LUẬN VĂN:
Vốn và các biện pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Mở đầu
Bước sang thiên niên kỷ mới, trong xu thế luôn vận động và đi lên không ngừng
của toàn xã hội, với cơ chế thị trường rộng mở có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN mà Đảng và Nhà nước ta lựa chọn, nền kinh tế nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu khởi sắc đáng mừng.
Trong cơ chế thị trường, để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, giúp doanh nghiệp
tế tại Công ty thương mại công nghệ phẩm Hà Tây và đặc biệt được sự giúp đỡ tận
tình của thầy giáo – TS. Nghiêm Sĩ Thương cùng với các cán bộ công nhân viên trong
công ty thương mại công nghệ phẩm Hà Tây, tôi đã hoàn thành được chuyên đề thực
tập tốt nghiệp này.
Do thời gian, và trình độ có hạn, nhất là tài liệu tham khảo hạn hẹp nên không
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiền của các thầy,
cô giáo để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Phần I
Lý luận chung về vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp thương mại.
I. Khái niệm và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh thương mại.
1. Khái niệm.
Quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên các lĩnh vực sản xuất,
lưu thông , dịch vụ thể hiện sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất
sản xuất kinh doanh, sự khác biệt đó phần lớn là do đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng
doanh nghiệp quyết định. Cho dù sự khác biệt này thể hiện đến đâu chăng nữa thì theo
ngôn ngữ kinh tế học người ta thường gọi nó là đầu vào và đầu ra.
Một đầu vào hay một nhân tố sản xuất là một hàng hoá hay một dịch vụ mà các
doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất của họ. Các đầu vào được kết hợp với
nhau để sản xuất ra các đầu ra, còn đầu ra bao gồm hàng loạt các hàng hoá hay dịch vụ
có ích được tiêu dùng hay được sử dụng trong quá trình sản xuất khác.
Để có các yếu tố đầu vào, trước hết nhà doanh nghiệp phải huy động trong tay
mình được một lượng tiền nhất định. Số tiền này được được dùng vào việc xây dựng
nhà xưởng, nhà kho, mua sắm các thiết bị, phương tiện và trả lương cho công nhân
viên. Do có sự tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao
động, hàng hoá dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường. Để đảm bảo cho sự tồn
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố về giá trị. Nó chỉ phát
huy tác dụng khi bảo toàn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nếu vốn
không được bảo toàn và tăng lên trong mỗi chu kỳ kinh doanh thì đồng vốn đó đã bị
thiệt hại, hay nói cách khác đó là hiện tượng mất vốn. Nếu sự thiệt hại này là lớn sẽ
dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và lâm vào tình trạng bị phá sản. Đây
chính là nguyên nhân của việc sử dụng một cách lãng phí, không có hiệu quả các đồng
vốn huy động được.
II. phân loại và đặc điểm của nguồn vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp
thương mại.
1. Phân loại vốn kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh ngiệp thương mại có thể được xem xét, phân loại
theo các tiêu thức và góc độ sau:
- Theo quy định pháp luật chia thành:
+ Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp luật
quy định đối với từng ngành, nghề, và từng loại hình sở hữu doanh nghiệp. Dưới mức
vốn pháp định thì không thể đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp.
+ Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của doanh
nghiệp. Tuỳ theo ngành , nghề và loại hình doanh nghiệp nhưng vốn điều lệ không
được nhỏ hơn vốn pháp định
- Theo góc độ hình thành vốn kinh doanh, có:
+ Vốn đầu tư ban đầu: Là số vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là số vốn
cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc số vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn do nhà nước giao.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn: gồm vốn đóng góp của tất cả các thành
viên phải được đóng góp ngay khi thành lập công ty.
Đối với công ty cổ phần : Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phàn
bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần được gọi là mệnh giá cổ phiếu.
+ Vốn bổ sung: Là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà nước bổ sung
- Hiện vật: Đó là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của các doanh
nghiệp bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc và thiết bị, công cụ, thiết bị đo
lường thí nghiệm, phương tiện vận tải, bốc dỡ hàng hóa…
- Tiền tệ: Đó là giá tài sản cố định chưa khấu hao và vốn khấu hao khi chưa được sử
dụng để sản xuất tài sản cố định, là bộ phận vốn cố định đã hoàn thành vòng luân
chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Vốn của toàn bộ các loại tài sản cố định
khác nhau chính là thành phần của nó.
2.1.2. Đặc điểm của tài sản cố định.
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của tài sản cố định là chúng luôn luôn bị
hao mòn trong cả khi sử dụng lẫn khi không sử dụng. Hao mòn của tài sản cố định gắn
liền với quá trình sử dụng và sự tác động của các yếu tố tự nhiên gọi là hao mòn hữu
hình, mức hao mòn hữu hình tỷ lệ thuận với thời gian và cường độ sử dụng tài sản.
