Giải pháp tăng cường huy động vốn tại công ty XNK Hai Bà Trưng - Pdf 12

Lời nói đầu
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào,
vốn đều đợc xem là yếu tố không thể thiếu, là đòi hỏi đầu tiên bắt buộc phải có và
đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp.
Đối với một nền kinh tế mới vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn đầu của quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nh nớc ta hiện nay, nhu cầu về vốn để đổi mới công
nghệ và phát triển của các doanh nghiệp rất lớn. Do đó, đi tìm lời giải về vốn hay
nói cách khác là các biện pháp nâng cao khả năng huy động vốn của doanh nghiệp
là vấn đề mang tính thời sự và thiết thực đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay.
Là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực ngoại thơng, Công ty xuất nhập
khẩu Hai Bà Trng đơng nhiên không nằm ngoài xu thế này. Trong quá trình thực
tập tại Công ty, đợc sự giúp đỡ và hớng dẫn rất nhiệt tình của cô giáo hớng dẫn và
các cô chú trong Công ty, em đã bớc đầu đợc làm quen với thực tế, nghiên cứu
tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vận dụng lý luận vào thực tiễn
và từ thực tiễn làm sáng tỏ hơn những lý luận đợc nghiên cứu trong nhà trờng. Qua
đó, em đã chú trọng đi sâu nghiên cứu đề tài: Giải pháp tăng cờng huy động vốn ở
Công ty xuất nhập khẩu Hai Bà Trng - một trong những vấn đề, mà theo em, có
ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Công ty
trên thị trờng quốc tế.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
ba chơng:
Chơng I. Các phơng thức huy động vốn của doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng.
Chơng II. Thực trạng huy động vốn tại Công ty xuất nhập khẩu Hai Bà
Trng.
1
Chơng III. Giải pháp tăng cờng huy vốn tại Công ty xuất nhập khẩu Hai
Bà Trng.
Bằng những kiến thức thu thập đợc trong thời gian học tập ở trờng và những

- Tiền phải đợc tích tụ và tập trung một lợng nhất định. Sự tích tụ và tập
trung một lợng tiền là để làm cho nó có đủ sức để đầu t cho một dự án kinh doanh,
cho dù là một dự án nhỏ.
3
- Khi đã có đủ về lợng, tiền phải đợc vận động nhằm mục đích sinh lợi. Cách
vận động và phơng thức vận động của tiền tệ là khác nhau tuỳ thuộc vào loại hình
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Trong quá trình vận động đó, tiền có thể thay
đổi hình thái biểu hiện, nhng trong bất kỳ trờng hợp nào, điểm xuất phát ban đầu
và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị- là tiền. Ta có thể chứng
minh điều này qua mô hình vận động của vốn tiền tệ trong các loại hình doanh
nghiệp khác nhau sau:
Đối với doanh nghiệp sản xuất, mô hình vận động của tiền là:
TLLĐ

T --- H . .. SX .. H T
ĐTLĐ
Đối với doanh nghiệp thơng mại ta có mô hình: T---- H ---- T
Trong doanh nghiệp tiền tệ mô hình vận động đơn giản hơn cả: T---- T
Kết thúc một chu kỳ vận động, dù là ở doanh nghiệp nào, đồng tiền cũng
phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu của nó (T>T). Điều
này thể hiện khả năng sinh lợi của vốn tiền tệ - đây vừa là mục đích sản xuất kinh
doanh vừa là phơng tiện để vốn đợc bảo tồn và tăng trởng, tiếp tục vận động ở chu
kỳ sau.
Nh vậy, vốn đợc biểu hiện bằng tiền nhng phải là tiền đợc vận động với mục
đích sinh lợi.
Trong nền kinh tế thị trờng mọi vận hành kinh tế đều đợc tiền tệ hoá, do vậy,
bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào, dù ở bất cứ cấp độ nào doanh
nghiệp hay quốc gia luôn luôn cần có một lợng vốn nhất định. Đối với doanh
nghiệp, vốn là điều kiện tiên quyết, là điểm xuất phát đợc ứng ra để chuyển hoá
thành các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn phải có trớc khi diễn ra

