LUẬN VĂN: Thực trạng nền kinh tế Việt Nam những năm qua và giải pháp cho nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN doc - Pdf 12

LUẬN VĂN:

Thực trạng nền kinh tế Việt Nam những
năm qua và giải pháp cho nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN

Phần I: Phần mở đầu

Tất cả mọi người đều mong muốn một cuộc sống trong một xã hội tốt đẹp ngày
càng tốt hơn. Một xã hội mà trong đó mọi người hạnh phúc bình đằng ai ai cũng có
việc làm sống trong một môi trường trong sạch văn minh và hiện đại. Chính vì vậy mà
bất cứ một xã hội nào mà trong đó chứa đựng những mẫu thuẫn và đi ngược lại với
mong muốn của con người đều sẽ phải diệt vong thể thay vào đó một xã hội tốt hơn.
Vì thế mà xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển biến đổi để hoàn
thiện mình, bắt đầu là: xã hội nguyên thuỷ đến chiếm hữu nô lệ và đến phong kiến cao
hơn gần đây là Chủ nghĩa tư bản với sự phát triển vượt bậc về kinh tế và khoa học kỹ

đoạn và trong đại hội Đảng IX đã ghi nhận.

Tiểu luận của em được chia làm ba phần chính:
- Phần 1: Phần mở đầu
- Phần 2: Phần nội dung chính
A: cơ sở lý luận của vấn đề
( Lý luận của Mac- Lênin về kinh tế thị trường )
B: Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
C: Thực trạng nền kinh tế Việt Nam những năm qua và giải pháp cho nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
- Phần 3: Phần kết luận.

Phần hai: Nội dung chính của đề tài
I/. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
1/ Khái quát về kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá.
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai hình thức tổ chức kinh tế – xã hội
đã tồn tại trong lịch sử hai hình thức này được hình thành trên cơ sở trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất xã hội,trình độ phân công lao động động xã hội, trình độ phát
triển và phạm vi của quan hệ trao đổi.
Trong nền kinh tế tự nhiên, người sản xuất cũng đồng thời là người tiêu dùng.
Tự sản xuất, tự tiêu dùng là đặc điểm nổi bật của kinh tế tự nhiên. Mục đích của sản

hình thành kinh tế thị trường cần phải có hệ thống tài chính, tác dụng ngân hàng tương
đối phát triển
Bốn là: Sự hình thành kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một kết cấu hạ tầng
tương đối phát triển. Trên cơ sở đó mới bảo đảm cho lưu thông hàng hoá và lưu thồng
tiền tệ để thuận lợi nhằm mở rộng quan hệ trao đổi
Năm là: Tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước. Đối với nước ta, đây là vấn
đề có tính then chốt để hình thành nền kinh tế thị trường
Với tác động của tất cả các tiền đề trên, nền kinh tế thị trường được xã hội hoá
cao, các quan hệ kinh tế mang hình thái phổ biến là quan hệ hàng hoá - tiền tệ và nó
được tiền tệ hoá. Các quy luật của kinh tế thị trường được phát huy tác dụng một cách
đầy đủ.
3. Những đặc trưng của kinh tế thị trường .
Những đặc trưng chung nhất, vốn có của kinh tế thị trường :
Một là: Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Đây là đặc trưng quan trọng
nhất của kinh tế thị trường.Đặc trưng này xuất phát từ đặc điểm khách quan của việc
tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời cũng là biểu hiện và là yêu cầu nội tại của
kinh tế hàng hoá.
Hai là: Trên thị trường hàng hoá rất phong phú. Người ta tự do mua, bán hàng
hoá. Trong đó người mua chọn người bán, người bán tìm người mua. Họ gặp nhau ở
giá cả thị trường
Ba là: Giá cả để hình thành ngay trên thị trường.Giá cả thị trường vừa là biểu
hiện bằng tiền của giá thị trường, vừa chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh và quan
hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ. Trên cơ sở giá thị trường, giá cả là kết quả của sự
thương lượng và thoả thuận giữa người mua và người bán. Đặc trưng này phản ánh
yêu cầu của luật lưu thông hàng hoá
Bốn là: kinh tế thị trường là một tất yếu của thị trường. Nó tồn tại trên cơ sở
những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế

kiểm nghiệm tính phù hợp của sản xuất đối với tiêu dùng xã hội. Trên ý nghĩa đó có
thể nói thị trường điều tiết sản xuất và là động lực của sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp ngày càng năng động hơn, sáng tạo hơn, hiệu quả hơn thị trường là nơi
cuối cùng để chuyển lao động tư nhân cá biệt thành lao động xã hội.
2. Cơ chế thị trường :
Nói tới cơ chế thị trường là nói tới bộ máy tự điều tiết quá trình sản xuất và lưu
thồng hàng hoá, điều tiết sự vận động của kinh tế thị trường.
Hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm cơ chế thị trường. Một
cách khái quát hơn thì cơ chế thị trường chính là “ bộ máy ” kinh tế điều tiết toàn bộ
sự vận động của kinh tế thị trường, điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá
thông qua sự tác động của các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là
quy luật giá trị-quy luật kinh tế căn bản của sản xuất va lưu thông hàng hoá .
Sự hoạt động của quy luật giá trị có biểu hiện : Giá cả thị trường lên xuống
xoay quanh giá trị thị trường của hàng hoá, nghĩa là sự hình thành giá cả thị trường
phải dựa trên cơ sở giá cả thị trường. Ngoài giá trị thị trường sự hình thành giá cả thị
trường còn chịu tác động của quan hệ cung cầu hàng hoá. Tính quy luật của quan hệ
giữa giá cả thị trường với gía trị trong sự tác động của quan hệ cung cầu được biểu
hiện:
- Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ nhỏ hơn giá trị thị trường
- Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ lớn hơn gía trị thị trường.
Sự vận động của gía cả thị trường cũng có tác động tới quan hệ cung cầu hàng
hoá. Nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó giảm xuống, nó sẽ kích thích mức cầu,
làm cho mức cầu của thị trường về loại hàng hoá này tăng lên. Đồng thời giá cả giảm
xuống lại hạn chế mức cung làm cho mức cung giảm xuống. Ngược lại nếu giá cả của
một loại hàng hoá nào đó tăng lên, nó sẽ kích thích mức cung làm cho mức cung tăng
lên.
Như vậy có thể phân biệt được quan hệ cung cầu qua giá cả thị trường. Quan

định sự hoạt động của quy luật giá trị.
Nói đến cơ chế thị trường cần phải nói tới cạnh tranh.
Đó là sự danh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm dành lại phần sản xuất và tiêu
thụ hàng hoá có lơị cho mình để thu lợi nhuận cao.
Cạnh tranh là môi trường tồn tại của cơ chế thị trường nó đòi hỏi mỗi chủ thể
kinh tế phải chuẩn bị cho mình khả năng cạnh tranh thắng lợi trên thị trường.
Sự tồn tại và phát triển của cơ chế thị trường là yêu cầu khách quan đối với
những xã hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Coi nhẹ hay bỏ qua vai trò của kinh tế
thị trường là một trong những nguyên nhân thất bại trên lĩnh vực kinh tế.
Trong lịch sử cơ chế thị trường có được không gian rộng lớn ở giai đoạn cạnh
tranh tự do tư bản chủ nghĩa vì vậy tác động của cơ chế thị trường được phát hiện khá
sớm. Cơ chế thị trường được coi là “ bàn tây vô hình ” điều tiết sự vận động của nền
kinh tế hàng hoá.
Cơ chế thị trường có các ưu thế sau:
Trước hết cơ chế thị trường kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
tăng năng xuất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất
Hai là cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh
chóng. Vì trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại
hàng hoá mới và đưa ra sớm nhất thì sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất.
Ba là trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú và đa dạng. Do đó nó
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoả mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất,
văn hoá và sự phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội
- Cơ chế thị trường có những khuyết tật mà bản thân nó không tự giải
quyết được.
Thườg xuyên tạo ra mất cân đối, bất hợp lý ở tầng vĩ mô làm giảm hiệu quả
trên quy mô nền kinh tế quốc dân
Cơ chế thị trường cũng có những yếu tố làm giảm tốc độ phát triển kinh tế do