Ngoài hao mòn hữu hình tài sản cố định còn có hao mòn vô hình, đó là sự hao mòn do
giảm thuần tuý về mặt giá trị của tài sản cố định mà nguyên nhân trực tiếp của nó là do
sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật.
Một bộ phận giá trị của tài sản cố định tương ứng với mức hao mòn đó được
dịch chuyển dần dần vào giá trị sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Sau khi sản
phẩm hàng hoá được tiêu thụ số tiền khấu hao được trích lại và tích luỹ tành quỹ gọi là
quỹ khấu hao tài sản cố định. Quỹ khấu hao dùng để tái sản xuất giản đơn tài sản cố
định nên người ta thường gọi là quỹ khấu hao cơ bản.
Thời gian sử dụng tài sản cố định là tương đối dài và tiền khấu hao được trích
lập hàng năm, doanh nghiệp có thể dùng nó để mua thêm các tài sản cố định khác phục
vụ cho hoạt động kinh doanh nếu cần thiết, gọi là tái sản xuất tài sản cố định.
2.1.3. Phân loại vốn cố định.
- Theo công dụng, tài sản cố định của doanh nghiệp thương mại được chia thành:
Nhà làm việc hành chính, nhà kho, nhà cửa hàng, nhà để sửa chữa, để sản xuất
năng lượng (máy nổ hoặc máy điện), nhà để xe, phòng thí nghiệm…
+ Các công trình xây dựng và vật kiến trúc để tạo điều kiện để cần thiết cho thực hiện
sản cố định ngày càng phong phú. Điều đó chứng tỏ cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh
nghiệp ngày càng hiện đại.
Tài sản cố định giữ nguyên hình thái vật chất của nó trong thời gian dài. Tài sản
cố định chỉ tăng lên khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm. Tài sản cố định hao
mòn dần. Hao mòn có hai loại: hao mòn hữu hình (hao mòn kinh tế) và hao mòn vô
hình. Hao mòn vô hình chủ yếu do tiến bộ khoa học công nghệ mới và năng suất lao
động xã hội tăng lên quyết định. Hao mòn hữu hình phụ thuộc vào mức độ sử dụng
khẩn trương tài sản cố định và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến độ bền lâu dài của
tài sản cố định như:
+ Hình thức và chất lượng của tài sản cố định.
+ Chế độ quản lý, sử dụng tài sản cố định.
+ Chế độ bảo vệ, bảo dưỡng, sửa chữa thay thế thường xuyên, định kỳ đối với tài sản
cố định.
+ Trình độ kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm của người sử dụng và sự quan tâm của cấp
lãnh đạo.
+ Các điều kiện tự nhiên và môi trường…
Hiện nay, vốn cố định của doanh nghiệp thương mại chiếm khoảng 1/3 toàn bộ
vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của từng loại vật tư
hàng hóa và sự cần thiết đáp ứng nhu cầu khách hàng, các doanh nghiệp thương mại
có tỷ lệ vốn cố định ít nhiều khác nhau, từ 10% đến 50%… Tuy nhiên một số doanh
nghiệp tài sản cố định còn thiếu, lại quản lý sử dụng không tốt, lãng phí, có ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng và hiệu quả của kinh doanh.
Cơ cấu tài sản cố định của các doanh nghiệp thương mại thường được tính bằng
các loại, số lượng tài sản cố định và tỷ trọng của mỗi loại so với toàn bộ tài sản cố định
của doanh nghiệp. Cơ cấu đó và sự thay đổi của nó là những chỉ tiêu quan trọng nói
lên trình độ kỹ thuật và khả năng phát triển hoạt động kinh doanh của ngành lưu thông
hàng hóa. Nó phản ánh đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp và giúp cho việc
xác định phương hướng tái sản xuất mở rộng tài sản cố định.
Giá trị một loại TSCĐ
động tiền tệ lại phản ánh đúng kết quả của hoạt động kinh doanh: Kinh doanh lãi hay
lỗ, mức độ lãi, lỗ.
2.2.2. Đặc điểm của tài sản lưu động.
Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện, ở
trong các doanh nghiệp thương mại giá trị của nó được chuyển hầu hết vào hàng hoá
doanh nghiệp thu mua.
Tiếp đó hàng hoá được bán ra dưới nhiều hình thức, từ đó kết thúc vòng tuần
hoàn, hàng hoá sau khi tiêu thụ lại được chuyển sang vốn bằng tiền như điểm xuất
phát.