Cuối cùng, việc đảm bảo nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh nghiệp
chống đỡ đợc những tổn thất, rủi ro trong quá trình hoạt động, đặc biệt là những
lĩnh vực kinh doanh nhiều rủi ro nh ngân hàng.
Nh vậy, có thể thấy, huy động vốn là hoạt động có ý nghĩa đối với quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tiễn nền kinh tế trong những năm qua
5
cũng cho thấy doanh nghiệp nào có lợng vốn càng lớn thì càng có thế chủ động
trong kinh doanh và có thể thắng đợc trong cạnh tranh. Ngợc lại doanh nghiệp nào
thiếu vốn kinh doanh, không có chiến lợc tài trợ trớc mắt cũng nh lâu dài thờng
đánh mất vai trò của mình trên thị trờng, mất bạn hàng thờng xuyên ổn định,
không tạo ra sức mạnh và hiệu quả tổng hợp trong kinh doanh.
Tuy nhiên, đối với mỗi doanh nghiệp, để có đợc lợng vốn mong muốn không
phải là điều đơn giản và trong quá trình xây dựng kế hoạch tài trợ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải cân nhắc xem sẽ huy động vốn
từ những nguồn nào, với chi phí tơng ứng là bao nhiêu để có đ ợc cơ cấu vốn hợp
lý nhất?
1.2. Các phơng thức huy động vốn của
doanh nghiệp
Chúng ta đều đã thấy rằng vốn là điều kiện không thể thiếu đối với một
doanh nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể nh:
ngành nghề kinh doanh, quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, trình độ quản
lý, trình độ khoa học kỹ thuật, chiến lợc phát triển mà mỗi doanh nghiệp có thể
có các phơng thức huy động vốn khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị trờng, các
phơng thức huy động vốn cho doanh nghiệp ngày càng đợc đa dạng hoá, giải
phóng các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thúc đẩy sự hút vốn vào các
doanh nghiệp. Sau đây là các nguồn vốn và các phơng thức huy động vốn mà các
doanh nghiệp có thể sử dụng.
1.2.1. Nguồn vốn của doanh nghiệp.
Vốn của một doanh nghiệp là cơ sở vật chất cho hoạt động của doanh
nghiệp. Có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một doanh nghiệp trớc đối tác phụ

tính thờng xuyên (nguồn tài trợ thờng xuyên) và tính tạm thời (nguồn tài trợ tạm
thời) song hình thức này không phổ biến bằng hai hình thức trên.
1.2.2. Các phơng thức huy động vốn của doanh nghiệp.
Trên cơ sở các nguồn vốn trên, doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng có
thể sử dụng các phơng thức huy động chủ yếu sau.
1.2.2.1. Huy động vốn chủ sở hữu.
7
Khi một doanh nghiệp đợc thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có
một lợng vốn nhất định. Đây là nguồn tài trợ có độ an toàn cao nhất đối với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời nó là tiêu thức để các chủ nợ thể
hiện mức độ tin tởng và sự đảm bảo an toàn cho các món nợ. Nếu chủ sở hữu
doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản
xuất kinh doanh chủ yếu sẽ do các chủ nợ gánh chịu. Nh vậy, nguồn vốn chủ sở
hữu cũng là một yếu tố ảnh hởng đến khả năng huy động vốn từ nợ vay của doanh
nghiệp.
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì vốn chủ sở hữu có nguồn gốc khác
nhau:
Đối với doanh nghiệp Nhà nớc (Nhà nớc là chủ sở hữu) vốn đầu t ban đầu là
vốn đầu t của ngân sách Nhà nớc.
Trong doanh nghiệp t nhân, vốn đầu t ban đầu là vốn của chủ sở hữu duy
nhất của doanh nghiệp bắt buộc phải có khi thành lập doanh nghiệp, gọi là vốn
pháp định. Tùy từng ngành nghề kinh doanh mà Nhà nớc quy định một mức vốn
riêng. Chẳng hạn, theo điều 9 khoản 2 Luật doanh nghiệp T nhân (1994) quy định:
Có đủ vốn đầu t ban đầu phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh. Vốn
đầu t ban đầu không đợc thấp hơn vốn pháp định do Chính phủ quy định .
Đối với Công ty cổ phần, nguồn vốn này đợc biểu hiện dới hình thức vốn cổ
phần, vốn này do những ngời sáng lập công ty cổ phần phát hành cổ phiếu để huy
động thông qua việc bán những cổ phiếu đó.
Đối với doanh nghiệp liên doanh: vốn đầu t ban đầu đợc biểu hiện dới hình
thức vốn liên doanh, vốn này đợc hình thành do sự đóng góp giữa các chủ đầu t

