Giải pháp nâng cao vai trò quản Lý và hiệu quả sử dụng vốn ở Tổng Công ty đường sông Miền Bắc - Pdf 12

Phần mở đầu
Khi nói đến sản xuất kinh doanh thì cho dù dới hình thức kinh tế xã hội
nào vấn đề đợc nêu ra trớc tiên cũng là hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh là mục
tiêu phấn đấu của một nền sản xuất, là thớc đo về mọi mặt của nền kinh tế quốc
dân cũng nh từng đơn vị sản xuất.
Lợi nhuận kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng là mục tiêu lớn nhất của
mọi doanh nghiệp. Để đạt đợc điều đó mà vẫn đảm bảo chất lợng tốt, gía thành
hợp lí, doanh nghiệp vẫn vững vàng trong cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải
không ngừng nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh, trong đó quản lí và sử
dụng vốn là vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định kết quả và hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong cơ chế bao cấp trớc đây vốn sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp Nhà nớc hầu hết đợc Nhà nớc tài trợ thông qua cấp phát vốn, đồng thời
Nhà nớc quản lí về giá cả sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch lãi Nhà nớc thu - lỗ
Nhà nớc bù, do vậy các doanh nghiệp Nhà nớc hầu nh không quan tâm đến hiệu
quả sử dụng của đồng vốn. Nhiều doanh nghiệp đã không bảo toàn và phát triển
đợc vốn, hiệu quả sử dụng vốn thấp, tình trạng lãi giả lỗ thật ăn mòn vào vốn
xảy ra phổ biến trong các doanh nghiệp Nhà nớc. Bớc sang nền kinh tế thị trờng
có sự quản lí và điều tiết vĩ mô của Nhà nớc, nhiều thành phần kinh tế song
song tồn tại, cạnh tranh lẫn nhau gay gắt. Bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn
hiệu quả, đứng vững trong cơ chế mới là những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu
quả dẫn đến phá sản hàng loạt.
Trớc tình hình đó, Nghị quyết đại hội lần thứ VI BCH Trung ơng Đảng
cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh " Các xí nghiệp quốc doanh không còn đợc
bao cấp về giá và vốn, phải chủ động kinh doanh, phải bảo đảm tự bù đắp chi
phí, nộp đủ thuế và có lãi...". Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải gắn
với thị trơng, bám sát thị trờng, tự chủ về vốn và tự chủ trong sản xuất kinh
doanh.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, nhất là trong kinh doanh đờng
sông không phải là vấn đề mới mẻ. Nó đợc hình thành ngay sau khi tài chính ra
1

Vai trò và nội dung của quản lý và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn ở doanh nghiệp sản xuất
I. Vốn và quản lí vốn trong kinh doanh
1. Khái niệm về vốn sản xuất kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào lúc đầu cũng phải có một lợng tiền vốn nhất
định để thực hiện những khoản đầu t ban đầu cần thiết cho việc xây dựng và
khởi động doanh nghiệp. Vốn là yếu tố vật chất cần thiết nhất và cần đợc sử
dụng có hiệu quả. Doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ vật t, để đầu t mua sắm
máy móc thiết bị, để chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh và đợc thể hiện
ở nhiều hình thái vật chất khác nhau. Do có sự tác động của lao động vào đối t-
ợng lao động thông qua t liệu lao động thì hàng hoá và dịch vụ đợc tạo ra nhằm
tiêu thụ trên thị trờng. Sau cùng các hình thái vật chất khác nhau sẽ lại đợc
chuyển hoá về hình thái tiền tệ ban đầu. Quá trình trao đổi đó đảm bảo cho sự
ra đời, vận hành và phát triển của doanh nghiệp có thể diễn tả nh sau:
Tài sản thực tế
Tiền Tài sản thực tế - Tài sản có tài chính Tiền
Tài sản có tài chính
Sự thay đổi trên làm thay đổi số d ban đầu (đầu kỳ) của ngân quỹ và sẽ dẫn
đến số d cuối kỳ lớn hơn số d đầu kỳ - tạo ra giá trị thặng d. Điều đó có nghĩa là
số tiền thu đợc do tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ phải đảm bảo bù đắp toàn bộ chi
phí và có lãi. Nh vậy số tiền đã ứng ra ban đầu không những chỉ đợc bảo tồn mà
còn đợc tăng thêm do hoạt động kinh doanh đem lại. Toàn bộ giá trị ứng ra cho
sản xuất kinh doanh đó đợc gọi là vốn. Tuy nhiên giá trị ứng trớc đó không đơn
thuần là vật chất hữu hình, mà một số tài sản không có hình thái vật chất cụ thể
nhng nó chứa đựng một giá trị đầu t nhất định nh: tên doanh nghiệp, nhãn hiệu
sản phẩm, lợi thế thơng mại, đặc quyền kinh doanh... cũng có giá trị nh vốn.
Những phân tích khái quát trên đây cho ta quan điểm toàn diện về vốn: "Vốn là
một phạm trù kinh tế cơ bản. Trong doanh nghiệp vốn là biểu hiện bằng tiền
của tất cả các loại tài sản và các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng trong sản
xuất kinh doanh. Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng d".

