TIỂU LUẬN: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp Nhà nước - Pdf 12


TIỂU LUẬN:

Một số giải pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn trong
các doanh nghiệp Nhà nước Lời mở đầu
ở nước ta trong một thời gian dài nền kinh tế chỉ tồn tạihai thành phần là kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể, các thành phần kinh tế khác là đối tượng cải tạo
xã hội chủ nghĩa.
Cũng từ đó trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong công nghiệp xây dựng, vận
tải, thương nghiệp, dịch vụ, kinh tế quốc dân đã chiếm ưu thế tuyệt đối. Nhưng hai
thành phần kinh tế này ngày càng tỏ ra kém hiệu quả và sự yếu kém của nó là một
trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế trì trệ, Nhận ra sự không hợp quy
luật của nền kinh tế chỉ duy trì chế độ sở hữu nhà nước và tập thể về tư liệu sản
xuất trong các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực lưu thông. Đại hội đảng lần 6 (1986) đã
có quyết sách chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, nghĩa là khẳng định nền kinh tế nước ta cần hình thành cơ cấu đa sở hữu.
Với nhiều thành phần kinh tế như vậy, mỗi thành phần có một vị trí vai trò

cơ bản của vốn sản xuất kinh doanh của DN.
Theo quan điểm của Marx, vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu
vào của quá trình sản xuất. Tuy định nghĩa của Marx mang một tầm khái quát lớn
nhưng do bị hạn chế bởi những điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Marx đã
quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền
kinh tế.
Paul. A, Samuelson, nhà kinh tế học thuộc trường phái" tân cổ điển " đã thừa
kế quan niệm về yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là đất đai,lao động và vốn.
Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản
xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xúât của một DN, đó là máy móc, trang
thiết bị, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ Trong quan niệm về vốn của mình
Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá có thể
chuyển đổi đem lại lợi nhuận cho DN, ông đã đồng nhất vốn với tài sản cố định
của DN. Trong cuốn kinh tế học của David Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa:
Vốn hiện vật và vốn tài chính của DN. Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng được
tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã
sản xuất ra các hàng hoá khác, vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của DN.
Như vậy, DavidBegg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Samuelson.
Nhìn chung, vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và
tài sản tài chính được các cá nhân, các tổ chức, các DN bỏ ra để tiến hành sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận.Vốn là một đầu vào của quá trình
sản xuất kinh doanh, các tác giả đã thống nhất vốn với tài sản của DN. Vốn và tài
sản là hai mặt hiện vật và giá trị của một bộ phận nguồn gốc sản xuất mà DN huy
động vào quá trình sản xuất và kinh doanh của mình,
2. Phân loại vốn
2.1 Căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn khi tham gia

dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân va vốn huy động từ các nguòn khác được đưa vào
sử dụng trong quá trình tái sản xuát xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵm có và tạo ra
tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, dinh hoạt xã hội và sinh hoạt
trong mỗi gia đình. Đối với những cơ sở sản xuất kinh doanh vốn đầu tư được
dùng để mua sắm trang thiết bị nhà xưởng Quá trình sử dụng vốn đầu tư xét về
mặt bản chất chính là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền ( vốn đầu tư
) thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh. Như
vậy, quá trình sử dụng vốn đầu tư là nhằm duy trì tiềm lực sẵn có hoặc tạo ra tiềm
lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh.
2.3 Căn cứ vào nguồn hình thanh vốn sản xuất kinh doanh, vốn DN chia
thành hai loại vốn chủ sở hữu và vốn vay
_ Vốn chủ sở hữu là số tiền vốn của các chủ sở hữu, của các nhà đầu tư đóng
góp. Dố vốn này không phải là một khoản nợ và DN không phải cam kết thanh
toán. Vốn chủ sở hữu là cơ sở để đánh giá tiềm lực tài chính của một DN vì đây là
cái mà DN thực sự có. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn pháp định và vốn tự bổ sung.
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập DN do pháp luật quy định
đối với từng loaị hình và ngành nghề kinh doanh. Còn vốn tự có loà nguồn vốn do DN tự bổ dung chủ yếu lấy một phần tằ lợi nhuận để laị DN. Vốn tự bổ sung có
thể coi là nguồn tự tài trợ cho nhu cầu vốn của DN.
_ Vốn vay là số tiền vốn mà DN đi vay, đi chiếm dụng của các đơn vị khác,
tổ chức cá nhâm bởi vậy DN phải có trách nhiệm thanh toán. Phần vốn này DN
được sử dụng với những điều kiện nhất định ( thời hạn sử dụng, lãi suất ) nhưng
không thuộc quyền sở hữu của DN. Vốn vay các tổ chức tài chính và vay dưới
dạng trái phiếu của DN.
2.4 Căn cứ vào thời gian huy dộng và sử dụng vốn có thể chia vốn của DN
thành hai loại: Vốn thường xuyên và vốn tạm thời.
_ Vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn, đây
là nguồn vốn có tính chất ổn định mà DN có thể sử dụng. Nguồn vốn này được