những vấn đề quan trọng của công ty.
Số lợng cổ phiếu phát hành thêm đợc xác định không chỉ dựa trên nhu cầu
vốn bổ sung của công ty mà còn phụ thuộc vào số cổ phiếu tối đa công ty đợc
phép phát hành và số cổ phiếu đã phát hành trên thị trờng. Bên cạnh đó còn phải
xem xét các nhân tố khác đặc biệt là nhiệt độ trên thị trờng chứng khoán.
1.2.2.2. Huy động vốn từ Ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng
khác.
9
Trong nền kinh tế thị trờng, hầu nh không một doanh nghiệp nào có thể hoạt
động mà không vay vốn ngân hàng. Việc huy động vốn bằng hình thức này giúp
doanh nghiệp tăng khả năng tài trợ các nhu cầu bổ sung cho việc mở rộng và phát
triển sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện linh hoạt trong việc thu hẹp quy
mô kinh doanh bằng việc hoàn trả các khoản nợ khi đến hạn và giảm số lợng vốn
vay.
Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác để đáp ứng
cho nhu cầu vốn cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, song phải đáp ứng đợc
những yêu cầu nhất định của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác nh phải có
phơng án kinh doanh khả thi, phải là đơn vị hạch toán độc lập và các yêu cầu về
tài sản thế chấp, cầm cố Trên cơ sở các điều kiện xin vay đ ợc thực hiện đầy đủ,
ngân hàng sẽ cấp vốn cho doanh nghiệp dới các hình thức chủ yếu sau:
- Tín dụng hạn mức là một hình thức cho vay đợc thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó doanh nghiệp đợc phép sử dụng d nợ trong một giới hạn
và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai. Chỉ khi nào doanh nghiệp sử dụng
mới đợc coi là tín dụng cấp phát và mới đợc tính lãi.
- Chiết khấu thơng phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn, trong đó doanh
nghiệp chuyển nhợng quyền sở hữu thơng phiếu cha đáo hạn cho ngân hàng để
nhận một số tiền bằng mệnh giá thơng phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
Doanh nghiệp sử dụng hình thức vay vốn này khi có nhu cầu tiền ngay mà không
phải đợi đến ngày đáo hạn của thơng phiếu. Tuy nhiên việc vay đợc có thuận lợi
hay không còn phụ thuộc vào chất lợng của thơng phiếu nên phơng thức này

có quyền truy đòi nếu bộ chứng từ không đợc thanh toán). Trờng hợp bộ chứng từ
không hội đủ những điều kiện chiết khấu thì nhà xuất khẩu có thể yêu cầu ngân
hàng ứng trớc tiền hàng, khoảng 50%-60% giá trị hàng xuất. Hình thức tài trợ này
đợc tiến hành sau khi giao hàng.
- Hình thức mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu. Hình thức này thể hiện sự tài
trợ của ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu. Trong hình thức này các nhà nhập
khẩu phải ký quỹ. Mức ký quỹ sẽ do ngân hàng quyết định trên cơ sở thẩm định
các điều kiện về tài chính của doanh nghiệp, t cách pháp nhân của mặt hàng nhập
khẩu, tài sản thế chấp .
11
- Cho vay thanh toán bộ chứng từ nhập. Đối với nhà nhập khẩu khi hàng vừa
cập bến phải nộp tiền cho ngân hàng để thanh toán cho nhà xuất khẩu, thì mới
nhận đợc chứng từ để nhận hàng, bán hàng và thu hồi vốn. Đó là khoảng thời gian
khá dài, do đó nhà nhập khẩu cần có sự tài trợ từ ngân hàng. Căn cứ vào các yếu tố
nh đảm bảo tín dụng, mức tài trợ, khả năng thu hồi nợ đúng hạn ngân hàng sẽ
quyết định tỷ lệ tài trợ cho lô hàng nhập. Ví dụ nh nếu ký quỹ trị giá 20% giá trị lô
hàng thì ngân hàng chấp thuận tài trợ 60%, lúc này nhà nhập khẩu phải đóng thêm
20% giá trị lô hàng.
Ngoài ra, ngân hàng còn cấp vốn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông
qua các hình thức bảo lãnh và tái bảo lãnh nh: bảo lãnh vay vốn bằng cách phát
hành th bảo lãnh, bảo lãnh bằng cách phát hành L/C trả chậm
Nói chung, hiện nay, các hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp đợc các
ngân hàng sử dụng ngày càng phong phú nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có
đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, nguồn vốn vay ngân hàng
có đặc điểm là tơng đối nhỏ, thời gian ngắn, thủ tục phức tạp, điều kiện vay chặt
chẽ nên vẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn vay vốn. Do đó thông th -
ờng khi thiếu vốn các doanh nghiệp thờng nghĩ đến nguồn vốn tự có trớc khi nghĩ
đến ngân hàng.
1.2.2.3. Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu công ty.
Nh đã nói ở trên, nguồn vốn vay ngân hàng mặc dù rất linh hoạt song chỉ đáp

