BÀI THẢO LUẬN
Công nghiệp hóa, đô thị hóa và
quan hệ hôn nhân ở đô thị
Thanh Hóa.
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy biến động, thời kỳ công
nghiệp hóa, đô thị hóa có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến mợi mặt: Kinh tế,
văn hóa, xã hội… Sự biến đổi toàn diện trên các mặt đó có ảnh hưởng đặc
biệt sâu sắc tới quan hệ hôn nhân.
Goode đã phân tích cách biến đổi của các mẫu hình gia đình ở nhiều
nơi trên thế giới, do ảnh hưởng của sự biến đổi xã hội mà ông gọi là công
nghiệp hóa. Theo ông, dù các mẫu hình gia đình trong các mẫu hình văn
hóa, các xã hội khác nhau, nhưng chịu ảnh hưởng của công nghiệp hóa,
chúng đều thay đổi theo hướng ông trở nên giống nhau trong mẫu hình mà
ông đặt tên là gia đình vợ chồng.
Ông nhấn mạnh tính chất tiến bộ hơn hăn của gia đình trong giai đoạn
công nghiệp hóa so với giai đoạn tiền công nghiệp hóa trong các quan hệ gia
đình, ông chỉ tập trung vào các cặp vợ chồng mà coi nhẹ quan hệ cha mẹ -
con cái. Để thấy dõ hơn được tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa tới
quan hệ hôn nhân như thế nào chúng ta đi vào tìm hiểu thực trạng đô thị hóa,
công nghiệp hóa, tác động của nó đến quan hệ hôn nhân và hệ quả.
PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG
1. Khái niệm
Khái niệm công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa là quá trính nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong
toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế. Đó là tỷ
trọng về lao động và giá trị gia tăng.
Đây là một quá trinh chuyển biến kinh tế xã hội ở một cộng đồng
người từ nền kinh tế tập trung với mức độ tập trung trung bình nhỏ bé ( xã
hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp. Công nghiệp hóa là một
3
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thanh Hóa xếp ở
vị trí thứ 24/63 tỉnh thành. Tính đến thời điểm năm 2009, Thanh Hóa có 5
khu công nghiệp trong đó một số khu công nghiệp tập trung ở các đô thị
như:
+ Khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thị xã Bỉm Sơn ( Đô thị loại IV)
+Khu công nghiệp Lễ Môn - Thành phố Thanh Hóa
+Khu công nghiệp Đình Hương (Tây Bắc Ga) - Thành phố Thanh
Hóa
Ngoài ra ở các đô thị loại V (thị trấn) ở Thanh Hóa cũng đang diễn ra
công nghiệp hóa, đô thị hóa song chưa rõ rệt.
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
4
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
Quy hoạch các trục đương chính ở Bỉm Sơn
Sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa thể hiện rõ nét qua
các mặt sau:
- Dân cư tập trung đông đúc ở khu vực thành phố thanh hóa, trong đó
có cả dân gốc và dân nhập cư từ nông thôn lên thành thị. Theo thống kê dân
số của Tỉnh Thanh hóa là khoảng 900.000 người trong đó số dân đô thị
Thanh Hóa chiếm 1/4dân số của toàn tỉnh (Năm 2010). Đồng thời số dân đô
thị Thanh Hóa tăng lên theo chiều ngang (tức là mở rộng về phạm vi đô thị
của tỉnh Thanh Hóa) là do trong những năm gần đây tỉnh đã có dự án quy
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
5
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
hoạch các xã ven khu vực thành phố với 19 xã sáp nhập vào thành phố như
các xã Quảng Cát, Quảng Phú, Quảng Thịnh, Quảng Đông, Quảng Tâm, xã
3. Tác động của Công nghiệp hóa, đô thị hóa tới quan hệ hôn nhân của
cư dân đô thị Thanh Hóa.
3.1. Độ tuổi kết hôn.
Luật Hôn nhân & Gia đình ban hành năm 2000 quy định độ tuổi
kết hôn của nữ từ 18 tuổi, nam từ 20 tuổi trở lên.
