MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
KTTN là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất . Nó
là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTN
là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định
hướng XHCN, góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung
tâm là pahts triển kinh tế, CNH,HĐH, nâng cao nội lực của đất nước trong hội
nhập kinh tế quốc tế. “KTTN có vai trò quan trọng, là một trong những động lực
của nền kinh tế”.
Thực hiện đường lối đổi mới đất nước của Đảng, trong thời gian qua,
Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã vận dụng khéo léo, chú trọng
đếo đầu tư phát triển KTTN, xem đây là một thành phần kinh tế trọng tâm, có
vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế của huyện, phù hợp với
điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của vùng. Sự phát triển KTTN đã góp phần huy
động và sử dụng triệt để các nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh, đã tạo ra
nhiều việc làm cho người dân. Điều đó đã làm cho đời sống của người dân được
cải thiện rõ rệt, không những thế nó còn góp phần tăng thêm ngân sách của
huyện, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên bước đường đổi mới, phát triển thì
bên cạnh những kết quả đạt được thì thành phần KTTN ở Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh
còn có nhiều điểm hạn chế cần phải được khắc phục để đưa thành phần kinh tế
này trở thành một thành phần kinh tế phát triển năng động, có đóng góp chính
trong đời sống của nhân dân. Do vậy, để hiểu thêm về sự vận dụng những đường
lối đúng đắn của đảng vào việc phát triển nền KTTN ở huyện Cẩm Xuyên cũng
như những thực tiễn nhằm phát triển KTTN phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh, nâng cao đời sống của nhân
dân nên tôi chọn đề tài “Vận dụng những đường lối của Đảng vào việc phát
triển KTTN trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Huyện
Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu để làm
rõ hơn những điều đó.
1
2. Tình hình nghiên cứu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) và thực
hiện kế hoạch nhà nước 5 năm (1986-1990)
Đại hội VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách
giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế nước ta càng trở nên khó khăn
(tháng 12-1986, giá bán lẻ hàng hoá tăng 845,3%). Chúng ta không thực hiện
được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời
sống nhân dân. Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn. Nền kinh tế nước ta lâm
vào khủng hoảng trầm trọng. Tình hình này làm cho trong Đảng và ngoài xã hội
có nhiều ý kiến tranh luận sôi nổi, xoay quanh thực trạng của ba vấn đề lớn: cơ
cấu sản xuất; cải tạo XHCN; cơ chế quản lý kinh tế. Thực tế tình hình đặt ra một
yêu cầu khách quan có tính sống còn đối với sự nghiệp cách mạng là phải xoay
chuyển được tình thế, tạo ra sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con
đường đi lên và như vậy phải đổi mới tư duy. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự
thật, đánh giá đúng sự thực, nói rõ sự thật, Đại hội đã đánh giá đúng mức những
thành tựu đạt được sau 10 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đi sâu phân tích
những tồn tại và nghiêm khắc tự phê bình những sai lầm, khuyết điểm trong
lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng trong 10 năm (1976-1986).
Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh
thần cách mạng và khoa học và đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt
chính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội.
Đại hội đã đánh giá những thành tựu, những khó khăn của đất nước do cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra, những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ
trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh
hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt là sai lầm về kinh tế là
bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy
3
theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế,
xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng đó là
tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. Báo cáo chính trị tổng kết thành bốn
bài học kinh nghiệm lớn:
và đề ra hệ thống các giải pháp để thực hiện mục tiêu: Bố trí lại cơ cấu sản xuất,
điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, sử
dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Coi nền kinh tế có nhiều thành
phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, dứt
khoát xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kế
hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN; phát huy động lực
của khoa học - kỹ thuật; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
1.2. Thành phần kinh tế tư nhân
1.2.1 Kinh tế tư nhân
Tại đại hội Đảng lần IX đã xác định ở nước ta có 6 thành phần kinh tế :
Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân,
kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đến đại hội X, Đảng
ta xác định nền kinh tế nước ta tồn tại 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, KTTN, kinh tế tư bản nàh nước, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Như vậy, theo tinh thần của Đại hội Đảng lần thứ X, KTTN bao gồm :
Kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân
Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin dùng cho khối ngành không
chuyên cho rằng: “ KTTN là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất bao gồm kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân”.
Trong nghị quyết trung ương V khóa IX của Đảng về tiếp tục đổi mới cơ
chế chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để kinh tế tu nhân phát triển đã chỉ
rõ: “KTTN gồm hai thành phần kinh tế là kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư
bản tư nhân hạot động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình
doanh nghiệp của tư nhân”.