thời gian nào đó trớc ngày đáo hạn của trái phiếu. Loại trái phiếu này phải đợc quy
định công khai ngay khi phát hành để ngời mua trái phiếu đợc biết. Thời hạn và
giá cả khi chuộc lại cũng phải đợc quy định rõ ngay từ lúc phát hành. Thông th-
ờng, ngời ta quy định thời hạn tối thiểu mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi, ví dụ
trong thời gian 36 tháng.
- Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành một
lợng nhất định các cổ phiếu thờng. Việc huy động vốn bằng hình thức này có u
điểm là công ty có thể gắn bó ngời mua trái phiếu một cách lâu dài và đến một
thời gian thích hợp họ có thể mua cổ phiếu để trở thành cổ đông của công ty. Hơn
13
nữa, do hấp dẫn hơn, hình thức này có thể huy động đợc nguồn vốn có chi phí thấp
hơn các hình thức khác đồng thời đa dạng hoá các công cụ huy động vốn.
Ngoài các trái phiếu chủ yếu trên, công ty còn có thể lựa chọn một số loại
khác nh trái phiếu có bảo đảm (là trái phiếu đợc bảo đảm bằng tài sản của công ty)
hoặc trái phiếu không có bảo đảm (là loại trái phiếu không đợc bảo đảm bằng một
loại tài sản cụ thể nào)
Nói chung, huy động vốn cách phát hành trái phiếu công ty có u điểm là tiết
kiệm đợc chi phí đầu t; kiềm chế đợc lạm phát (do không làm tăng lợng tiền cung
ứng cho lu thông, chỉ nhằm sử dụng có hiệu quả hơn lợng tiền sẵn có trong lu
thông); chủ động khai thác trực tiếp nguồn vốn có sẵn và tiềm năng của các tổ
chức, cá nhân trong nền kinh tế. Nếu tận dụng đợc những u điểm này thì đây sẽ là
phơng thức tối u và khả thi cho giải pháp về vốn dài hạn của từng doanh nghiệp
trong nớc, đồng thời có lợi cho tổng thể nền kinh tế nớc nhà.
1.2.2.4. Huy động vốn thông qua tín dụng thơng mại.
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp có thể tăng nguồn vốn của
mình bằng cách khai thác nguồn vốn tín dụng thơng mại hay còn gọi là tín dụng
nhà cung cấp. Nguồn vốn này đợc khai thác một cách tự nhiên trong quan hệ mua
bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp.
Tín dụng thơng mại xuất hiện trên cơ sở sự cách biệt giữa sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm do đặc điểm thời vụ trong sản xuất và mua hoặc bán sản phẩm, do

