Lời nói đầu
Hơn một thập kỷ qua, với đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc, nền kinh tế
nớc ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc và bớc đầu đã thu đợc những kết quả đáng khích lệ. Những
năm gần đây (Nhất là từ năm 1991 đến nay) nền kinh tế đang dần khởi sắc, đã có tích
luỹ từ nội bộ nền kinh tế và thu hút đầu t nớc ngoài càng lớn, tạo thế và lực nhanh
hơn.
Bên cạnh thuận lợi đó các doanh nghiệp quản lý kinh doanh trong nớc, đặc biệt
là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng phục vụ nông nghiệp không ít
khó khăn thử thách: trang thiết bị lạc hậu, trình độ công nghệ, trình độ quản lý cha
theo kịp với đà lên ngày càng cao của thị trờng cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao
cấp tuy đã xoá bỏ, từ lâu nhng vẫn còn là sức ỳ tâm lý rất lớn cản trở sự nhạy bén linh
ứng với phơng pháp và cách thức điều hành doanh nghiệp lớn nhất là trong lĩnh vực
tài chính. Các doanh nghiệp còn nhiều lúng túng trong huy động, quản lý và sử dụng
vốn, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bị rơi vào tình trạng thiếu vốn.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do công tác quản lý và sử
dụng vốn kém hiệu quả.
Xuất phát từ thực tế trên, sau một thời gian thực tập tại công ty vật t hàng hoá
và vận tải, đợc sự giúp đỡ của giám đốc và các phòng ban trong công ty cùng với sự
hớng dẫn tận tình của thầy giáo Vũ Duy Hào, tôi đã tiến hành phân tích những số liệu
của tài chính của vật t hàng hoá và vận tải để đánh giá những mặt mạnh cũng nh
những hạn chế trong hoạt động quản lý sử dụng vốn của công ty trong 3 năm gần đây.
Trên cơ sở đó đa ra một số kiến nghị với mong muốn có thể góp phần nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn tại công ty vật t hàng hoá và vật tải.
Trong khuôn khổ của chuyên đề thực tập tôi xin chọn đề tài nghiên cứu: " Giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty vật t hàng hoá và vận tải ". Đề
tài bao gồm 3 phần:
Phần I : Vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong cơ chế thị tr-
ờng
Phần II : Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty hàng hoá và vận tải.
Các quan điểm của vốn ở trên tuy thể hiện đợc vai trò tác dụng trong những
điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể nhng vẫn bị hạn
chế bởi sự đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện
bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Vốn và tài sản là hai
mặt có giá trị và hiện vật của một bộ phận nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp huy
động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, vốn đợc quan niệm là toàn bộ những giá
trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Khái niệm
này không những chỉ ra vốn là một yếu tố đầu vào của sản xuất mà còn đề cập tới sự
3
tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt
mà trong toàn bộ trong mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục trong suốt thời
gian tồn tại của doanh nghiệp.
Nh vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn và phát triển
vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, các doanh nghiệp cần
thiết phải nhận thức đầy đủ hơn về vốn cũng nh những đặc trng của vốn. Điều đó có ý
nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp vì chỉ khi nào các doanh nghiệp hiểu rõ đợc
tầm quan trọng và giá trị của đồng vốn thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng nó một
cách có hiệu quả đợc.
Các đặc trng cơ bản của vốn:
- Vốn phải đại diện cho một lợng tài sản nhất định: có nghĩa là vốn đợc biểu
hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt đợc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vốn phải đợc tích tụ và tập trung đến một lợng nhất định mới có thể phát huy
tác dụng để đầu t vào sản xuất kinh doanh.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian; điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu t
và tính hiệu quả sử dụng của đồng vốn.
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô chủ và
Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng, vốn chủ sở
hữu có vai trò rất quan trọng nhng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn. Để
đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tăng cờng vốn huy
động các nguồn vốn khác dới hình thức vay nợ, liên doanh liên kết, phát hành trái
phiếu và các hình thức khác.
a. Vay vốn
Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân, đơn vị
kinh tế để tạo lập hoặc tăng thêm nguồn vốn.
- Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng rất quan trọng đối với các doanh
nghiệp. Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn hạn hoặc dài
hạn theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở các hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng
và doanh nghiệp
- Vốn vay trên thị trờng chứng khoán.
Tại những nền kinh tế có thị trờng chứng khoán phát triển, vay vốn trên thị tr-
ờng chứng khoán là hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể
phát hành trái phiếu, đây là công cụ tài chính quan trọng dễ sử dụng vào mục đích vay
5
dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh. Việc phát hành trái phiếu cho phép
doanh nghiệp có thể thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt
động kinh doanh của mình.
b. Vốn liên doanh liên kết.