ii. Những vấn đề liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn:
1. Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh:
Để đánh giá trình độ qản lí, diều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN, người ta sử dụng thước đo hiệu quả sử dụng sản xuất kinh doanh của DN đó.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai giác độ là hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội. Trong phạm vi quản lí DN, người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu
quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
các DN để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi phí thấp
nhất.
Về mặt lượng, hiệu quả kinhtế biểu hiện mối tương quan kết quả thu được và
chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng
cao so vơí chi phí bỏ ra thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Về mặt chất, việc đạt được hiệu quả kinh tế cao phản ánh năng lực và trình
độ quản lí, đồng thời cũng đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu
kinh tế và mục tiêu xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, khi tiến hành sản xuất kinh doanh mỗi DN đều
có mục tiêu khác nhau. Vị trí của từng mục tiêu tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát
triển và điều kiện của từng DN. Các DN thường theo duổi nhiều mục tiêu nhưng cuối cùng các DN đều hướng tới việc làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu nghĩa
là không ngừng nâng cao lợi nhuận. Vì vậy, DN phải chú trọng nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của mình. Một DN được coi là kinh doanh có hiệu quả khi
DN đó thu được kết quả đầu ra lớn ngất với chi phí đầu vào hợp lí nhất tương ứng.
Hiệu quả sử dụng vốn của DN là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá
trình kinhdoanh hay cụ thể là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với toàn bộ
chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh đó. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn càn
thể hiên ở nhiều chỉ tiêu liên qan khác như chỉ tiêu về khả năng thanh toán, số
vòng quay của vốn Và để đánh giá một cách toàn diẹn về hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của DN nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng, cần phải

Lợi nhuận = Doanh thu - chi phí
Với một mức lợi nhuận nhất định, chi phí càng nhỏ lợi nhuân càng cao. Các
biện pháp làm giảm chi phí, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sử dụg vốn phải
trên cơ sở phản ánh chính xác đầy đủ cac loại chi phí trong điều kiện nền kinh tế
luôn có sự biến động về giá, đòi hỏi các DN phải thực hiện nghiêm ngặt các chế
độ bảo toàn vốn.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là nâng cao năng lực quản lí
các loại tài sản, tạn dụng các lợi thế của DN, phát huy khả năng tiềm tàng để tạo ra
sự phát triển của DN.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất có ý nghĩa quan trong trong việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh. Vì hiệu quả hoạt độn sản xuất
kinh doanh cuãng được xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được với chi
phí bỏ ra, trong đó các chi phí về vốn là chủ yếu.
3. Các chỉ tiêu đánh giá
Việc kểm tra tài chính đối với tài sản cố định, vốn cố định cũng như vốn lưu
động là điều quan trọng, cho hhép DN và các nhà quản lí tài chính biét được
những ưư điểm và những mặt cón tồn tại trong công tác quản lí sử dụng vốn và tài
sản tại DN. 3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
_Hiệu quả sử dụng vốn cố định: chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định
có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc giá trị tổng sản lượng
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Error!

Số vốn cố định;bình quân trong kì
= Error!