Nếu như trước đây, độ tuổi kết hôn của nam và nữ là rất sớm, có hiện
tượng tảo hôn. Theo luật hôn nhân và gia đình thì nam phải đủ 20 tuổi, nữ
phải đủ 18 mới được kết hôn. Tuy nhiên trước đây ở đô thị Thanh Hóa vẫn
diễn ra khá phổ biến hiện tượng tảo hôn. Cụ thể theo số liệu thông kê ở các
đô thị lớn ở Thanh Hóa như ở Bỉm Sơn tỷ lệ nam, nữ kết hôn sớm chiếm
20,5%, ở T.p Thanh Hóa chiếm 18,8%, ở Sầm Sơn thì tỷ lệ nam nữ kết hôn
sớm nhiều hơn chiếm khoảng 26,5%.
Xu hướng kết hôn sớm của nam, nữ ở các đô thị này được lí giải bởi
nhà đông con, nghề nghiệp không có, nhận thức về tình yêu, hôn nhân chưa
rõ ràng, mối quan hệ của gia đình…Chính vì vậy mà tỷ lệ nam, nữ kết hôn
sớm là cao.
Việc kết hôn quá sớm cũng đồng nghĩa với việc "đóng cửa" con
đường học hành, sự nghiệp với người phụ nữ. Rất ít chị em lập gia đình, sinh
con đẻ cái xong lại được đi học để có cơ hội tìm một việc làm theo ý, mà
thường chấp nhận chăm sóc gia đình, hoặc tìm một công việc lao động phổ
thông, thu nhập thấp, cuộc sống khó khăn.
Cụ thể khi hỏi bác Nguyễn Thị Thuận (Xã Quảng Cát, T.p Thanh
Hóa) về tuổi kết hôn của bác và xu hướng kết hôn của người dân ở đây. Bác
cho biết: Bác cưới từ năm 1985.Hồi trước có đủ ăn giống bây giờ đâu, nhà
thì năm, bảy an hem. Cứ ở nhà như thế các cụ sốt ruột bắt đi lấy chồng chứ.
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
7
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
Học hành thì không học nên lấy chồng sớm, chịu khổ. Nói chung ở đây vào
thời đó cũng thường đi lấy chông lấy vợ sớm như thế chứ cũng không phải
“Ta về ta tắm ao ta
Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn’’
Hay “Gái làng như vàng trong chum”
Chính vì vậy mà dù ở nông thôn hay đô thị thì xu hướng kết hôn gần nhà
vẫn là xu hướng phổ biến.
Ngày nay, do tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa công nghệ thông
tin phát triển, các phương tiện truyền thông mới ra đời như Internet,
radio….con người có thể trò chuyện làm quen thông qua các trang mạng
xã hội như Facebook, chat yahoo, email với các thông dụng rất hữu ích,
con người có thể trò chuyện làm quên với mọi người trên tất cả mọi vùng
miền, kể cả trong nước và quốc tế.
Đồng thời yếu tố nghề nghiệp, trình độ học vấn cũng là một yếu tố quan
trọng mở rộng phạm vi kết hôn. Rất dễ lí giải bởi khi đòi hỏi của nghề
nghiệp là phải tiếp xúc với nhiều người bất kì đó là người cùng quê, khác
quê hay khác đất nước thì đó cũng chính là cơ hội để chọn bạn đời của
mình và cũng dễ lí giải vì sao xu hướng lấy chồng ngoại quốc của phụ nữ
Việt Nam ngày càng nhiều, qua đó chứng tỏ phạm vi kết hơn đã được mở
rộng không những trong khu vực quốc gia mà cả khu vực xuyên quốc
gia.
Cụ thể Chị Nguyễn Thu Trang – một sinh viên chị cho biết: Việc lấy chồng ở
đâu không quan trọng, có thể ở cùng quê hay khác mà điều quan trọng là
phải có một cuộc sống hạnh phúc. Nhưng nếu được ở quê gần bố, mẹ thì
thích hơn.
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
9
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
Yếu tố địa lí gần gũi nhau cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo
nên sự thu hút lẫn nhau trong quan hệ tình yêu, hôn nhân, gia đình.
3.3. Tiêu chí lựa chọn bạn đời.
Bạn đời là một trong những đối tượng được xem là quan trọng nhất trong
tâm, chiều cao lí tưởng, con nhà giàu…trong đó tiêu chí mà phần lớn phái
nữ ở đô thị Thanh Hóa lựa chọn đó là có nghề nghiệp ổn định và biết quan
tâm. Nhiều lí do được đưa ra cho những tiêu chí lựa chọn bạn đời như vậy
chính là do yếu tố kinh tế ở đô thị này nếu không có nghề gì đó trong tay thì
sẽ rất khó để kiếm sống và như vậy thì hạnh phúc gia đình cũng không thể
bền chặt được.