Doanh nghiệp có thể liên doanh liên kết hợp tác với các doanh nghiệp khác để
huy động thực hiện mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh. Đây là một hình thức
huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền
với việc chuyển giao công nghệ, thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản
phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp; doanh nghiệp cũng có thể tiếp
nhận máy móc, thiết bị nếu hợp đồng liên doanh quy định góp vốn bằng máy móc
thiết bị.
c. Vốn tín dụng thơng mại.
Thuê tài chính là một phơng thức tài trợ tín dụng trung hạn và dài hạn theo hợp
đồng. Theo phơng thức này, ngời cho thuê thờng phải mua tài sản, thiết bị mà ngời
thuê cần và đã thơng lợng từ trớc các điều kiện mua tài sản từ ngời cho thuê. Thuê tài
chính có đặc trng:
n Thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần lớn đời sống hữu ích của
tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi
phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng. Trong Thời hành thuê chính thức các
bên trong hợp đồng không đợc tự ý huỷ hợp đồng.
ợ Ngoài khoản tiền thuê tài sản trả cho bên cho thuê, các khoản chi phí bảo d-
ỡng vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản, cũng nh các rủi ro khác đối với tài sản do
bên thuê phải chịu cũng tơng tụ nh tài sản công ty.
Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là cơ sơ để doanh
nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp tuỳ theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh
doanh quy mô, trình độ quản lý, trình độ khoa học kỷ thuật cũng nh chiến lợc phát
triển và chiến lợc đầu t của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đối với việc quản lý vốn ở các
doanh nghiệp trọng tâm cần đề cập là hoạt động luân chuyển của vốn, sự ảnh hởng
qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả quay vòng vốn. Vốn cần
đựơc xem xét dới quan điểm hiệu quả.
2.2. Phân loại vốn theo phơng thức chu chuyển
2.2.1. Vốn cố định
Trong quá trình sản xuất kinh doanh sự vận động của vốn cố định gắn liền với
hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định. Vì vậy, việc nghiên cứu về vốn
cố định trớc hết phải dựa trên cơ sơ tìm hiểu tài sản cố định.
7
a. Tài sản cố định.
Căn cứ vào tính chất và tác dụng trong khi tham gia vào quá trình sản xuất, t
liệu sản xuất đợc chia làm hai bộ phận là đối tợng lao động và t liệu lao động. Đặc
điểm cơ bản của t liệu lao động là chúng có thể tham gia trợc tiếp hoặc gián tiếp vào
nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, mặc dù t liệu sản xuất bị hao mòn nhng
và của sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm
* Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng.
* Tài sản cố định mà doanh nghiệp phải bảo quản và cất giữ hộ Nhà nớc.
Việc phân loại tài sản cố định theo cách này giúp cho doanh nghiệp biết đợc vị
trí và tầm quan trọng của tài sản cố định dùng vào mục đích hoạt động sản xuất kinh
doanh và phơng hớng đầu t vào tài sản cố định hợp lý.
Căn cứ vào tình hình sử dụng thì tài sản cố định của doanh nghiệp đợc chia
thành các loại sau:
* Tài sản cố định đang sử dụng.
* Tài sản cố định cha s dụng
* Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý.
Các phân loại này giúp cho doanh nghiệp biết một cách tổng quát tình hình s
dụng tài sản cố định, mức độ huy động chúng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và
xác định đúng đắn số tài sản cố định cần tính khấu hao, có biện pháp thanh lý những
tài sản cố định đã hết thời gian thu hồi vốn.
b. Vốn cố định của doanh nghiệp
Việc đầu t thành lập một doanh nghiệp bao gồm việc xây dựng nhà xởng, nhà
làm việc và quản lý, lắp đặt hệ thống các máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm, mua
sắm xe cộ và các phơng tiện vận tải khi các công việc đ ợc hoàn thành và bàn giao
thì doanh nghiệp mới có thể bắt đầu tiến hành sản xuất đợc. Nh vậy, vốn đầu t ban
đầu đã chuyển thành vốn cố định của doanh nghiệp.
Vậy: vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc về
tài sản cố định; đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu
kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử
dụng. Vốn cố định của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sản xuất - kinh
doanh. Việc đầu t đúng hớng tài sản cố định sẽ mang lại hiệu quả và năng xuất rất cao
trong kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và đứng vững trong cơ
chế thị trờng.