Số vốn cố định;đầu kì (cuối kì)
=

Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quayt được một
vòng. Thời gian của một vòng càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Vốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN luân chuyển liên
tục, không ngừng từ hình thức này sang hình thái khác. Tại một thời điểm vốn tồn
tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong quá trình vận động đó vốn chịu tác
động bởi nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của DN.Đó là
các nhân tố.
4.1. Chu kỳ sản xuất
Là yếu tố quan trọng gắn liền với hiệu quả sử dụng vốn,bởi lẽ độ dài của chu
kì sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp tới lượng sản phẩm dở dang, đến việc sử dụng
công suất của thiết bị, máy móc, diện tích sản xuất, đến tình hình luân chuyển vốn
lưu động và việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất thưo hợp đồng đã kí kết.
4.2 Công nghệ - kĩ thuật sản xuất
Ngày nay khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ vũ bão làm cho làn sóng
chuyển giao công nghệ giưã các nước ngày càng tăng, tạo điều kiện cho các DN
ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật trọng quá trình sản xúât kinh doanh
Vì vậy, các DN cần chú trọng đầu tư vào kĩ thuật công nghệ phù hợp, tiên
tiến vì nó cho phép sử dụng đầy đủ, hợp lí và tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu sử
dụng hợp lí công suất của thiết bị, máy móc và sức lao động nhằm góp phần nâng
cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của đồng vốn đầu tư.
Tuy nhiên, hầu hết các nhà DN Việt Nam hiện nay gặp khó khăn về vốn vì
thế khi quyết định đầu tư mua máy móc thiết bị cần phải xem xét kĩ nên lựa chọn
công nghệ hiện đại hay hợp lí. Công nghệ hiện đại đòi hỏi trình độ quản lí cao,
trình độ tay nghề công nhân giỏi, vì vậy muốn đạt hiệu quả cao cho sản xuất kinh doanh các DN cần chú trọng đến sự đồng bộ giữa các loại máy móc thiết bị cũng
như sự phù hợp giữa máy móc thiết bị với trình độ tay nghề người công nhân và
các cán bộ quản lí

sản xuất kinh doanh của DNNN

i. Mức độ sử dụng, hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của DNNN
1. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ khi xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị
trường các DN được quyền chủ động trong việc huy động vốn sử dụng vốn, tìm
kiếm thị trường, theo nguyên tắc lấy thu bù chi, đảm bảo có lãi và có nghĩa vụ
đóng góp cho ngân sách nhà nước. Trải qua thời gian dài kinh doanh kém hiệu quả
do sức ỳ tâm lí rất lớn mà cơ chế cũ để lại đã làm cản trợ sự nhạy bén thích ứng
với phương pháp điều hành kinh doanh điều hành DN mới. Tuy nhiên trong mấy
năm gần đây các DN đã dần thích ứng với cơ chế mới và tập trung phát huy thế
mạnh nên sản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn.
1.1. Quy mô và hiệu quả kinh doanh
Tính đến 1/1/2000, số lượng DNNN hiện có 5700 trong đó có 732 DN công
ích, DN trung ương là 1802
_ Nghiệp vụ quản lí ở một số DN còn nhiều hạn chế dẫn đến việc quản lí tài
chính chưa thực hiện chặt chẽ và có hiệu quả.
Trên đây là một số nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt
động của sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động quản lí sử dụng vốn nói
riêng. Trên cơ sở này, cần tìm ra những giải pháp nhanh chóng đưa ra cho các DN
thoát khỏi những khó khăn này. Các công ty hoạt động trong cùng ngành nghề thì chiếm tỉ trọng lớn trong
tổng số các tổng công ty. Ví dụ lĩnh vực xây dựng cả nước có 24 tổng công ty
chiếm 20% tổng số.