Cụ thể khi hỏi về tiêu chí lựa chọn bạn đời chị Lan Anh (Giáo viên Tiếng
Anh – số nhà 412, đường Lê Lai) cho biết: Tiêu chí của chị đó là người đó
phải cao hơn chị, có nghề nghiệp ổn định và đặc biệt là phải biết quan tâm
đến chị.
Đồng thời một yếu tố không thể không nhắc đến đó là những người có
nghề nghiệp gần giống như nhau, sở thích giống nhau thì sẽ tạo nên sự thu
hút lẫn nhau trong quan hệ tình yêu, hôn nhân, gia đình.
3.4. Quyền ra quyết định kết hôn.
Hôn nhân là chuyện trọng đại, cả đời người.
Trước đây, trong xã hội truyền thống muốn tiến tới hôn nhân thì phải được
cả dòng họ bàn bạc, đánh giá xem có được lấy hay không? Phần lớn hôn
nhân của con cái trong gia đình thường do bố mẹ sắp đặt, mối kết hôn đó
thường dựa trên mối quan hệ của gia đình hay môi trường xung quanh mà
không cần phải có sự đồng ý, tinh thần tự nguyện từ phía con cái mà miễn là
hai bên gia đình đồng ý.
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
11
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
Cụ thể như khi hỏi Bác Hồng 55 tuổi (Xã Quảng Phú, T.p Thanh hóa) bác
cho biết trước đây làm gì có chuyện yêu đương như bọn trẻ bây giờ đâu, đến
tuổi lấy chồng, lấy vợ là các cụ nhà ta đi hỏi vợ dần cho con rồi. Như nhà
bác ấy ngày trước hai bác gặp nhau có mỗi một hôm xong rồi các cụ bảo
cưới thì cưới thôi.
Còn trong xã hội hiện đại chuyện hôn nhân trọng đại được dựa trên
Bảng 1. Tỷ lệ sống chung cùng gia đình chồng sau khi kết hôn trong các
gia đình ở đô thị Thanh Hóa năm 1948 – 2010.
Đơn vị: %
Đặc điểm gia đình và cá nhân Tỷ lệ
Lớp thế hệ kết hôn
1948 -1975
1976 - 1985
1986 - 1995
1996 – 2005
2006 – 2010
71,1
75,7
77,1
81,1
60,2
Học vấn của chồng
Mù chữ + Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông + Cao dẳng, Đại học.
78
75,9
73,3
Mức sống của gia đình chồng khi kết hôn.
Nghèo
Trung bình
Khá
70,4
83
81,5
Số anh chị em bên chồng
Ở giai đoạn 1996 – 2005 khả năng sống cùng gia đình tăng lên khá rõ rệt.
Mô hình cư trú bên nhà chồng xuất hiện từ khi chế độ phụ hệ của xã
hội nguyên thủy ra đời. Ở xã hội ấy, luôn coi trọng đàn ông cùng với quan
niệm của ông cha ta luôn cho rằng trách nhiệm của người con gái sau khi lấy
chồng là phải phụng dưỡng bố mẹ chồng. Người phụ nữ sau khi lấy chồng
thường phải chăm sóc các thành viên của nhà chồng, sống cho phải đạo làm
dâu. Đây cũng là một yếu tố quan trọng đánh giá tính hiếu thảo của con cái
đối với cha mẹ. Trước đây các bậc làm cha làm mẹ có nhiều con trai họ
không phải lo chuyện đất đai vì tất cả sau khi lấy vợ sẽ về sống chung dưới
một mái nhà.
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
14
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
Mô hình cư trú bên chồng thể hiện truyền thống của người Việt Nam
xưa, gia đình có vai trò lớn trong xã hội và đó thường là gia đình mở rộng,
nhiều thế hệ cùng sống chung dưới một mái nhà. Nó cũng thể hiện sự hiếu
thảo của con cháu với ông bà, nét truyền thống của gia đình, cũng là trách
nhiệm của con cái là phải phụng dưỡng bố mẹ. Người phụ nữ chỉ làm những
việc nội trợ, bếp núc.