Trong thức tế, sự vận động của vốn lưu động không phải diễn ra một cách tuần
tự theo mô hình lý thuyết trên, mà các giai đoạn vận động của vốn lưu động được tiến
hành đan xen với nhau, trong khi một bộ phận vốn lưu động được chi cho hoạt động
thu mua hàng thì một bộ phận khác lại đang trong quá trình chuyển từ hàng hoá thành
tiền. Cứ như vậy chu kỳ kinh doanh tiếp tục lặp đi lặp lại, vốn lưu động được liên tục
tuần hoàn chu chuyển.
Trong các doanh nghiệp thương mại vốn lưu động có vai trò hết sức quan trọng,
có khi nó chiếm tới 80-90% trong tổng số vốn của doanh nghiệp vì vậy để quá trình tái
mở rộng hoạt động kinh doanh của mình đòi hỏi doanh nghiệp phải có dư vốn lưu
động để đầu tư vào các hình thái khác nhau từ đó tạo cho chúng có được mức tồn tại
hợp lý và đồng bộ.
2.2.3. Phân loại vốn lưu động.
- Theo công dụng của vốn lưu động, ta có:
+ Vốn nguyên vật liệu chính.
+ Vốn nguyên vật liệu phụ.
+ Vốn nhiên liệu.
+ Vốn tiền tệ và tài sản có quyết toán.
Vốn lưu động của đơn vị sản xuất phụ thuộc phải trải qua ba giai đoạn.
Biến tiền tệ thành dự trữ nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu, phụ tùng
s
ả
n xu
ấ
t
+
thông.
s
ả
n xu
ấ
t - Xét về mặt kế hoạch hóa, vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại được chia
thành vốn lưu động định mức và vốn lưu động không định mức.
+ Vốn lưu động định mức là vốn lưu động tối thiểu cần thiết để hoàn thành kế hoạch
lưu chuyển hàng hóa và kế hoạch sản xuất, dịch vụ phụ thuộc. Vốn lưu động định mức
gồm có vốn dự trữ hàng hóa và vốn phi hàng hóa.
Vốn dự trữ hàng hóa là số tiền dự trữ hàng hóa ở các kho, trạm, cửa hàng, trị
giá hàng hóa trên đường vận chuyển và trị giá hàng hóa thanh toán bằng chứng từ. Nó
nhằm bảo đảm lượng hàng hóa bán bình thường cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
Vốn dự trữ hàng hóa chiếm 80- 90% vốn lưu động định mức và 50- 70% trong toàn bộ
vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho mình.
3. Đặc điểm vốn kinh doanh.
- Do nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại là thực hiện lưu chuyển hàng hóa và
thực hiện các hoạt động dịch vụ, vì vậy cơ cấu và tính chất lưu chuyển của vốn khác
hẳn so với các đơn vị sản xuất. Trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp thương mại, vốn
lưu động chiếm tỷ lệ lớn hơn so với vốn cố định và lưu chuyển nhanh hơn. Vốn lưu
động chiếm 70 – 80% vốn kinh doanh, trong vốn lưu động bộ phận dữ trữ hàng hóa
chiếm tỷ lệ cao. Như vậy, đối với doanh nghiệp thương mại nói đến quản lý vốn trước
hết phải chú ý tới tổ chức điều khiển bộ phận dự trữ hàng hóa để vừa đảm bảo bán
hàng liên tục đều đặn thường xuyên cho khách hàng lại vừa tránh được ứ đọng vốn.
- Trong thành phần cơ cấu vốn cố định bộ phận tài sản cố định dùng trong kinh doanh
chiếm tỷ trọng lớn hơn. Ngày nay các doanh nghiệp thương mại thường đầu tư vốn cố
định vào xây dựng nhà làm việc, cửa hàng ở những đầu mối giao thông để tiện liên hệ
với khách hàng và những tài sản cố định như thiết bị văn phòng được chú ý đầu tư
nhằm thu hút và phục vụ khách hàng tốt hơn.
- Tuỳ từng doanh nghiệp tuỳ thuộc phương thức và lĩnh vực kinh doanh mà vốn lưu
động của doanh nghiệp thương mại sẽ trải qua các thời kỳ chu chuyển khác nhau. Ví
dụ vốn của doanh nghiệp thương mại có sản xuất gia công chế biến, khác với đơn vị
bán buôn, đơn vị chuyên bán qua kho sẽ khác với đơn vị chỉ bán hàng chuyển thẳng.
- Trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, Các doanh nghiệp thương mại thường có
nguồn vốn của chủ sở hữu nhỏ hơn so với phần vốn vay và vốn liên doanh liên kết,
tình trạng này bất lợi trong việc giảm chi phí kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường.