0
82,6
13,5
3,9

1.2. Về tài sản cố định và vốn kinh doanh của DN
Đến nay, ước tính TSCĐ của các DN là 156000 tỉ đồng, so với năm 1996
tăng 53%, vốn kinh doanh ước tính là 112000 tỉ đồng so với năm 1998 tăng 4,6%
trong đó bổ sung từ quỹ đầu tư phát triển là 31000 tỉ đồng, bằng 27% tổng số vốn
cả nước. Trong tổng số vốn hiện có của DN, vốn đầu tư vào tài sản cố định khoảng
90000tỉ đồng. Vốn đầu tư cho tài sản theo cơ chế hiện hành chủ yếu DN phải tự
huy động bằng nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, nhà nước và các tổ chức tín
dụng khác.
Giá trị TSCĐ đến 1/1/2000 còn là 181,5 ngàn tỉ đồng bằng 2,59 lần năm
1995 tăng bình quân 26,8% năm và chiềm 58,9 % trong tổng số giá trị tài sản nói
chung. Cũngnhư nguồn vốn, giá trị tài sản cố định của các DN nhà nước chiếm
32,7% bình quân 33,2 tỉ đồng / DN, khu vực tập thể,tư nhân chiếm 5,7 % bình quân 1,5 tỉ đồng / DN, hộ cá thể chiếm 7,1% bình quân 0,02 tỉ đồng / hộ. Tình
trạng trang thiết bị tài sản cố định thấp của DNNN, tư nhân và đặc biệt là các hộ cá
thể,đã phản ánh thực trạng trình độ kĩ thuật công nghệ nói chung của các cơ sở
thuộc khu vực trong nước thấp, lạc hậu xa so với các DN khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài.
2. Thực trạng sử dụng vốn của doanh nghiệp
Vốn cố định là khoản vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định, quy mô của
vốn cố định sẽ quyết định quy mô của TS CĐ. Song đặc biệt vận động của TSCĐ
lại quyết định lại quyết định đến sự tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định. Do đó,
nếu tài sản cố định được sử dụng tối đa công suất thì DN sẽ nhanh chóng thu hồi
được đồng vốn cố địnhđể đầu tư vào các tài sản đó.

hiện đại. Cũngnhư với sự tăng lên của nguyên giá TSCĐ là hiệu suất sử dụng tài
sản cố định cũng tăng lên đặc biệt là năm 1998. Về hiếu suất sử dụng vốn cố định
trong những năm qua doanh thu và lợi nhuận tăng cao nên hiệu quả sử dụng vốn
cố định cũng tăng. Năm 1998 hiệu quả sử dụng vốn cố định tăng 80% tuy nhiên
sang năm 1999 hiệu quả này lại giảm do đó tỉ lệ tăng vốn cố định tăng nhanh hơn
hiệ u quả tăng lợi nhuận.
Sử dụng vốn có hiệu qủa làm cho nhu cầu về nguồn vốn của DN giảm tương
đối do đó sẽ cần ít vốn hơn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh nhất định. Từ đó chi
phí cho sử dụng vốn giảm đi, tăng lợi thế cạnh tranh về chi phí và tăng sức cạnh
tranh của DNNN.
Cơ sở vật chất kĩ thuật được tăng cường cho sản xuất nhất là cho công
nghiệp thể hiện qua nguồn vốn và tài sản cố định ở các cơ sở công nghiệp. Tổng
nguồn vốn đến đầu năm 2000 ( Theo giá thực tế ) gấp 2,41 lần năm 1995, bình
quân tăng 24,6% năm. Đến thời điểm 1/1/2000 toàn ngành công nghiệp có 308
ngàn tỉ đồng trong đó DNNN chiếm 127,6 tỉ đông chiếm 41,4 % bình quân 71,4 tỉ
đồng một DN. Vai trò và tiềm năng của các khu vực và thành phầm kinh tế được củng cố và
tăng cường một bước. Do chủ trương tổ chức sản xuất nên trong 9 năm từ năm
1991-1999 số DN giảm 36% ( gồm 1000DN), từ 2782 DN ( 1990)
1973 DN (1995) và 1786 DN ( đầu năm 2000) nhưng các DN còn lại đã
được củng cố và tăng cường, nguồn vốn tăng113% ( từ 59789 tỉ đồngnăm 1995
lên 127594 tỉ đồng đầu năm 2000)
Phần lớn những sản phẩm trọng yếu của nền kinh tế quốc dân do DNN N sản
xuất toàn bộ hoặc chiếm tỉ trọng cao: sản xuất điện 99,9%, sản xuất than 97,4%
máy công cụ 100%,bia 70,6%
Tóm lại DNNN giảm về số lượng DN nhưng khả năng tích luỹ tăng lên, quy
mô mở rộng, năng lực của một số ngành quan trọng được bổ sung sản xuất kinh
doanh phát triển và đang nâng cao dần hiệu quả.