các tài sản cố định có giá trị cao có thể có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi
vay vốn.
b) Cơ cấu vốn cố định:
4
Cơ cấu vốn cố định là tỉ lệ phần trăm của từng nhóm vốn cố định chiếm
trong tổng số vốn cố định. nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có một ý nghĩa quan
trọng là cho phép đánh giá việc đầu t có đúng đắn hay không và cho phép xác
định hớng đầu t vốn cố định trong thời gian tới. Để đạt đợc ý nghĩa đúng đắn
đó, khi nghiên cứu cơ cấu vốn cố định phải nghiên cứu trên hai giác độ: nội
dung cấu thành và mối quan hệ tỉ lệ trong mỗi bộ phận so với toàn bộ. Vấn đề
cơ bản trong việc nghiên cứu này phải là xây dựng đợc một cơ cấu hợp lý phù
hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản
xuất, trình độ quản lý, để các nguồn vốn đợc sử dụng hợp lý và có hiệu quả
nhất. Cần lu ý rằng quan hệ tỷ trọng trong cơ cấu vốn là chỉ tiêu động. Điều này
đòi hỏi cán bộ quản lý phải không ngừng nghiên cứu tìm tòi để có đợc cơ cấu
tối u.
Theo chế độ hiện hành VCĐ của doanh nghiệp đợc biểu hiện thành hình
thái giá trị của các loại tài sản cố định sau đây đang dùng trong quá trình sản
xuất:
1) Nhà cửa đợc xây dựng cho các phân xởng sản xuất và quản lý
2) Vật kiến trúc để phục vụ sản xuất và quản lý
3) Thiết bị động lực
4) Hệ thống truyền dẫn
5) Máy móc, thiết bị sản xuất
6) Dụng cụ làm việc, đo lờng, thí nghiệm
7) Thiết bị và phơng tiện vận tải
8) Dụng cụ quản lý
9) Tài sản cố định khác dùng vào sản xuất công nghiệp
Trên cơ sở các hình thái giá trị của tài sản cố định nh trên chỉ ra rõ ràng cơ
cấu vốn cố định chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố. Quan tâm nhất là đặc điểm về