5
Theo PGS, TS Võ Văn Phúc cho rằng: “ KTTN bao gồm kinh tế cá thể tiểu
chủ, công ty tư nhân”.
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng: “ KTTN là khu vực kinh
tế bao gồm tất cả các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh của người Việt Nam
không thuộc sở hữu nhà nước, không do nước ngoài đầu tư và khôgn thuộc
Tất nhiên, KTTN chỉ phát triển đúng hướng khi Đảng và Nhà nước có chính
sách và biện pháp quản lý phú hợp, khong làm mất động lực phát triển của nó,
nhưng cũng khôgn để nó vận động một cách tự phát.
Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lên nin đã khẳng định sự tồn tại của KTTN là
một tất yếu khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và việc cải tạo
thành phần kinh tế náy là một trong những nhiệm vụ kinh tế cơ bản, lâu dài của
cả thời kì quá độ. Thực tiễn cho thấy, việc phát triển KTTN trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN là một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta
dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, là sự vận
dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều
kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Chủ trương đó của Đảng và Nhà nước ta được
đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số ý kiến
chưa thống nhất với quan điểm trân thậm chí còn nhận thức không đúng về vai
trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hoặc phủ nhận
vai trò lãnh đạo của thành phần kinh tế Nhà nước. Họ cho rằng, việc phân chia
các thành phần kinh tế ( kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu
chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài) theo tiêu chí quan hệ xản xuất sẽ dẫn đến sư phân biệt đối xử theo hướng
cạnh tranh bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Bởi vậy, theo họ, thay vì
phân chia theo tiêu chí quan hệ sản xuất, cần phân chia theo các tiêu chí nhỏ,
vừa và lớn thì mới tạo ra sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền
kinh tế quốc dân.
7
Ở nước ta, kể từ khi đổi mới đến nay, trong các văn kiện Đại hội, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã khẳng định đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, trong đó có KTTN. Về nhận thức, chúng ta thừa nhận KTTN là thành
phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với lao động của
các chủ thế kinh tế và lao động làm thuê, bao gồm : kinh tế cá thể, tiểu chủ và
kinh tế tư bản tư nhân. Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng đinh thành
phần KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường và vận dụng các nguyên tắc của nó, có
thể sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa những quy định thuộc bản chất của chủ nghĩa xã
hội với những mục tiêu kinh tế cần đạt được vì :
Thức nhất, kinh tế thị trường là một phương thức vận hành kinh tế, là sự
điều hòa lợi ích và phân bố các tài nguyên thông qua thị trường. Khi vận hành,
nó chỉ tạo sự công bằng trong quá trình cạnh tranh thị trường, chứ không tạo ra
sự công bằng trong quá trình trên kết quả phân phối cuối cùng.
Thứ hai, nền kinh tế thị trường đã đặt ra nhưng yêu cầu nhưu công bằng,
hiệu quả và nguyên tắc mạnh thắng, yếu thua thì cũng phải chấp nhận ở mức độ
nào đó những hậu quả mà sự vận hành của nó mang lại, sự phân hóa giàu nghèo,
bất bình đẳng và thật nghiệp.
Đó là những mâu thuẫn mà chúng ta cần tính tới và cần nhận thức đầy đủ
trong quá trình xây dựng nền kinh tế thì trường định hướng XHCN. Từ đó, có
biện pháp phù hợp để từng bước tháo gỡ, trong đó phải tính đến động lực của
KTTN, nhằm thúc đẩy nền kinh tế XHCN phát triển bình thường và hiệu quả
cao.
Đường lối đổi mới của Đảng ta và bắt đầu từ Đại hội VI và được hoàn thiện
dần qua các thời kì Đại hội tiếp theo. Về kinh tế, tại Đại hội IX, Đảng Cộng sản
Việt Nam khẳng định “ chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đó chính là nền
9
kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Trong quá trình đổi mới đó, nhận thức
của Đảng về vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế, đặc biệt là KTTN đã có sự
thay đổi căn bản so với trước đây. Thực tế cho thấy, KTTN ngày càng tỏ vai trò
của nó, trở thành một đối chứng hiện thực năng động để các khu vực kinh tế
khác phấn đấu vươn lên, tự đổi mới, tự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong
nền kinh tế thị trường. KTTN được coi làm ột trong những bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế quốc dân, được đối xử và hoạt động bình đẳng nhưu
các khu vực kinh tế khác. Theo số liệu thống kê, về giá trị công nghiệp, năm
mình”, tức là vì lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế của chinh bản thân mình, sau
đó mới vì các mục đích khác. Do đó, quyền sở hữu được coi là quyền tự nhiên
của con người trong xã hội có giai cấp.
