LUẬN VĂN:
bản chất, cơ chế hoạt động của Nhà nước
tư bản hiện đại trên cơ sở thực tiễn hoạt
động của ba trung tâm kinh tế tư bản
ngày nay là Nhật, Mỹ, Au Lời mở đầu
Nền kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa từ sau chiến tranh thế giới thứ II (1951-
1971) có nhiều biến đổi so với trước chiến tranh một trong những nhân tố quan trọng gây
nên những biến đổi đó là sự điều chỉnh kinh tế của Nhà nước. Nhờ điều chỉnh kinh tế của
Nhà nước chủ nghĩa tư bản đã vượt qua được nguy cơ sụp đổ, góp phần tạo ra mấy thập
kỉ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ nhất là sau chiến tranh thế giới thứ II (1951-1970). Vậy
nhờ đâu mà Nhà nước tư bản có vai trò kinh tế đó? Nó được tổ chức như thế nào và thể
hiện vào đời sống kinh tế xã hội ra sao? Những kinh nghiệm điều chỉnh kinh tế nào của
Nhà nước tư bản hiện đại có lợi ích đối với nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam? Đó là những vấn đề không chỉ
quan tâm trong giới lí luận mà cả trong chính giới hiện nay.
ra trong lòng xã hội một lĩnh vực phân công lao động mới đồng thời họ cũng là lợi ích
đặc biệt trong mối quan hệ với những người giao trách nhiệm cho họ và trở nên độc lập
hơn trong quan hệ đối với những người đó”.
Quan phân tích của Angghen ta có thể rút ra những tư tưởng sau:
Một là, Nhà nước sinh ra nhằm thực hiện những chức năng xã hội chung nhưng
khi tồn tại là một lực lượng chính trị mới, nó không chỉ có được lợi ích đặc biệt mà còn
có tính độc lập tương đối trong quan hệ với các lực lượng xã hội, người đã giao phó
trách nhiệm cho nó.
Hai là, nhờ tính độc lập tương đối này mà Nhà nước có khả năng tác động trở lại
quá trình sản xuất xã hội. Đây không phải là sự tác động một chiều mà là sự tác động
qua lại, một bên là lực lượng chính trị chủ động, đại diện cho xã hội và bên kia là các
quá trình kinh tế khách quan.
Nhà nước sinh ra nhằm thực hiện những chức năng xã hội chung, thì một trong
những chức năng là làm “một nhạc trưởng” đứng ra điều hành phối hợp không phải một
khâu, một quá trình sản xuất đơn lẻ mà là cả quá trình sản xuất xã hội. Nhà nước muốn
tác động vào sự vận động của nền kinh tế một cách có hiệu quả, đặc biệt khi các điều
kiện tái sản xuất xã hội đang xấu đi thì Chính phủ phải hoạch định các chính sách của
mình nhằm vào giải quyết các mục tiêu kinh tế, xã hội dài hạn mà đối tượng thuộc về phía cung trên thị trường. Nếu Nhà nước chỉ tác động vào một vài nhân tố có tính cục
bộ nhất thời thì không mang lại hiệu quả mong muốn. Do vậy muốn cho nền kinh tế
phát triển ổn định phải tác động vào các nhân tố mang lại hiệu quả lâu dài mà phần lớn
nhân tố đó thuộc về yếu tố cung. Có ba yếu tố cơ bản tạo ra sự tăng trưởng ổn định lâu
dài: lao động, nguồn vốn và tiến bộ khoa học - kỹ thuật.
Theo các trường phái lí thuyết sau Keynes về việc Nhà nước phải can thiệp sâu vào
quá trình vận động của nền kinh tế. Song M.Friedina cho rằng “Sự vận động của nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa có mối quan hệ tương hỗ với sự vận động của khối lượng tiền tệ trong
lưu thông Các biến số kinh tế vĩ mô như tổng sản lượng, công ăn việc làm và giá cả,
chủ yếu chịu ảnh hưởng của việc điều chỉnh khối lượng tiền tệ trong lưu thông của Nhà
mại, Thực hiện những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội này đã làm nảy sinh thêm
những chức năng kinh tế mới của Nhà nước tư bản hiện đại.
Ba là, sự phát triển mạnh mẽ của cải cách khoa học-kỹ thuật làm thay đổi căn bản
cơ cấu kinh tế quốc dân, sự biến đổi đó thể hiện một cách toàn diện ở các mặt: cơ cấu
ngành kinh tế, cơ cấu đầu tư, đặt ra nhu cầu điều chỉnh trên quy mô tổng thể vượt sức
của tập đoàn tư bản tài chính nên Nhà nước phải can thiệp vào sự vận động của nền
kinh tế, sự can thiệp ở đây không thể là can thiệp bên ngoài quá trình sản xuất mà Nhà
nước phải tác động vào tất cả các yếu tố, các khâu và cùng biến mình thành nhân tố chủ
động trong cơ chế vận động của tái sản xuất.