III. Nguồn gốc hình thành vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trước tiên doanh nghiệp cần có
vốn, vốn đầu tư ban đầu và vốn bổ sung để mở rộng sản xuất kinh doanh. Vốn kinh
doanh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Song căn cứ vào nội dung kinh tế
có thể chia làm hai nguồn hình thành cơ bản đó là:
- Nguồn vốn chủ sỡ hữu còn do tổng số tiền được tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, số này gọi là lãi lưu giữ hoặc lãi chưa phân phối.
- Ngoài ra, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch đánh giá lại tài sản, quỹ phát triển
sản xuất kinh doanh, quỹ dự trữ, chênh lệch tỷ giá, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, vốn
đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí sự nghiệp.
2. Nguồn vốn vay.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp nào
chỉ hoạt động kinh doanh bằng nguồn vốn tự có mà phải hoạt động bằng
nhiều nghuồn vốn, trong đó nguồn vốn vay chiếm tỷ lệ đáng kể.
Vốn vay có ý nghĩa quan trọng không chỉ ở khả năng tài trợ các nhu cầu bổ
sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của công ty mà còn tạo điều
kiện linh hoạt trong việc thu hẹp quy mô kinh doanh bằng việc hoàn trả các khoản nợ
đến hạn và giảm số lượng vốn vay.
Nguồn vốn vay được thực hiện dưới các phương thức chủ yếu sau:
- Tín dụng ngân hàng: là các khoản mà doanh nghiệp vay của các ngân hàng thương
mại hoặc của các tổ chức tín dụng khác. Tín dụng ngân hàng có nhiều dạng, song có
các dạng quan trọng nhất là:
+ Tín dụng ứng trước: là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín
dụng, trong đó doanh nghiệp (khách hàng) được sử dụng một mức cho vay trong một
thời hạn nhất định.
+ Thấu chi (tín dụng hạn mức) là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt được thực
hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó doanh nghiệp được phép sử dụng dư nợ
trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.
Thấu chi chỉ được áp dụng đối với doanh nghiệp (khách hàng) có uy tín và có
khả năng tài chính lành mạnh.
+ Chiết khấu thương phiếu: Là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó doanh nghiệp
chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một
số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
+ Tín dụng thuê mua: Là hình thức tín dụng trung, dài hạn được thực hiện thông qua
quá trình kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt là sử dụng vốn kinh doanh. Để đánh giá một
cách khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, cần phải xây dựng
hệ thống chỉ tiêu phù hợp gồm có chi tiêu tổng quát và chỉ tiêu chi tiết cụ thể để tính
toán. Các chỉ tiêu này phải phù hợp, phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu quả
chung:
K
ế
t qu
ả
thu đư
ợ
c
Hi
ệ
u qu
ả
kinh doanh
=
Chi phí b
Vòng quay tổng TSCĐ =
Tổng TSCĐ
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đem lại bao nhiêu
đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này biểu hiện mức tăng kết quả kinh doanh của mỗi
đơn vị giá trị TSCĐ nhưng chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế tổng hợp nhất của vốn
cố định thường được sử dụng là mức doanh lợi.
- Mức doanh lợi của vốn cố định (VCĐ).
Lợi nhuận hoặc lãi thực hiện
Mức doanh lợi của VCĐ =
VCĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh số tièn lãi hoặc số thu nhập thuần tuý trên một đồng tiền
vốn cố định hoặc số vốn cố định cần thiét để tạo ra 1 đồng lợi nhuận hoặc lãi thực
hiện. Chỉ tiêu này có thể so sánh với kỳ trước hoặc kế hoạch để đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn cố định.
- Sức hao phí TSCĐ.
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Sức hao phí TSCĐ =
Doanh thu thuần hay lợi nhuận thuần
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng doanh thu thuần hay lợi nhuận thuần có bao
nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ.
3. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Mức sinh lời của vốn lưu động.
Lợi nhuận thuần hay lãi gộp
Mức sinh lời của VLĐ =
VLĐ bình quân
Mức sinh lời của vốn lưu động biểu thị mỗi đơn vị vốn lưu động bỏ vào kinh
doanh mang lại bao nhiêu lợi nhuận.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động.
O
bq
- Số dư bình quân vốn lưu động.
- Số vốn tiết kiệm được.
Kkh - Kbc
B = * Obqkh
Kbc
Trong đó:
B - Số vốn lưu động tiết kiệm được.
K
kh
- Số vòng quay kỳ kế hoạch.
K
bc
- Số vòng quay kỳ báo cáo.
O
bqkh -
Số dư bình quân số vốn lưu động kỳ kế hoạch.
Hoặc:
( Vbc - Vkh)
B = *Mkh
T
Trong đó: V
bc
: Số vòng quay tính bằng ngày trong kỳ báo cáo.
V
kh
: Số vòng quay tính bằng ngày trong kỳ kế hoạch.
M
kh