chuyển nhanh hơn vốn cố định, quá trình vận động của VLĐ thể hiện dới hai
hình thái:
- Hình thái hiện vật: đó là toàn bộ nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, thành phẩm.
6
- Hình thái giá trị: là toàn bộ giá trị bằng tiền của nguyên vật liệu, bán
thành phẩm, thành phẩm, giá trị tăng thêm do việc sử dụng lao động sống trong
quá trình sản xuất và những chi phí bằng tiền trong lĩnh vực lu thông.
Sự lu thông về mặt hiện vật và giá trị của VLĐ ở các doanh nghiệp sản
xuất có thể biểu diễn bằng công thức chung:
T - H - SX - H' - T'
Trong quá trình vận động, đầu tiên VLĐ biểu hiện dới hình thức tiền tệ và
khi kết thúc cũng lại bằng hình thức tiền tệ. Một vòng khép kín đó gợi mở cho
chúng ta thấy hàng hoá đợc mua vào để doanh nghiệp sản xuất sau đó đem bán
ra, việc bán đợc hàng tức là đợc khách hàng chấp nhận và doanh nghiệp nhận đ-
ợc tiền doanh thu bán hàng và dịch vụ cuối cùng. Từ các kết quả đó giúp ta
sáng taọ ra một cách thức quản lý vốn lu động tối u và đánh giá đợc hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
b) Cơ cấu vốn lu động:
Xác định cơ cấu VLĐ hợp lý có ý nghĩa tích cực trong công tác sử dụng
hiệu quả vốn lu động. Nó đáp ứng yêu cầu vốn cho từng khâu, từng bộ phận,
đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm hợp lý VLĐ. Trên cơ sở đó đáp ứng đợc phần
nào yêu cầu của sản xuất kinh doanh trong điều kiện thiếu vốn cho sản xuất.
Cơ cấu VLĐ là quan hệ tỉ lệ giữa giá trị mỗi loại và nhóm đó so với toàn
bộ giá trị VLĐ. Tỉ lệ giữa giá trị mỗi loại và nhóm trong toàn bộ VLĐ hợp lý thì
chỉ hợp lý tại mỗi thời điểm naò đó và tính hợp lý chỉ mang tính nhất thời. Vì
vậy trong quản lý phải thờng xuyên nghiên cứu xây dựng một cơ cấu hợp lý
đảm bảo độ "khoẻ mạnh" đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh từng thời kỳ. Để
thuận lợi cho việc quản lý và xây dựng cơ cấu vốn nh thế, ngời ta thờng có sự
phân loại theo các quan điểm tiếp cận khác nhau:

tham gia liên doanh, liên kết góp bằng tiền, hàng hoá, sản phẩm, nguyên vật
liệu, công cụ lao động nhỏ v.v...
- Vốn coi nh tự có: đợc hình thành do phơng pháp kết toán hiện hành, có
một số khoản tiền tuy không phải của doanh nghiệp nhng có thể sử dụng trong
thời gian rỗi để bổ sung vốn lu động. Thuộc khoản này có: tiền thuế, tiền lơng,
8
bảo hiểm xã hội, phí trích trớc cha đến hạn phải chi trả có thể sử dụng và các
khoản nợ khác.
- Vốn đi vay: nhằm đảm bảo nhu cầu thanh toán bức thiết trong khi hàng
cha bán đã mua hoặc sự không khớp trong thanh toán. Nguồn vốn đi vay là
nguồn vốn cần thiết, song cần chú ý tới các hình thức vay khác nhau với tỉ lệ lãi
suất khác nhau và phải trả kịp thời cả vốn và lãi vay.
Bằng cách nghiên cứu các nguồn của cả vốn lu động và vốn cố định nh
trên, ngời kinh doanh có thể đạt đợc sự tổng hợp về các nguồn vốn theo các chỉ
dẫn của kế toán tài chính. Nguồn vốn ở các doanh nghiệp giờ đây trở thành
nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện ở khoản
"có"; nợ phải trả chính là khoản vay, nợ của doanh nghiệp đối với các tổ chức,
cá nhân... để đầu t, hình thành tài sản của doanh nghiệp, đợc sử dụng trong một
thời gian nhất định và sau đó phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi nh đã cam kết. ý
nghĩa của việc nghiên cứu này cho ta tạo quan hệ giữa vốn và nguồn vốn về ph-
ơng diện giá trị đầu t nh sau:
Giá trị TSCĐ + Giá trị TSLĐ = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
II. Nội dung hoạt động quản lý vốn và hiệu quả sử dụng
vốn
1. Nội dung hoạt động quản lý vốn cố định và vốn lu động:
1.1 - Nội dung hoạt động quản lý vốn cố định:
Quản lý vốn cố định (VCĐ) nghĩa là phải đi đến các quyết định. Giống nh
việc quản lý hoạt động kinh doanh của công ty, việc quản lý VCĐ ảnh hởng
quan trọng đến sự tồn tại và hiệu quả sử dụng vốn. Quản lý VCĐ thành công
đòi hỏi các nhà quản lý phải gắn liền sự vận động của VCĐ với các hình thái