ơng lai thì nó đợc gọi là chấp nhận thơng mại. Ngời mua sẽ gửi chấp nhận thơng
mại lại cho ngời bán. Ngời bán có thể giữ chấp nhận thơng mại để đợi đến ngày
lấy tiền hoặc cũng có thể bán nó cho một ngời khác hoặc đến chiết khấu ở ngân
hàng thơng mại trong những trờng hợp cần thiết.
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng hợp đồng bán hàng có điều kiện nh là một
công cụ tín dụng thơng mại. Hợp đồng này đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì
quyền sở hữu hợp pháp hàng hoá của mình cho đến khi ngời mua trả hết tiền. Các
hợp đồng bán hàng hoá có điều kiện thờng đợc trả làm nhiều lần và mỗi lần đều có
một chi phí lãi suất tơng ứng trong mỗi lần chi trả.
1.2.2.4. Huy động vốn qua hình thức tín dụng thuê mua.
15
Tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng trung và dài hạn, đợc thực hiện
thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, các động sản và bất động sản khác.
Theo hình thức này, ngời cho thuê (chủ sở hữu tài sản) sẽ chuyển giao tài sản
cho ngời đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định (thời gian này đợc ghi
trong hợp đồng). Để đổi lại, ngời đi thuê phải trả cho cho chủ sở hữu một khoản
tiền thuê tng xứng với quyền sử dụng.Trong quá trình thuê, ngời đi thuê nhận lấy
gần nh toàn bộ trách nhiệm về quyền sở hữu bao gồm việc bảo quản tài sản, chi trả
tất cả các khoản thuế và bảo hiểm tài sản. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đợc
quyền chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo những điều
kiện đã thoả thuận trong hợp đồng.
Trong trờng hợp ngời thuê không có ý định mua lại tài sản sau thời gian thuê
và chỉ sử dụng tài sản đó trong một thời hạn đã định, thời gian thuê thờng rất ngắn
so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản. Ngời đi thuê chỉ phải trả một
khoản tiền thuê theo thoả thuận còn ngời cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành
của tài sản nh chi phí bảo hiểm, thuế tài sản cùng với mọi rủi ro về hao mòn vô
hình của tài sản. Hình thức này hoàn toàn phù hợp với những hoạt động mang tính
chất thời vụ của doanh nghiệp.
Còn đối với trờng hợp ngời thuê mua lại tài sản đã thuê, thời gian thuê thờng
rất dài và chiếm phần lớn đời sống hữu ích của tài sản. Hết giai đoạn thuê thoả

đồng thời chia sẻ đợc rủi ro trong kinh doanh, song nếu doanh nghiệp quá yếu
kém thì rất dễ bị lợi dụng và thiệt hại khi dự án đổ vỡ.
1.2.2.7. Huy động vốn từ một số nguồn khác.
Trong hoạt động thực tế, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nội bộ doanh
nghiệp, gồm các khoản phải nộp và phải trả cho công nhân viên. Nguồn vốn này
tuy không lớn nhng trong nhiều trờng hợp nó giúp doanh nghiệp giải quyết đợc
những nhu cầu vốn có tính có tính chất tạm thời.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể tận dụng các nguồn vốn nhàn rỗi khác nh
các khoản phải nộp cho nhà nớc nhng cha nộp, các khoản phải trả cho các đơn vị
nội bộ nhng cha trả, các khoản chi phí trích trớc Các nguồn này sẽ đáp ứng đ ợc
phần nào nhu cầu vốn của doanh nghiệp, tuy nhiên nó chỉ trong thời gian ngắn và
không ổn định. Do đó các doanh nghiệp thờng chỉ coi nguồn vốn này nh một
17
nguồn mang tính chất bổ sung chứ không phải là một trong những nguồn tài trợ
chính.
Trên đây là những hình thức cơ bản mà các doanh nghiệp có thể sử dụng để
huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuỳ thuộc vào các đặc
điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một hình thức huy động riêng.
Tuy nhiên dù có lựa chọn hình thức nào, doanh nghiệp cũng phải xem xét các
nhân tố có thể gây ảnh hởng đến quá trình huy động để có thể hạn chế đợc những
tác động tiêu cực đồng thời tận dụng đợc những u thế mà chúng tạo ra. Phần tiếp
theo sẽ trình bày về những nhân tố này.
1.3. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng
huy động vốn của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng, khả năng huy động vốn của doanh nghiệp chịu
tác động của nhiều nhân tố, cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
1.3.1. Nhân tố chủ quan.
1.3.1.1. Chi phí vốn, cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Vốn là nhân tố cần thiết của sản xuất. Cũng nh bất kỳ một nhân tố nào khác,
để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một chi phí nhất định. Chi phí của