đảng, của Nhà nước và nhân dân ta mà còn phản ánh xu thế phát triển khách quan của
thời đại cũng như quy luật tiến hoá của lịch sử.
Định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta là cần thiết và có tính
khách quan. Xây dựng nền kinh tế thị trường không có gì mâu thuẫn với định hướng
XHCN. Đại hội VIII Đảng ta đã khẳng định “ cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng
tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội ’’. Nó chẳng những không đối lập mà
còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nước theo
con đường XHCN” (2 )
Theo ý kiến của đa số các nhà khoa học Việt Nam, có thể quan niệm định
hướng XHCN của kinh tế thị trường ở nước ta có những nội dung chính sau:
Một là: Hai mặt kinh tế và xã hội của nền kinh tế thị trường nước ta được chủ
động kết hợp với nhau ngay từ đầu thông qua pháp luật, chính sách kinh tế và chính
sách xã hội trên cả tầm quản lý kinh tế vi mô và vĩ mô.
Hai là: Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, môi trường sinh thái của
đất nước được chủ động bảo vệ qua các dự án
(1) cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ CNXH ( NXB sự
thật- 1991)
(2) Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần 8 ( NXB chính trị quốc gia-
1990)
đầu tư môi sinh và qua việc chấp hành một cách đúng đắn pháp luật, chính sách
môi trường của nhà nước qua từng thời kỳ.
Ba là; Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là nền kinh tế có trình độ
phát triển cao. Nếu như nền kinh tế tiền tệ, kém phát triển, tổng sản phẩm xã hội và
thu nhập quốc dân thấp kém dẫn tới mức thu nhập bình quân của dân cư còn thấp
không có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thì không thể gọi là định hướng XHCN được.
Bốn là: Định hướng XHCN còn được thể hiện trong cơ cấu kinh tế nước ta. Để
có định hướng XHCN, kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo, nó cùng

phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN cần được tiến hành qua 3
giai đọan sau:
2.1. Giai đoạn thứ nhất; giai đoạn quá độ chuyển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo định hướng XHCN về mặt lịch sử giai đoạn này rất quan
trọng là nghị quyết hội nghị BCH trung ương lần thứ VI ( khoá IV ) tháng 9-
1979. Về mặt logic giai đoạn này bắt đầu từ việc hình thành và củng cố những
đơn vị sản xuất những đội sản xuất hàng hoá theo đúng nghĩa nhằm tạo ra mối
quan hệ vừa tự chủ, vừa lệ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể sản xuất
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là khắc phục tính hiện vật của quan hệ trao
đổi, hình thành quan hệ hàng hoá tiền tệ trên thị trường.
Nội dung được thực hiện với một số giải pháp sau:
- Hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá nhằm chuyển
quan hệ trao đổi có tính hiện vật sang quan hệ hàng hoá tiền tệ.
- Đẩy mạnh phân cồng lao động xã hội nhằm mở rộng thị trường
- Chuyển quan hệ sở hữu có tính đơn nhất sang quan hệ sở hữu có tính đa
dạng với nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
- Đổi mới chính sách kinh tế nhằm chuyển các quan hệ kinh tế theo chiều
dọc, sang các quan hệ kinh tế theo chiều ngang.Trong các chính sách kinh tế
chúng ta đặc biệt quan tâm tới chính sách giá cả.
2.2. Giai đoạn hai: Giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hướng XHCN.
Đại hội đảng VI năm 1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quan điểm phát
triển kinh tế hàng hoá nhiêù thành phần ở nước ta. Quan điểm này đã được khẳng định
rõ hơn tại đại hội lần VII và VIII của Đảng ta.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là: phát triển và mở rộng quan hệ hàng hoá
tiền tệ tạo điều kiện tiền đề cho kinh tế hàng hoá phát triển.
Chúng ta đang thực hiện những giải pháp sau:

triển.
Trên đây là các giai đoạn và một số phương hướng then chốt cho từng giai
đoạn. Nước ta đã và đang thực hiện các giai đoạn này dần dần hình thành nền kinh tế
thị trường theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước
II. Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
1. Nhà nước là 1 hiện tượng lịch sử, ngay từ khi ra đời nó đã có vai trò to
lớn trong xã hội có giai cấp và trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Nhà
nước,một mặt, nó là tổ chức xã hội;mặt khác, chính thông qua quản lý xã hội có
hiệu quả mà nó thực hiện được sự thống trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã
hội. Bất cứ nhà nước nào cũng đều thực hiện chức năng hai mặt của nó. Mặc dù,
nhà nước có định hướng cho sự phát triển và của xã hội nhưng bản thân xã hội lại
vận động theo những quy luật khách quan của nó, quy luật vận động của đời sống
sản xuất vật chất và tinh thần, tạo ra cơ sở mới, điều kiện mới,do đó,đòi hỏi có sự
thay đổi tương ứng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thì quản lý
nhà nước mới có hiệu quả, nhà nước mới có khả năng thúc đẩy sự phát triển kinh
tế- xã hôi
Từ đại hội đảng lần thứ VI của đảng ( 1986) Việt Nam đã chuyển sang phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước, thực hiện dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội; hoà nhập khu vực
Trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mac-Lênin về vai trò của nhà nước cần
đặc biệt chú ý tới hai luận điểm quan trọng:
1.1. Ph. Ang ghen đã từng nêu nguyên tắc có tính phương pháp luận
về sự tác động của nhà nước đối với nền kinh tế rằng: sự tác động của nhà
nước nếu là hợp quy luật thì sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển ngược lại,nếu là sự
tác động trái quy luật thì sẽ gây ra khủng hoảng và lãng phí cho xã hội. Đó là

chức quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở tầm kinh tế vi mô và vĩ mô, trong đó
quản lý kinh tế vĩ mô là chủ yếu.
Sở dĩ nhà nước ta có vai trò kinh tế mới trên là vì:
Một là: Nhà nước ta là nhà nước do dân, vì dân, vi dân, là người đại diện cho
toàn dân,cho toàn xã hội có nhiệm vụ quản lý đất nước về mặt hành chính -kinh tế.
Hai là: Nhà nước là người đại diện cho sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, có
nhiệm vụ quản lý các doanh nghiệp thuộc khu vực k inh tế nhà nước.
Ba là: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường, cùng với những mặt tích cực của nó không thể tránh khỏi được các khuyết tật
vốn có.Bởi vậy, sự quản lý nhà nước sẽ góp phần khắc phục các khuyết tật, phát huy
mặt tích cực của cơ chế thị trường và là một tất yếu khách quan.
Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế của mình nhằm các mục tiêu sau:
- Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững chánh những đột
biến sấu.
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế – xã hội cao, thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế kết hợp với công bằng và tiến bộ xã hội.
- Thực hiện nhiệm vụ quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối của đảng,
đưa nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN.
3. Vai trò kinh tế của nhà nước.
Với tư cách là người quản lý, điều hành nền kinh tế thị trường nhà nước giữ vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng nền kinh tế thị trường theo chủ nghĩa xã
hội. Vai trò kinh tế nói trên được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất: Nhà nước phát huy cao độ mặt tích cực của nền kinh tế thị trường để
phát triển kinh tế, phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động nhằm mục tiêu dân
giầu, nước mạnh, mục đích cuối cùng của sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Nhà
nước lợi dụng cơ chế cạnh tranh của thị trường và tụ do hoá sản xuất kinh doanh để
giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, khơi dậy các tiềm năng của mọi cá nhân,