9
10
Vậy: vốn lu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trớc về tài sản lu động nhằm
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất cho doanh nghiệp đựơc thực hiện thờng xuyên,
liên tục.
Trong doanh nghiệp, việc quản lý tốt vốn lu động có vai trò rất quan trọng. Một
doanh nghiệp đợc đánh giá là quản lý vốn lu động có hiệu quả khi với một khối lợng
vốn không lớn doanh nghiệp biết phân bổ hợp lý trên các giai đoạn luôn chuyển vốn
để số vốn lu động đó chuyển biến nhanh từ hình thái này sang hình thái khác, đáp ứng
đựơc các nhu cầu phát sinh. Muốn quản lý tốt vốn lu động các doanh nghiệp trớc hết
phải nhận biết đợc các bộ phận cấu thành của vốn lu động trên cơ sở đó đề ra đợc các
biện pháp quản lý phù hợp với từng loại.
Căn cứ vào công dụng của các tài sản lu động thì vốn lu động bao gồm:
* Vốn lu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất. Ví dụ vốn nguyên vật liệu, nhiên
liệu, phụ tùng thay thế, vốn về công cụ dụng cụ
* Vốn lu động nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất: vốn sản phẩm đang chế tạo, vốn
bán thành phẩm tự chế, vốn về chi phí tổn đợc phân bổ
* Vốn lu động lu động nằm trong quá trình lu động: vốn thành phẩm và hàng hoá
mua ngoài, vốn tiền tệ, vốn tạm ứng
Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lu động bao gồm:
* Tiền mặt và chứng khoán có thể bán đợc.
* Các khoản phải thu.
* Các khoản dự trữ: vật t, hàng hoá
3. Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp.
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh dù với bất kỳ quy mô nào cũng cần
phải có một lợng vốn nhất định, nó là điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát triển của
các doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên
doanh nghiệp đó phải có một lợng vốn nhất định, lợng vốn đó tối thiểu phải bằng lợng
vốn pháp định ( lợng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại hình doanh
1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn.
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
một doanh nghiệp, ngời ta sử dụng thớc đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc đánh giá trên hai góc độ: hiệu quả kinh
tế và hiệu quả xã hôi. Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, ngời ta chủ yếu quan tâm
đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lợc của doanh nghiệp để đạt đợc kết quả cao nhất với chi phí hợp lý nhất. Do
vậy, các nguồn lực kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, việc
12
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thờng xuyên và bắt buộc đối với
doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy đợc hiệu quả của hoạt
động kinh doanh: nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lơid tối đa nhằm
mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu.
Hiệu quả sử dụng vốn đợc lợng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả
năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn Nó phản ánh quan hệ
giữa dầu ra và đầu vào của quá trính sản xuất kinh doanh thông qua thớc đo tiền tệ
hay cụ thể là mối tơng quan giữa kết quả thu đợc với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh thông qua thớc đo tiền tệ hay cụ thể là mối tơng quan giữa kết
quả thu đợc với chi phí bỏ ra để thể hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu
đợc càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững
mạnh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện
sau:
s Phải khai thác nguồn lực vốn một cách triển để nghĩa là không để vốn nhàn
rỗi mà không sử dụng, không sinh lời.
r Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm.
lợng tài chính. Về nguyên tắc, phơng pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định đợc các ng-
ỡng, các định mức để nhận xét, đánhgiá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sơ
so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính đợc phân thành các
nhóm tỷ lệ đặc trng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của
doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ
lệ về khả năng sinh lời. Mối nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ,
từng bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trờng hợp khác nhau, tuỳ theo giác
độ phân tích, ngời phân tích lựa chọn những nhóm chỉe tiêu khác nhau. Để phục vụ
cho việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ngời ta thờng dùng một số
các chỉ tiêu mà ta sẽ trình bày cụ thể trong phần sau.
14
2. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chung.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách chung nhất ngời
ta thờng dùng một số chỉ tiêu tổng quát nh hiệu suất sử dụng tổng tài sản, doanh lợi
vốn, doanh lợi vốn chủ sở hữu. Trong đó:
Hiệu suất sử dụng Doanh thu
Tổng tài sản Tổng tài sản
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho biết một đồng
tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu vì vậy nó càng lớn càng tốt.