ngắn han đến hạn trả, tài sản huy động không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ
ngắn hạn, cán cân thanh toán của DN mất thăng bằng. Bêncạnh đó các DN còn sử
dụngvốn dài hạn để tài trợ cho nhu cầu ngắn hạn, điều đó đã làm tăng chi phí vốn
giảm lợi nhuận của DN. Tóm lại, việc sử dụng vốn vay của DN nhiều khi không
được sử dụng đúng mục đích, tình trạng này là phổ biến hiện nay trong các
DNNN.
Do vậy, mặc dù trong những năm qua trong ngành công nghiệp doanh thu
liên tục tăng, tăng lợi nhuận như sức sinh lợi của vốn lưu độngchưa phải là cao,
bên cạnh đó vòn g quay vốn lưu động tăng giảm thất thường. N ăm 1998 đạt 12
vòng / năm, năm 1999 lại tụt xuống 11 vòng / năm. Sự không ổn định là do tỉ lệ
tăng doanh thu thấp hơn tỉ lệ tăng vốn lưu độngbình quân /
Thực tế cho thấy, trong những năm qua tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu
hướng chững lại trong khi nhu cầu vốn kinh phí để đáp ứng các nhiệm vụ phát
triển kinh tế- xã hội ngày càng tăng trong khi khả năng ngân sách còn có hạn _
mới đạt mức 5,6% GDP. Việc cấp phát vốn cho các DNNN từ nguồn ngân sách đang dần bị cắt giảm.
Do đó, các DN tìm đến nguồn vốn vay ngày một nhiều hơn. Tuy nhiên việc vay
vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụnglà cần thiết nhưng phải được cân nhắc kĩ
lưỡng và sử dụng có hiệu quả đúng mục đích. Nhưng hiên nay việc xác định nhu
cầu vốn chưa được quan tâm đúng mức, huy động chưa hợp lí, sử dụng lại kém
hiệu quả do đó tỉ lệ nợ phải trả trên tổng nguồn vốn trên tổng DN là rất cao. Vì
vậy, các DN không độc lậpvề mặt tài chính, nguy cơ bị phá sản đối với nhiều
DNNN hiện nay là rất cao. Giài pháp cho vấn để này hiện nay đang là vấn đề bức
xúc.
3. Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lí và sử dụng vốn
3.1 Nguyên nhân khách quan
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực đã tác
độngđến tình hình sản xuất của hầu hết các DN, nhất là đối với những DN có hoạt