Sở dĩ Nhà nước tư bản có khả năng điều chỉnh được sự vận động của nền kinh tế
là do tính xã hội và tính độc lập tương đối vốn có của nó. Vai trò của Nhà nước được
thể hiện ở toàn bộ nền kinh tế quốc dân, sự vạch đường hướng phát triển và điều chỉnh
sự vận động của nền kinh tế theo định hướng đó, sự hoạt động điều chỉnh kinh tế của
Nhà nước tư bản thành một trong những điều kiện cơ bản, quan trọng để nền sản xuất
phát triển.
II-/ Điều chỉnh kinh tế của Nhà nước ở các nước tư bản phát triển:
Nền kinh tế của các nước tư bản phát triển (trừ Mỹ) sau chiến tranh thế giới thứ
hai đều bị tàn phá nặng nề. Nhiệm vụ phục hồi kinh tế sau chiến tranh là nhiệm vụ cực
kì khó khăn đòi hỏi phải có sự tập trung nguồn lực cao độ mà không một tập đoàn tư
bản nào có thể gánh vác được chỉ có Nhà nước người đại diện không chỉ cho toàn bộ
giai cấp tư sản mà cho xã hội mới có thể đứng ra điều chỉnh, tổ chức, phục hồi lại nền kinh tế của đất nước. Để hoàn thành nhiệm vụ này các giải pháp, chính sách của Nhà
nước dài hạn như: kế hoạch hoá, chương trình hoá nền kinh tế,
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời với tiềm lực kinh
tế chính trị quân sự hùng mạnh có ảnh hưởng lớn đến các nước đang phát triển. Nó tạo
ra một đối thủ nặng cân của chủ nghĩa tư bản, vấn đề này vượt ra khỏi một quốc gia tư
bản, đòi hỏi các Nhà nước tư bản phải liên kết với nhau để thực hiện được nhiệm vụ đó,
đòi hỏi phải tăng cường vai trò của Nhà nước đặc biệt trong nền kinh tế đẩy mạnh
sử dụng các nguồn lực hoạt động của mình như ngân khố tài nguyên thông qua hệ thống
tín dụng, ngân hàng, tài chính.
Điều tiết chính là việc Nhà nước áp đặt những quy chế của mình nhằm hướng dẫn,
hạn chế, thay đổi hành vi kinh tế của các chủ thể sản xuất kinh doanh phù hợp với
những hoạt động chung trong vận động tổng thể của nền kinh tế theo những mục tiêu
của Nhà nước đã vạch ra.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II (1950-1971) Nhà nước tư bản hiện đại không chỉ là
người thúc đẩy và điều tiết sự vận động của nền kinh tế mà còn là một chủ sở hữu lớn, tính các
hình thức sở hữu Nhà nước đưa vào hoạt động thì sở hữu Nhà nước trong các nước tư bản phát
triển chiếm khoảng 15 đến 34% tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh của nền sản xuất do đó
việc quản lí của Nhà nước đối với khu vực này cũng là một công cụ được Nhà nước vận dụng
để điều tiết nền kinh tế.
Qua những phân tích nhiệm vụ điều chỉnh kinh tế của Nhà nước ở trên ta thấy, kết
cấu của hệ thống điều chỉnh kinh tế của Nhà nước tư bản đặc quyền hiện đại là một hệ
thống điều tiết, thiết chế tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước cùng với nó là hệ thống các
công cụ giải pháp kinh tế được thể chế hoá thành các chính sách kinh tế của Nhà nước.
2-/ Bộ máy điều chỉnh kinh tế của Nhà nước ở các nước tư bản phát triển:
Hoạt động điều chỉnh của Nhà nước thông qua một hệ thống tổ chức Nhà nước
những tổ chức này được chia làm hai loại.
Một là, cơ quan hành pháp của Chính phủ: làm chức năng hành chính và điều
chỉnh kinh tế ở tầm tổng thể. Hai là, cơ quan điều tiết kinh tế do luật định: chúng chuyên kiểm tra, uốn nắn,
Để hiểu rõ hơn các hình thức tổ chức, chức năng và mối quan hệ giữa chúng ta xem
khái quát từng nhóm trong thực tiễn ở một số nước tư bản.
Các cơ quan quản lý kinh tế truyền thống của Chính phủ:
Tham gia vào hoạt động điều chỉnh kinh tế của bộ máy Nhà nước dưới quyền chỉ đạo
của tổng thống hoặc thủ tướng là các bộ trưởng và hệ thống tổ chức của họ. Các nhân viên
làm việc trong các bộ là các công chức chuyên nghiệp và các cơ quan chức năng cấp dưới
xuất tư bản chủ nghĩa, Nhà nước có thể thu hẹp hoặc mở rộng khu vực sản xuất của
mình để nâng đỡ và hỗ trợ kinh doanh tư nhân.