Một minh chứng tiêu biểu mà nhóm được biết đó là gia đình Bác Nguyễn
Văn Hải (Số nhà 407, Đường Lê Lai). Khi được hỏi sau khi cưới thì hai bác
sống riêng hay ở gia đình bố mẹ luôn. Bác nói: Ở đất thành phố nhiều cái
khó khăn, đất chật, người đông, hai vợ chồng bác cũng làm công nhân thôi
tiền đâu mà mua đất trên đây với lại nhà bác có mình bác là con trai nên
phải có trách nhiệm phụng dưỡng ông bà già, mấy chị thì đi lấy chồng xa cả
cả năm mới về một lần.
+ Mô hình cư trú sống độc lập.
Gia đình là tế bào của xã hội, nó tồn tại phổ biến trong tất cả xã hội. Song
không phải tất cả các gia đình đều “ Nhất thành bất biến” mà luôn vận động
biến đổi cùng với sự vận động biến đổi xã hội. Cụ thể là:
15,8%.
Từ đó cho thấy mô hình sống độc lập đã có sự tăng mạnh mẽ qua từng
giai đoạn kể cả khu vực nông thôn và khu vực thành thị. Thể hiện qua các
yếu tố sau:
Theo số liệu thống kê của Sở Lao động thương binh xã hội Tỉnh
Thanh Hóa cho thấy có tới 17% ( năm 2004) các cặp vợ chồng sau khi kết
hôn đã ra ở riêng. Đến năm 2010 thì đã có tới 20,1% các cặp vợ chồng đã ra
sống riêng sau khi kết hôn.
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
16
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
Hiện nay thì xu hướng mô hình sống độc lập của các cặp vợ chồng
sau khi kết hôn là khá phổ biến ở cả thành thị và nông thôn. (Theo số liệu
phân tích ở bảng trên).
Quy mô gia đình càng nhỏ, ít con hơn, quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình, đặc biệt là giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ đang biến đổi
theo những hướng ngày càng bình đẳng hơn, vị trí, vại trò người phụ nữ
được đề cao hơn, tỷ lệ gia đình làm chủ ngày một tăng, nhất là ở đô thị.
Chính vì vậy ngày nay xu hướng của các cặp vợ chồng trẻ sau khi kết hôn
có tâm lý muốn ra ở riêng để có khoảng không gian riêng.
Phần lớn tâm lý của các cặp vợ chồng trẻ sau khi kết hôn thường có
tâm lý tách ra ở riêng biệt, để cơ điều kiện gắn kết với nhau, chia sẽ với
nhau và đồng cảm với nhau từ những việc nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống,
những cử chỉ quan tâm, chăm sóc lẫn nhau mà theo suy nghĩ tâm lý của các
cặp tâm lý khi ở chung thì không gian riêng ít có cơ hội để thể hiện hoặc
không nhận ra được. Chính vì vậy ngày nay các cặp vợ chồng sau khi kết
hôn thường tách ra sống độc lập.
So với trước đây chủ yếu là sau khi kết hôn thì người phụ nữ phải về
làm dâu ở nhà chồng, có trách nhiệm làm trọn đạo làm con và phụng dưỡng
bố mẹ chồng khi già yếu thì ngày nay xu hướng lấy chồng xong ra ở riêng
4. Hệ quả (Đánh giá).
Dưới tác động của quá trình Công nghiệp hóa, đô thị hóa quan hệ hôn nhân
của cư dân đô thị Thanh Hóa đã có những thay đổi mạnh mẽ. Cụ thể như
sau:
- Quan hệ hôn nhân lỏng lẻo hơn: Tác động của Công nghiệp hóa, đô
thị hóa trình độ học vấn, nhận thức của người dân được nâng cao. Đồng thời,
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
18
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
độ tuổi kết hôn muộn hơn so với trước đây. Nếu như trước đây quan hệ hôn
nhân chặt chẽ, người vợ lấy về phải “tam tòng – tứ đức” phụ thuộc hoàn
toàn vào người chồng. Ngày nay, dưới tác động của quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa các yếu tố như thu nhập, nghề nghiệp có tác động lớn đến
quan hệ hôn nhân. Do tập trung nhiều vào việc làm kinh tế, sự quan tâm đến
nhau cũng như quỹ thời gian dành cho gia đình bị hạn chế hơn so với những
gia đình khác.