1. Cổ phần hoá DNNN góp phần giải quỷết những khó khăn về vốn.
Các DN luôn trong tình trạng đói vốn, tình trạng DN phải ngừng sản xuất do
đói vốn đã xuất hiện và có nhiều hướng tăng. Trong khi đó hiệu quả sử dụng đồng
vốn thấp, nguy cơ thất thoát vốn r a tăng, DNNN làm ăn thua lỗ tăng nhanh trong
vài năm lại gần đây. Hệ quả của nó là công nghệ lạc hậu thấp xa so với các nước
trên thế giới thường từ hai đến ba thế hệ, cá biệt có công nghệ lạc hậu đến năm sáu
thế hệ.
Thiếu vốn đang là khó khăn lớn nhất cho hoạt động hiện tại và cho phát triển
trong tương lai của các DN VN. Số vốn thực tế cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của một DN hiện nay chỉ mới đạt 70% mức yêu cầu về vốn cố định, 50% mức yêu
cầu về vốn lưu động. Thêm vào đó, với cơ cấu tài sản trong đó tài sản cố định
chiếm phần lớn trong tổng số tài sản nhưng đa phần là tài sản cũ lạc hậu thì nhu
cầu vốn cho đổi mới công nghệ đang là một yêu cầu sống còn đối với môĩ DN. Rõ
ràng nhu cầu về vốn hiện nay của các DN là rất đảm bảo cho sự tồn tại của chính
bản thân DN và cho sự phát triển của nền kinh tế.
Bên cạnh đó tiềm lực vốn trong dân và trong các tổ chức trong xã hội là rất
lớn lại chưa được tận dụng khai thác và sử dụng có hiệu quả cho sản xuất. Thị
trường vốn của Việt Nam còn phát triển chậm nên nguồn vốn duy nhất mà các DN
có thể khai thác hiện nay là nguồn vốn tín dụng. Song nguồn vố n tín dụng chỉ có thể đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn lại rất hạn chế. Hơn nữa, ngay cả các DN
ngân hàng cũng đang gặp khó khăn bất cập về quản lí, về hoạt động kinh doanh.
Việc cổ phần hoá các DNNN tạo điều kiện bán cổ phần thu hút vốn đầu tư
của nhiều thành phần kinh tế, mở cửa cho việc đa dạng hoá sở hữu, không riêng gì
các nhà DNNN được cổ phần hoá, mà còn góp phần đa dạng hoá sở hữu của cả
nền kinh tế. Việc chuyển các DNNN thành công ty cổ phần chính là để tận dụng
ưu điểm vốn của nó trong công ty cổ phần về huy động vốn, đó là:
Các công ty cổ phần có thể thu hút được các nguồn vốn ở quy mô rất lớn đến
các ngân hàng ( các ngân hàng tham gia với tư cách là các cổ đông) đến các khoản

hạn phát huy tối đa năng lực của người lao động có sự kết hợp với nhau để tạo
điều kiện tốt cho nhau trong công việc. Tuyển dụng và thường xuyên nâng cao tay
nghề cho đội ngũ cán bộ kĩ thuật và công nhân phụ trách phân xưởng cũng như
công nhân trực tiếp sản xuất. Thực hiện chính sách khuyến khích bằng vật chất đối
với những cán bộ công nhân viên chức hoàn thành tốt công việc đồng thời cũng
phải sử dụng nghiêm những trường hợp sai trái.
ii. Một số giải pháp đối với DNNN
1. Nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Xuất phát từ sử dụng tài sản cố định của DNNN là hiệu quả sử dụng tài sản
cố định còn thấp chưa khai thác tối đa công suất của máy móc thiết bị. Mặc dù có
sự tăng lên nguyên giá tài sản cố định nhưng tốc độ tănghiệu suất sử dụng lại thấp
hơn tốc độ tăng quy mô tài sản cố định, chứng tỏ DN chưa sử dụng tối đa hiệu quả
nguồn vốn đầu tư và tài sản cố định.
Một trong các yếu tố có thể đảm bảo cho DN thu hồi đủ vốn đầu tư là phát
huy năng lực hiện có về đầu tư mà cụ thể là khai thác tối đa công suất thiết bị.
Muốn vậy, các DN phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tìm kiếm mở rộng thị trường
tiêu thụ, tìm những khách hàng mới. Thực tế cho thấy, trong thời gian qua hoạt
động sản xuất của các DNNN diễn ra không đều, ít ổn định,tìnhtrạng sản xuấtkhi
thì thong thả, cầm chừng, khi thì vội vã khẩn trương gây nên những lãng phí về
sức người, sức của. Nhất là các DN thuộc ngành dâ giày, ngành dệt may, bhành
sản xuất thực phẩm, đồ uống. Sản phẩm do ngành da giày sản xuất ra hiện nay trên thị trường có nhiều chủng loại do nhiều hãng, nhiều DN khác nhau sản xuất. Thị
trường trong nước thì hạn hẹp, trong khi đó thị trường nước ngoài rất rộng lớn
nhưng lại cạnh tranh gay gắt. Do vậy, để thu hút được một khách hàng nào đó cho
DN đã khó mà giữ lại thành khách hàng truyền thống lại caqngf khó. Chẳng hạn
mặt hàng giày da cũng như các loại giày vải có những đặc điểm khác nhau so với
các sản phẩm tiêu dùng khác. Thông thường sản phẩm này nhu cầu tiêu dùng của
xã hội vào mùa đông htường cao hơn mùa kè và trong những tháng này cac DN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status