Xuất phát từ việc nghiên cứu hao mòn tài sản cố định cung cấp cho chúng
ta những luận cứ cần thiết minh chứng cho việc "bảo vệ" tài sản cố định nhằm
giảm tối đa tổn thất hữu hình và hao mòn vô hình. Những biện pháp thờng đợc
sử dụng nh nâng cao cờng độ và thời gian sử dụng, nâng cao chất lợng, hạ giá
thành chế tạo và xây lắp tài sản cố định, tổ chức tốt việc bảo quản và sửa chữa
máy móc thiết bị, nâng cao ý thức trách nhiệm của công nhân. Một ý nghĩa
khác là nó cũng cung cấp cho ta cơ sở tốt để lập nên kế hoạch khấu hao tài sản
cố định, kế hoạch bảo toàn và phát triển vốn cố định.
* Khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất của
tài sản cố định không thay đổi nhng giá trị của nó hao mòn dần và chuyển từng
10
phần vào giá thành sản phẩm mới đợc sản xuất ra. Phần giá trị này đợc thu hồi
dới hình thức khấu hao và đợc hạch toán vào giá thành sản phẩm. Nh vậy khấu
hao tài sản cố định là một khoản cấu thành phí lu thông và đợc bù đắp bằng
doanh thu bán hàng. Về thực chất, khấu hao là quá trình giảm giá trị của tài sản
cố định. Việc suy giảm giá trị của tài sản cố định cuối cùng sẽ dẫn đến khấu
hao hết tài sản cố định, khi đó phải đầu t để có đợc tài sản cố định khác. Vậy
quá trình này diễn ra trong bao lâu? Sở dĩ đòi hỏi yêu cầu chính xác tơng đối về
thời gian nh vậy bởi hai nguyên nhân: thứ nhất nếu xác định không đúng thời
gian sử dụng dẫn đến còn đang sử dụng đã khấu hao hết, thứ hai cha khấu hao
hết đã hỏng. Cả hai nguyên nhân này đều có ảnh hởng không tốt tới sự vận
động của vốn cố định và giá thành sản phẩm làm ra. Để xác định đúng đắn thời
hạn sử dụng tài sản cố định chúng ta phải dựa vào cơ sở đã chỉ ra là phải xác
định đúng đợc hao mòn của tài sản cố định hay khấu hao tài sản cố định.
Khấu hao tài sản cố định đợc phân bổ trên hai hình thức là khấu hao cơ
bản và khấu hao sửa chữa lớn. Khấu hao cơ bản nhằm tái bồi hoàn lại giá trị tài
sản cố định đã hao mòn. Khấu hao sửa chữa lớn nhằm bảo vệ duy trì và kéo dài
năng lực sử dụng bình thờng của TSCĐ. Nh vậy hai hình thức khấu hao này có
phơng thức bù đắp và mục đích khác nhau, do đó tiền trích khấuhao tài sản cố

đủ bù đắp hao mòn thực tế của TSCĐ, vì vậy không đảm bảo đợc công tác bảo
toàn và phát triển vốn. Ngợc lại nếu tỉ lệ khấu hao quá cao hay thời hạn sử dụng
TSCĐ đợc xác định quá ít, sẽ làm tăng giá thành sản phẩm một cách giả tạo, tạo
ra những khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hoá.
b) Kế hoạch khấu hao tài sản cố định:
Bằng cách lập lên kế hoạch khấu hao tài sản cố định, doanh nghiệp đã có
thể định ra đợc tiến độ và mức trích khấu hao tài sản cố định từng nhóm và toàn
bộ doanh nghiệp. Để lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định cần phải xác định đ-
ợc tổng giá trị TSCĐ đầu kỳ, tổng giá trị TSCĐ tăng thêm và giảm đi trong kỳ,
mức khấu hao phải trích trong năm và tình hình phân phối sử dụng các quỹ
khấu hao. Theo quy định số 517/TTg ngày 21/10/1995 kế hoạch khấu hao
TSCĐ bao gồm:
- TSCĐ không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn (đất đai).
- TSCĐ tăng thêm trong năm kế hoạch, nếu tăng vào một ngày nào đó của
tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Giá trị bình quân
của TSCĐ tăng thêm
trong năm KH
=
Giá trị TSCĐ tăng trong năm x số tháng sử dụng TSCĐ
12
- TSCĐ giảm bớt trong năm kế hoạch, nếu giảm bớt từ một ngày nào đó
của tháng thì tháng sau không tính khấu hao.
12
Giá trị bình quân của
TSCĐ giảm trong
năm KH
=
Giá trị TSCĐ giảm trong năm x Số tháng không sử dụng TSCĐ
12