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất đợc dùng để đánh giá khả năng sinh sợi của
một đồng vốn đầu t. Chỉ tiêu này còn đợc gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu t, nó cho biết một
đồng vốn đầu t đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình độ sử dụng
vốn của ngời quản lý doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Ba chỉ tiêu trên cho ta một cái nhìn tổng quát về hiệu quả s dụng vốn cua doanh
nghiệp nhng nh ta đã biết nguồn vốn của doanh nghiệp đợc dùng để đầu t cho các loại
tài sản khác nhau nh tài sản cố định, tài sản lu động. Do đó, các nhà phân tích không
chỉ quan tâm tới việc đo lờng hiệu quả sử dụng của tổng nguồn vốn mà còn chú trọng
tài sản cố định
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Doanh thu thuần
=
Sức sinh lời của tài
sản cố định
Lợi nhuận
Nguyên giá bình quân TSCĐ
=
Hệ số đổi mới
tài sản cố định
Giá trị TSCĐ mới tăng trong kỳ
Giá trị TSCĐ có ở cuối kỳ
=
Hai chỉ tiêu này không chỉ phản ánh sự tăng giảm thuần tuý về tài sản cố định
mà còn phản ánh trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật, tình hình đổi mới trang thiết bị
của doanh nghiệp.
Ngoài ra để đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp sử
dụng hai chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu thuần.
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định, chỉ tiêu này
càng lớn càng tốt.
2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động.
Khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động ngời ta thờng dùng các
chỉ tiêu sau:
17
Giá trị TSCĐ lạc hậu, cũ giảm trong kỳ
doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để xác định tốc độ luân
chuyển của vốn lu động ngời ta dùng chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là hệ số luân chuyển vốn lu động, nó cho biết vốn lu
động đợc quay mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng thì chứng tỏ hiệu quả sử
dụng vốn lu động tăng và ngợc lại.
18
Sức sinh lợi của
vốn lưu động
Lợi nhuận
VLĐ bình quân trong kỳ
=
Số vòng quay của
vốn lu động
Doanh thu thuần
VLĐ bình quân trong kỳ
=
Thời gian của một
Vòng luân chuyển
Thời gian của một kỳ phân tích
Số vòng quay VLĐ trong kỳ
=
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lu động quay đợc một vòng,
thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của vốn lu động
càng lớn và làm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn.
Mặt khác, do vốn lu động biểu hiện dới nhiều dạng tài sản lu động khác nhau
nh tiền mặt, nguyên vật liệu, các khoản phải thu nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn lu động ngời ta còn đi đánh giá các mặt cụ thể trong công tác quản lý sử dụng
vốn lu động. Sau đây là một số chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh chất lợng của công tác
quản lý ngân quỹ và các khoản phải thu.
lơngj hàng tiêu thụ do phơng thức thanh toán quá chặt chẽ ( Chủ yếu là thanh toán
ngay hay thanh toán trong một thời gian ngắn).
Chỉ tiêu này cho thấy để thu hồi đợc các khoản phải thu cần một thời gian là
bao nhiêu. Nếu số ngày này mà lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho khách hàng
thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm và ngợc lại, số ngày quy định bán chịu
cho khách lớn hơn thời gina này thì có dấu hiệu chứng tỏ việc thu hồi nợ đạt trớc kế
hoạch về thời gian. Ngoài ra, để phục vụ cho quá trình phân tích ngời ta còn sử dụng
kết hợp với các chỉ tiêu tài chính khác nh: tỷ suất tài trợ tỷ suất đầu t, tỷ suất lợi
nhuận trên doanh thu,
Trên đây là các chỉ tiêu cơ bản đợc sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
tại các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh nói chung cũng nh quản lý và sử dụng vốn nói riêng doanh nghiệp luôn chịu
tác động của rất nhiều các nhân tố. Do vậy, khi phân tích, đánh giá để đa ra giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì doanh nghiệp phải xem xét đến các nhân tố ảnh h-
ởng trực tiếp cũng nh ảnh hởng gián tiếp tới hiệu quả sử dụg vốn của doanh nghiêp.
3. Các nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
3.1. Chu kỳ sản xuất
Đây là một đặc điểm quan trọng gắn trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở
rộng sản xuất kinh doanh. Ngợc lại, nếu chu kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ chịu
một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các khoản vay.
3.2. Kỹ thuật sản xuất.
Các đặc điểm riêng có về kỹ thuật tác động liên tục tới một ssó chỉ tiêu quan
trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định nh hệ số đổi mới máy móc thiết bị, hệ
số sử dụng về thời gian, về công suất.
Nếu kỹ thuật sản xuất đơn giản, doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy
móc thiết bị nhng lại phải luôn đối phó với các đối thủ cạnh tranh và yêu cầu của
20
Thời gian một vòng
quay các khoản