chương trình kinh tế tạo môi trường cho thị trường phát triển mạnh, đồng thời sử dụng
các biện pháp hành chính cần thiết để hạn chế các mặt trái của kinh tế thị trường. Vây
bằng các biện pháp và chính sách công cụ quản lý,điều tiết, nhà nước phục vụ mục
tiêu xã hội, đây là nhiệm vụ trọng tâm và là tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêu
dân giầu, nước mạnh, xã hội văn minh. Kinh tế thị trường luôn luôn vận động và phát
triển do đó các chính sách kinh tế vĩ mô nhà nước phải thường xuyên được bổ sung
hoàn thiện thì mới thực sự có hiệu quả.
Thứ ba: Nhà nước điều tiết kinh tế và xây dựng thực hiện hệ thống chính sách
xã hội sao cho bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và hiệu quả xã hội,
khác với nền kinh tế thị trường ở nước ta, ngay từ đầu nhà nước đã tham gia điều tiết
vừa hạn chế mặt tiêu cực tự phát vừa bảo vệ lợi ích của xã hội, của con người.
Nhà nườc điều tiết nền kinh tế qua các quan hệ sản xuất và phân phối từ tư liện
sản xuất đến vốn, kỹ thuật, công nghệ, lao động, tiền lương, phúc lợi xã hội
Để vừa phát triển kinh tế; vừa đảm bảo công bằng xã hội phù hợp với điều kiện
xã hội ở nước ta. Sự điều tiết của nhà nước vừa nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế
tăng trưởng ổn định, vừa nhằm đảm bảo lợi ích của người lao động, đảm bảo công
bằng xã hội. Điều quan trọng là nhà nước cần xây dựng và thực hiện hệ thống chính
sách xã hội nhằm kích thích được con người sáng tạo không ngừng sử lý được sự
phân hoá giầu nghèo quá đáng, thực hiện được các vấn đề xã hội, phúc lợi xã hội và y
tế xã hội, văn hoá phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế.Thông qua ngân
sách, Nhà nước thực hiện điều tiết và tái phân phối hợp lý để vừa khuyến khích mọi
người làm giầu chính đáng, vừa có nguồn để thực hiện các chính sách xã hội.
Thứ tư: Nhà nước phải xây dựng được hệ thống kinh tế quốc doanh mạnh vì
kinh tế quốc doanh là nhân tố kinh tế quy định và đảm bảo tính định hướng xã hội chủ
nghĩa: Thể hiện đầy đủ nhất tính ưu việt của chủ nghĩa cộng sản đảm bảo sự thống
nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bắng xã hội, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi
trường sinh thái, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Nhà nước vừa
phải tôn trọng tính bình đẳng của các chủ thể kinh tế không kể họ ở thành phần nào, Với những đặc điểm xuất phát như trên, có thể nhân xét rằng. Nền kinh tế nước
ta không hoàn toàn là kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc, nhưng cũng chưa phải là kinh tế
hàng hoá theo nghĩa đầy đủ. Mặt khác,do đó có sự đổi mới về mặt kinh tế nước ta
cũng không còn là nền kinh tế chỉ huy.Có thể nói thực trạng nền kinh tế nước ta khi
chuyển sang kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá kém phát triển,còn mang nặng
tính tự cấp tự túc và chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp .
Thực trạng đó được biểu hiện ở các mặt sau đây:
1. Kinh tế hàng hoá kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng tính tự cấp
tự túc.
Sự yếu kém củakinh tế hàng hoá nước ta được thể hiện ở những dấu hiệu có
tính điển hình dưới đây:
- Trình độ cơ sở vật chất – kỹ thuật và công nghệ sản xuất còn thấp kém.
- Hệ thống cơ cấu hạ tầng, dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội chưa đủ để
phát triển kinh tế thị trường ở trong nước và chưa có khả năng để mở rộng giao lưu
với thị trường quốc tế.
- Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả.
- Chưa có thị trường đúng nghĩa của nó.
- Năng suất lao động xã hội và thu nhập quốc dân tính theo đầu người còn
thấp.
Phần này phản ánh tổng hợp thực trạng kinh tế hàng hoá còn kém phát triển.
Do trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ thấp, kết cấu hạ tầng dịch vụ sản
xuất và dịch vụ xã hội còn kém: cơ cấu kinh tế còn mất cân đối; Thị trường trong
nước chưa phát triển cho nên năng xuất lao động và thu nhập bình quân tính theo
đầu người ở nước ta tất yếu vẫn còn thấp kém. Tình hình này được phản ánh qua các
số liệu sau đây:
Theo giá hiện
hành ( tỷ đồng )
1998 1989 1990 1991 1992