Mặt khác trong trường hợp cả hai vợ chồng đều đi làm thì sự gặp gỡ
giữa họ với nhau cũng ít hơn. Việc ăn sáng và ăn trưa liên tục ngoài đường
và tại cơ quan cũng khiến cho bếp lửa trong gia đình ngày càng nguội lạnh.
Do yếu tố nghề nghiệp nên các cặp vợ, chồng cũng ít có điều kiện để chăm
sóc lẫn nhau, hơn nữa do nơi làm việc ở xa nên quan hệ tình cảm giữa vợ -
chồng cũng phần nào mờ nhạt đi rất nhiều so với trước đây. Chính vì vậy
không ít trường hợp những người gần gũi chăm sóc đầy đủ hơn cho một
trong hai người vợ hoặc chồng là những người bạn đồng nghiệp cùng cơ
quan, công sở, những người láng giềng gần gũi, thậm chí cả những người
giúp việc trong gia đình. Khi có một nhân vật thứ ba len vào cuộc sống của
hai vợ chồng thì cũng là lúc quan hệ tình cảm vợ chồng rạn nứt.
Một vài minh chứng cụ thể đó là: Ông Lê văn Hải
Khi được hỏi quan hệ tình cảm vợ chồng bác hiện nay như thế nào?
Bác trả lời: Cô chú đã cưới nhau cũng đã được 15 mươi năm rồi. Lúc mới
an ninh làm việc ở phường Đông Sơn lấy chồng ở gần nhà còn lại anh con
trai thứ 2, chị thứ 3 và anh con trai út đi học ở Hà Nội rồi lấy chồng, lấy vợ
lập nghiệp ngoài đó luôn chứ không về nhà sống, thế nên chẳng mấy khi gia
đình sum họp đầy đủ cả trừ dịp tết. Bây giờ mình cũng có tuổi rồi, lớp trẻ
khác mình lắm sống với nhau nhiều khi xung khắc.
Nhóm SV: Tổ 2, Nhóm 1
20
Môn: Xã hội học đô thị GV: Th.S Nguyễn Thị Duyên
Hay khi hỏi anh Lê văn Dũng 28 tuổi anh cho biết: Anh mới lấy vợ
được 5 tháng nhưng cũng định ra ở riêng. Anh nói: Bây giờ sống với các cụ
phức tạp lắm, mình thì công việc suốt ngày chẳng có thời gian quan tâm ông
bà, nhiều khi nhiều việc quá bù đầu cáu gắt với ông bà. Với mình đi làm
thời gian ăn uống thất thường không phù hợp với người già nên ở riêng là
tốt nhất.
- Xu hướng sống thử trước khi kết hôn tăng, bởi dưới tác động của
công nghiệp hóa, đô thị hóa dân cư sống ở vùng đô thị được tiếp cận với các
nguồn thông tin đa dạng, sử dụng được các phương tiện truyền thông hiện
đại, du nhập lối sống ngoại lai những văn hóa phẩm đồi trụy có ảnh hướng
xấu đặc biệt đối với thế hệ thanh, thiếu niên hiện nay có khả năng nhạy bén
cao. Họ xem nhẹ việc sống thử trước khi kết hôn là chuyện bình thường và
sống thử để xác lập cơ sở để sống thật. Qua đó phản ánh tính độc lập, tự chủ
của nam và nữ.
- Tỷ lệ ly hôn cao. Vì cả hai giới nam và nữ trong gia đình đều dần
khẳng định được tiếng nói của mình trong gia đình. Họ giành thời gian phấn
đấu vì công danh, nghề nghiệp nhiều hơn cho công việc gia đình. Hiện
tượng đi công tác xa dẫn đến ngoại tình khá, cãi vã nhau trong gia đình về
vấn đề kinh tế, con cái trong gia đình dẫn đến ly hôn khá phổ biến.
PHẦN 3: PHẦN KẾT LUẬN
Công nghiệp hóa, đô thị hóa là quá trình tất yếu để xã hội bước lên
một tầng phát triển mới. Quá trình này có tác động mạnh mẽ trên các mặt