepod, cá dữ, lab-lab, độ trong thấp, nhiệt
độ cao, chim xuất hiện…các biện pháp khắc phục như đã nêu trên.
6. Những biện pháp chính trong quản lý ao nuôi:
+ Cấp – tháo nước: Nhằm bù đắp sự thất thoát cột nước do thẩm lậu hoặc
bốc hơi, mặt khác để cung cấp tảo thức ăn (nước xanh), lượng nước cấp vào
ao phải thoả mãn việc duy trì độ muối (90 đến 120 phần ngàn) và độ đục (25
đến 35 cm) trong phạm vi tối hảo.
Tương tự, để đãm bảo chất lượng nước trong ao, thường thì sau một tháng

+ Gia cố công trình: Hàng ngày bên cạnh các hoạt động nêu trên, trong quản
lý ao cần phải thường xuyên chăm sóc bờ bọng tránh rò gỉ thẩm lậu, kiểm tra
lưới lọc để tránh sự xâm nhập của cá dữ…
7. Thu Hoạch và sơ chế sản phẩm
Tuỳ theo yêu cầu mà sản phẩm thu hoạch từ ao Artemia có thể là trứng bào
xác hoặc sinh khối.
+ Trứng bào xác (cyst): Tuỳ theo cách quản lý ao và tình hình phát triển của
quần thể, thường sau 2 tuần hoặc hơn tính từ lúc xuống giống, con cái bắt
đầu mang trứng: trứng trắng (đẻ con), hoặc trứng nâu (trứng bào xác). Sau
vài ngày ở ao có con cái mang trứng bào xác, ta có thể quan sát trứng nổi
trên mặt của góc ao cuối gió có màu vàng sậm đến vàng nâu.
Dùng vợt lưới mịn hoặc ca để vớt trứng, do trứng có lẩn rác bẩn nên cần
tách trứng bằng các lưới có các cở khác nhau:
- Lưới I: 1000 um (1mm)
- Lưới II: 400 um (0.4mm)
- Lưới III: 100 – 150 um (0.1-0.15mm)
Sau đó rữa sạch lại nhiều lần bằng nước trong ao, đoạn ngâm trứng trong
nước muối bảo hoà (300 ppt = 25 đến 30 chữ), hàng ngày nên đảo trộn trứng
và rút bỏ cặn dưới đáy vật chứa. Định kỳ hàng tuần nên chuyển trứng cho
sấy khô và bảo quản.
+ Sinh khối (biomass): Được dùng làm thức ăn phổ biến trong các trại giống
và trại ương tôm cá. Để duy trì quần thể Artemia, một phần sinh khối trong
ao nuôi được thu hoạch theo định kỳ (hàng tuần hoặc hàng tháng).
Sinh khối được thu bằng cách kéo lưới trực tiếp trong ao nuôi hoặc tháo một
phần nước trong ao nuôi và dùng lưới để chặn sinh khối lại.
Trong sử dụng có thể dùng sinh khối tươi trực tiếp hoặc chế biến hay đông
lạnh để dùng dần về sau.
8. Một số hiện tượng thường gặp trong ao nuôi và cách phòng ngừa:
+ Địch hại: cá, tôm, copepoda, chim (xem thêm phần địch hại trong phần
chuẩn bị ao)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status