vào loại thấp nhất. Theo sự tính toán của các nhà kinh tế Việt Nam thì mức CNP,
người mua của nước ta hiện nay là 200 USD. Trong khi đó GNO/ người vào năm
1990 của trung quốc là 370 USD, Iindonesia là 570 USD ấn độ là 350 USD, philippin
730 USD. Thái lan là 1420 USD, Malayxia là 2320 USD, Nam triều tiên là 5400
USD.
2. ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp.
Do nhận thức chủ quan duy ý trí về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cho nên trong
nhiều thập kỷ vừa qua ở nước ta đã tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp. Thực tiễn hoạt động kinh tế đã chứng minh mô hình này có
nhiều nhược điểm. Nó gần như đối lập với kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị
trường.
Hai cơ chế cũ và mới ( cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được gọi là cơ chế
cũ, còn cơ chế thị trường được gọi là cơ chế mới ) có nhiều điểm khác nhau, trong đó
có điểm khác nhau căn bản là ở chỗ. Cơ chế cũ hình thành trên cơ sở thu hẹp hoặc gần
như xoá bỏ quan hệ hàng hoá tiền tệ làm cho nền kinh tế bị “ hiện vật hoá ”. Cơ chế
mới hình thành trên cơ sở mở rộng quan hệ hàng hoá, tiền tệ. ậ cơ chế cũ đó là cơ chế
lệnh kế hoạch, kèm theo lệnh giá cả kinh doanh tài chính kinh doanh, tín dụng kinh
doanh, tín dụng kinh doanh phục vụ nhu cầu mua bán của các chủ thể sản xuất theo
nguyên tắc hoạch toán kinh tế. Như vây, trong cơ chế cũ phạm trù giá cả, tài chính,
lưu thông tiền tệ là phạm trù vốn, có cửa kinh tế hàng hoá mặc dù có được sử dụng
như chỉ là hình thức.
Việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử, cho nên sự
hạn chế quan hệ hàng hoá tiền tệ và quy luật giá trị trở thành sự cản trở tiến bộ kinh
tế, kìm hãm nhân tố mới, do đó làm cho nhà nước không thể làm chủ những quá trình
kinh tế khách quan mặc dù trong tay nhà nước có thực lực kinh tế to lớn. Vì vậy, Đại
hội lần thứ VII của Đảng ta khẳng định “ xoá bỏ chiệt để cơ chế quản lý tập trung

nhiều thành phần. Mặt khác, ở nước ta cũng đã tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy với cơ
chế hoạch hoá tập trung. Cơ chế này đã được phân tích ở phần trên,Nó gần như đối
lập với thị trường vận động theo cơ chế thị trường. Thị trường được coi là trung tâm
sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội. Vì vậy, quá trình chuyển nền kinh tế
nước ta sang kinh tế thị trường là quá trình xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
hình thành đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
3.2. Quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường đồng
thời cũng là quá trình thực hiện nền kinh tế mở, kinh tế “ đóng”, “ khép kín ” thường
gắn với nền kinh tế sáng kiến gắn với sản xuất nhỏ mang nặng tính cục bộ, địa
phương chủ nghĩa và với tình trạng “ bế quan toả cảng ”. Chíh sự xuất hiện và phát
triển của sản xuất hàng hoá đã phá vỡ các quan hệ kinh tế khép kín. Sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản đã khẳng định. Kinh tế hàng hoá đã làm cho thị trường dân tộc gắn
bó và hoà nhập với thị trường thế giới. Chính giao lưu hàng hoá đã làm cho các quan
hệ kinh tế được mở rộng khỏi phạm vi quốc gia, đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển
nhanh chóng.
Kinh tế là đặc điểm và là xu thế của thời đại ngày nay mà bất kỳ một quốc gia
nào cũng phải coi trọng. Trong điều kiện của nước ta, bài học về sự kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh của thời đại trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do trước đây,
một lần nữa lại sống động trong công cuộc phát triển đất nước với bối cảnh và điều
kiện mới.
Trong quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta đã có nhiều đổi mới quan hệ kinh tế
quốc tế từ đơn phương sang đa phương, quan hệ với tất cả các nước không phân biệt
chế độ chính trị, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và không can thiệp và công việc
nội bộ của nhau.
Trong những năm gần đây, thực hiện quan điểm về kinh tế đối ngoại nói trên,
hoạt động kinh tế quốc tế của nước ta đã có những tiến bộ hơn. Xuất khẩu hàng
hoá,tăng nhanh với nhịp độ trên dưới 20% hàng năm ( 1986- 1992 ) bảo đảm nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status