nghiệp:
- Rủi ro trong kinh doanh đợc coi là một trong những nhân tố có tác động
đến việc lựa chọn nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Rủi
ro đề cập đến ở đây là rủi ro cố hữu của tài sản của doanh nghiệp nếu doanh
nghiệp không sử dụng nợ. Nh vậy, đối với những doanh nghiệp hoạt động trong
những lĩnh vực có rủi ro kinh doanh lớn thì việc sử dụng nợ nhiều không phải là
một giải pháp huy động tối u.
- Nhân tố thứ hai là vấn đề thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong trờng hợp
thuế suất thuế thu nhập của doanh nghiệp cao thì việc sử dụng nợ nhiều hơn sẽ có
lợi vì khi sử dụng nợ, phần lãi vay phải trả đợc tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ trớc
khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp và nhờ đó hạ thấp đợc chi phí thực tế của nợ.
{Chi phí nợ sau thuế = Chi phí nợ trớc thuế*(1- thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp)}.
19
- Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trong điều kiện thị trờng thay đổi
hay khả năng linh hoạt tài chính của doanh nghiệp cũng là một nhân tố ảnh hởng
đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng đảm bảo một
nguồn vốn ổn định để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong thời
gian dài, sẽ dễ dàng hơn trong việc kêu gọi nguồn tài trợ từ các nhà đầu t. Thật
vậy, khi đánh giá đặc điểm này chúng ta có thể thấy rõ ràng là những nhà cung
cấp vốn muốn tăng cờng tài trợ cho những doanh nghiệp có thể tự chủ về tài chính
hơn là những doanh nghiệp thụ động, và do đó ảnh hởng tới cơ cấu vốn của doanh
nghiệp.
- Nhân tố thứ t liên quan đến quan điểm của các nhà quản lý về việc sử dụng
vốn. Có những nhà quản lý sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm sử dụng nhiều nợ hơn để
tăng lợi nhuận song có những ngời lại thích sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn vì
mục tiêu an toàn cho doanh nghiệp.
Bốn nhân tố trên quyết định rất lớn đến mục tiêu cơ cấu vốn của doanh
nghiệp. Trong những thời kỳ khác nhau, tuỳ thuộc vào những điều kiện cụ thể của
nền kinh tế và của chính doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽ đa ra một cơ cấu vốn

1.3.1.3. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn của một doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, nó phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động sản
xuất kinh doanh đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Một doanh nghiệp có
hiệu quả sử dụng vốn cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp làm ăn có lãi, hiệu
quả sản xuất kinh doanh cao. Trong nền kinh tế thị trờng, đây là một nhân tố quyết
định khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo chiều rộng lẫn
chiều sâu. Hay nói cách khác, khi phân chia vốn vào các mục đích sử dụng một
cách hợp lý và đợc bảo toàn, doanh nghiệp có thể tiết kiệm đợc vốn và tránh đợc
lãng phí, tạo đợc uy tín tốt với bạn hàng và đơng nhiên là làm ăn có hiệu quả hơn,
từ đó nâng cao khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khách quan và chủ quan nh: các chế độ, chính sách của nhà nớc có liên
quan, việc nắm vững và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, cách thức tổ
chức quản lý sản xuất kinh doanh, năng lực con ngời đặc biệt là đội ngũ quản lý,
21
việc chọn lựa và thực thi các chiến lợc của doanh nghiệp Để nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn và bảo toàn vốn, các doanh nghiệp thờng áp dụng một số nguyên tắc
sau:
- Nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp: nh đã nói ở trên hiệu quả sử dụng
vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhng trong đó trình độ quản trị doanh nghiệp đóng
vai trò quyết định. Việc thực hiện tốt bốn chức năng cơ bản: hoạch định, tổ chức,
điều khiển, kiểm tra là điều kiện tiên quyết để đạt đợc hiệu quả sử dụng vốn. Vì
vậy, việc trang bị hay trang bị lại những kiến thức quản trị kinh doanh hiện đại, tạo
điều kiện cho cán bộ quản lý tham gia vào các khoá đào tạo, bồi dỡng về quản trị,
học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nớc phát triển là việc làm cần thiết.
- Lựa chọn phơng án kinh doanh có hiệu quả, tránh lãng phí: để làm đợc
điều này doanh nghiệp phải dự đoán đợc thị trờng hiện tại cũng nh tơng lai để xây
dựng những phơng án kinh doanh phù hợp. Sau đó, trên cơ sở phân tích chi phí lợi
ích của dự án một cách cụ thể, doanh nghiệp mới tiến hành tìm kiếm các phơng