b. Tài chính Nhà nước: là phương tiện cơ bản nằm trong tay Nhà nước 30-40% thu
nhập quốc dân nắm trong tay nên nó điều chỉnh kinh tế thông qua các chức năng tạo nguồn
thu cho ngân sách, phân phối lại thu nhập quốc dân thông qua thuế và tài trợ Nhà nước,
Nhà nước tư bản phát triển đã đảo ngược nguyên tắc: chi luôn vượt thu, chi không phụ
thuộc vào thu mà phụ thuộc vào yêu cầu điều chỉnh kinh tế xã hội, điều đó cho thấy Nhà
nước tư bản sử dụng tài chính không đơn lẻ mà kết hợp các công cụ khác như tiền tệ - tín
dụng, lãi suất,
c. Tiền tệ tín dụng: tiền tệ tín dụng và hệ thống ngân hàng là hệ thần kinh của nền
kinh tế: ta biết rằng quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế có mối quan hệ
tương hỗ với sự vận động của nền kinh tế theo định hướng mình, Nhà nước có thể chủ
động điều chỉnh khối lượng tiền lưu động thông qua công cụ phát hành và thay đổi tỷ
suất.
d. Các công cụ hành pháp: Nhà nước ra các văn bản hành chính để tổ chức hướng
dẫn thi hành các đạo luật kinh tế như: luật đầu tư, khi cần thiết Nhà nước ra sắc lệnh
đình chỉ sản xuất hay lưu thông một số mặt hàng nào đó. Đặc trưng của hệ thống công
cụ này là áp đặt, cưỡng bức buộc các chủ thể kinh tế phải thi hành.
e. Các công cụ kỹ thuật: hệ thống công cụ máy móc thu thập thông tin kinh tế,
phân tích các tình huống, xử lí các thông tin truyền tin kinh tế. Nhờ hệ thống công cụ
này mà hiệu lực của Nhà nước được nâng cao.
Toàn bộ công cụ điều chỉnh kinh tế của Nhà nước trên đã tạo thành một kết cấu
hữu cơ trong hệ thống điều chỉnh kinh tế. Song bộ máy và công cụ điều chỉnh kinh tế chỉ phản ánh mặt thiết chế tổ chức trong hệ thống điều chỉnh kinh tế. Để hoàn thiện hơn
hệ thống này chúng ta cần nghiên cứu nó dưới hình thái thể chế hoá thành đường lối,
chính sách.
4-/ Hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nước tư bản hiện đại:
Chính sách kinh tế là hình thức thể chế hoá các công cụ kinh tế theo những mục
Tất cả các chính sách điều chỉnh kinh tế của Nhà nước đều hướng vào mục tiêu cơ
bản là đảm bảo cho chủ nghĩa tư bản tồn tại và phát triển, cụ thể là:
Một là, hạn chế và khắc phục tình trạng quan liêu ăn sâu vào đời sống kinh tế.
Hai là, nới lỏng điều chỉnh kinh tế bằng cách giảm bớt các hình thức tài trợ và các
giải pháp hành chính cứng rắn để khơi dậy các lực lượng thị trường.
Ba là, tiến hành tư nhân hoá các doanh nghiệp Nhà nước. Bốn là, xác định thứ tự ưu tiên trong chính sách kinh tế và chủ động phối hợp
chính sách kinh tế giữa các nước.
* Những kinh nghiệm có tính giải pháp luận như sau:
Một là, để có được một hệ thống điều chỉnh kinh tế có năng lực và hoạt động điều
chỉnh kinh tế của Nhà nước ta có hiệu quả chúng ta phải xây dựng một hệ thống lý luận
theo nguyên tắc không giáo điều, không quá cỡ, không phủ định sạch trơn những thành
quả khoa học trong hệ thống lý luận kinh tế tư sản. Tức là phải rút tỉa được những hạt
nhân khoa học hợp lý trong kho tàng lý luận kinh tế.
Hai là, cần phải thể chế hoá các giải pháp kinh tế của Nhà nước bảo đảm cho hoạt
động điều chỉnh kinh tế của Nhà nước ta đều được tiến hành dưới dạng luật định hoặc
các văn bản dưới luật. Đồng bộ hoá và hệ thống hoá các chính sách kinh tế của Nhà
nước vào các mục tiêu kinh tế của Nhà nước vào các mục tiêu kinh tế nhất định để tạo
ra mô hình điều chỉnh kinh tế phù hợp có hiệu quả trong thực tiễn.
Ba là, Nhà nước cần xây dựng một hệ thống tài chính, tiền tệ, tín dụng đồng bộ
với cơ chế vay mượn tinh vi nhưng dễ dàng và hoạt động có hiệu quả. Thiết lập thị
trường chứng khoán và các trung tâm kinh tế.
* Các giải pháp cụ thể:
Đối với chính sách thuế về chiến lược cần phải giảm thuế để kích thích sản xuất và
qua phát triển sản xuất để tăng thu ngân sách, còn tăng thuế chỉ là giải pháp sách lược
có tính tình thế nhất thời.
Về lãi suất tín dụng, tuy đây là giải pháp chống lạm phát nhanh và kích thích đầu
tư hữu hiệu song để nền kinh tế phát triển ổn định chính sách lãi suất phải được thực