1.2.3 Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN
Thứ nhất, KTTN góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho nhân
dân
Theo kết quả của đợt tổng điểu tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy:
Dân số Việt Nam đạt 85,8 triệu người. Dân số nước ta thuộc loại trẻ, số người
trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ cao gần 65% tổng dân số cả nước ( 2009). Số
người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 45 triệu người. Do vậy, việc giải
quyết việc làm cho người lao động là bài toán khó đặt ra cho vấn đề phát triển
kinh tế- xã hội. Trong thời gian qua khu vực KTTN đã giải quyết được nhiều
việc làm cho người lao động. Năm 2008, khu vực kinh tế ngoài nhà nước đóng
góp vào GDP 46,97%, trong đó có phần đóng góp quan trọng của KTTN, giải
quyết việc làm trên 5 triệu việc làm mới, bình quân 800000 lao động/ năm,
chiếm 50% số lao động tăng thêm của cả nước. Đặc biệt là KTTN đã giải quyết
được lực lượng chưa có việc làm và cso thể giải quyết lực lượng lao động dôi dư
từ các có quan doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế, giải thể. Sỡ dĩ,
KTTN có vai trò này vì nó có mặt len lỏi và xuất hiện ở khắp các lĩnh vực, mọi
11
ngành kinh doanh. Vì thế ở bất cứ lĩnh vực nào KTTN cũng thu hút một lực
lượng lao động lớn tham gia.
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, các hộ kinh
doanh cá thể, tiểu chủ tạo ra các cơ hội làm việc cho người lao động, nhất là lao
động có trình độ thấp chưa qua đào tạo tăng thêm thu nhập cho họ đồng thời gớp
phần cải thiện cuộc sống, xóa đói giảm nghèo.
Mặc dầu hiện nay tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 4,3% ( 2008) và thời
gian sử dụng lao động ở nông thôn đã tăng lên 85,6 % nhưng trung bình hiện
nay với khoảng gần 2 triệu lao động mới bổ sung hằng năm thì sức ép tạo vệc
– lâm – thủy hải sản, da giày, may mặc … Theo thống kê của Bộ trưởng thương
mại thành phần KTTN đang đóng góp 1/2 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước. Một số sản phẩm đã góp phần chặn đứng, đẩy lùi sự xâm nhập của hàng
ngoại nhập. Đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động tốt đã tạo
được chố đứng vững chắc uy tín trên thị trường, sản phẩm hàng hóa được người
tiêu dùng tín nhiệm, cạnh tranh được với các hàng hóa nước ngoài và có uy tín,
thương hiệu trên thị trường thế giới như: cà phê Trung Nguyên, nước mắn Phú
Quốc …
Sự phát triển của KTTN còn góp phần mở mang nghành nghề và lưu thông
hàng hóa. Sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú góp phần chuyển đổi cơ cấu
kinh tế của từng địa phương và của cả nước; đổng thời sự xuất hiện của KTTN
đã chấm dứt chuỗi thời gian “một mình một chợ” của khu vực doanh nghiệp nhà
nước. Trên thực tế, đã có nhiều dịch vụ mới xuất hiện trong các doanh nghiệp tư
nhân đóng vai trò chỉ đạo như phần mềm, internet,bất động sản.. Thậm chí nhiều
doanh nghiệp tư nhân còn vượt qua các doanh nghiệp nhà nước trong cùng một
lĩnh vực và đào tạo uy tín trên thị trường trong nước và khu vực như: Công ty
Hòa Phát, Kinh Đô, Trung Nguyên …
13
Thứ tư, KTTN huy động ngày càng nhiều nguôn vốn trong xã hội vào đầu tư
sản xuất kinh doanh.
Dễ có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh tạo nên nhiều việc làm cho
người lao động thì các doanh nghiệp tư nhân phải tăng thêm nguồn vốn đầu tư.
Do đó, KTTN còn làm tốt vai trò huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã
hội vào đầu tư, sản xuất kinh doanh. Do vậy, KTTN bắt nguồn từ lý thuyết phát
triển con người, có cội nguồn từ cá nhân, khi được sự thừa nhận và tạo điều kiện
của nhà nước sẽ kích thích các cá nhân mỗi gia đình bằng nguồn vốn tự có của
bản thân tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh, làm giàu cho đất nước và cho bản
thân mình. Theo thống kê, trong những năm gần đây tổng vốn dấu tư của khu
vực KTTN đã không ngừng tăng lên và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng đầu tư toàn
xã hội. Ở nhiều địa phương, vốn đầu tư cảu các daonh nghiệp đã góp phần quan