mỗi doanh nghiệp có một cách áp dụng khác nhau và hiệu quả đạt đợc cũng khác
nhau.
Ngoài một số nhân tố chủ quan trên, khả năng huy động vốn của doanh
nghiệp còn phụ thuộc vào chất lợng đội ngũ cán bộ công nhân viên của doanh
nghiệp, trình độ kỹ thuật và công nghệ Một doanh nghiệp có đội ngũ lao động
lành nghề, luôn học hỏi, có nỗ lực, có nhiệt tình cao trong công việc là điều kiện
đảm bảo cho sự thành công của doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt
động trong những lĩnh vực nhạy cảm với sự biến đổi của công nghệ và thị trờng.
Trình độ khoa học công nghệ cũng đóng góp một vai trò quan trọng trong việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm thiểu chi phí, tạo đợc những sản phẩm mới
có chất lợng đợc thị trờng chấp nhận Trên cơ sở những thành công đó, doanh
nghiệp ngày càng khẳng định đợc vị trí của mình, tăng uy tín trên thị trờng; từ đó
các bạn hàng sẽ yên tâm khi giao dịch với doanh nghiệp, cũng nh các ngân hàng
sẽ dễ dàng ủng hộ doanh nghiệp mỗi khi doanh nghiệp cần vốn. Đây là những
nhân tố chủ quan có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp trong xu hớng ngày
23
càng nâng cao vai trò làm chủ thực sự của ngời lao động và trình độ khoa học kỹ
thuật trong từng doanh nghiệp hiện nay.
1.3.2. Nhân tố khách quan.
Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào những nhân tố bên
trong- những nhân tố của chính bản thân doanh nghiệp. Đó là điều hoàn toàn dễ
hiểu nh đã đợc trình bày ở trên. Tuy nhiên, bên cạnh những nhân tố mang tính chất
chủ quan đó, trong quá trình hoạt động, chính sách huy động vốn của doanh
nghiệp còn chịu tác động của những nhân tố khách quan sau:
1.3.2.1. Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nớc.
Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nớc là một nhân tố có tác động trực tiếp
đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị tr-
ờng, và vì thế tất nhiên ảnh hởng đến hoạt động huy động vốn. Trên cơ sở pháp
luật kinh tế và các chính sách kinh tế, Nhà nớc tạo môi trờng và hành lang cho các
doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hớng các hoạt động đó theo kế

khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.
1.3.2.2. Các yếu tố của nền kinh tế.
Là một chủ thể của nền kinh tế, mọi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là
hoạt động huy động vốn gắn bó chặt chẽ và chịu ảnh hởng của các nhân tố trong
nền kinh tế nh lãi suất ngân hàng, thuế, thu nhập dân c.
- Lãi suất ngân hàng là nhân tố đầu tiên mà mọi doanh nghiệp phải cân nhắc
khi lựa chọn nguồn vốn cho kế hoạch tài trợ của mình. Đây là nhân tố ảnh hởng
đến chi phí đầu t của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp phải tính toán hiệu quả
đầu t và yếu tố lãi suất tiền vay. Thông thờng, khi lãi suất ngân hàng quá cao thì
cơ hội đầu t ít đi và vì thế nhu cầu huy động vốn của doanh nghiệp cũng giảm
theo.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hởng đến quyết định lựa chọn nguồn tài
trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong trờng hợp thuế
thu nhập doanh nghiệp khá cao thì doanh nghiệp có xu hớng thích sử dụng nợ hơn
vì lãi nợ vay đợc tính vào chi phí hợp lý hợp lệ trớc khi tính thuế. Do đó việc tăng
tỷ trọng nợ trong cơ cấu vốn sẽ làm giảm chi phí vốn của doanh nghiệp.
25

Trích đoạn Nhu cầu vốn của Công ty trong thời gian tới. Tăng vay vốn ngân hàng thông qua việc sử dụng linh hoạt các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu. Phát hành trái phiếu công ty. Cổ phần hoá doanh nghiệp. Sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu qủa.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status