bản năm trớc
chuyển sang
+
+
Tổng giá trị khấu
hao cơ bản kỳ kế
hoạch
-
-
Quỹ khấu hao
cơ bản chuyển
sang năm sau
Nghiên cứu các chỉ tiêu của kế hoạch khấu hao TSCĐ cho ta một ý nghĩa
đáng lu ý trong việc đề xuất các ý kiến cho quản lý vốn cố định ở doanh nghiệp.
Bằng việc xem xét mức độ tăng giảm của các chỉ tiêu và xác định các nguyên
nhân tăng giảm đó, ngời quản lý thấy rõ đợc phần nào cảnh quan và tình hình
TSCĐ của doanh nghiệp để có các biện pháp điều chỉnh hợp lý. Một ý nghĩa
khác là cung cấp những thông số cần thiết cho việc lập các kế hoạch, chơng
trình khác của doanh nghiệp về thị trờng, cạnh tranh...
c) Bảo toàn và phát triển vốn cố định:
Trong quá trình tham gia vào cạnh tranh với các doanh nghiệp khác nhằm
phục vụ tốt cho nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp cần có một hậu phơng
với tiềm lực vững mạnh, đó chính là vốn. Để phát huy đợc ý nghĩa đó doanh
nghiệp không những một mặt phải duy trì và phát triển các hoạt động kinh
doanh, mặt khác quan trọng hơn là phải bảo toàn và phát triển đợc vốn nói
chung và vốn cố định nói riêng.
Vấn đề đặt ra nh trên không có nghĩa rằng việc doanh nghiệp làm ăn có lãi
thực thì không phải bảo toàn và phát triển vốn. ý kiến đó xuất phát từ việc hiểu
không đầy đủ về vấn đề bảo toàn vốn. Nếu chúng ta tiếp cận theo quan điểm
13

đợc giao đầu
kỳ
--
Khấu hao
đ tríchã
trong kỳ
X
Hệ số điều
chỉnh TSCĐ
Giá trị TSCĐ
(tăng, giảm
trong kỳ)
Những thành công trong công tác bảo toàn VCĐ sẽ tạo cơ sở tốt cho kế
hoạch phát triển VCĐ. Phát triển VCĐ đợc doanh nghiệp trích từ lợi nhuận để
lại doanh nghiệp và phần khấu hao cơ bản để lại đầu t xây dựng cơ bản, thực
hiện tái sản xuất mở rộng và mua sắm mới TSCĐ.
1. 2 - Nội dung hoạt động quản lý vốn lu động:
14
a) Xác định vốn lu động định mức kỳ kế hoạch:
Xuất phát từ vai trò không thể thiếu của vốn lu động đòi hỏi chúng ta phải
luôn có một lợng vốn lu động để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của doanh
nghiệp. Nhng lợng vốn lu động đó là bao nhiêu thì phù hợp bởi nếu VLĐ thừa
quá hoặc thiếu quá đều không có lợi, VLĐ thừa quá sẽ gây ứ đọng vốn và ngợc
lại nếu ít quá sẽ gây cho doanh nghiệp những khó khăn, tác động xấu đến hoạt
động kinh doanh. Những khía cạnh đó đòi hỏi chúng ta phải xác định đợc lợng
VLĐ định mức cho kỳ kế hoạch. VLĐ định mức đợc hiểu là số VLĐ có thể quy
định mức tối thiểu, cần thiết thờng xuyên cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Theo chế độ hiện hành, Tổng Công ty Đờng sông Miền Bắc Việt Nam là
Tổng công ty nhà nớc, VLĐ định mức của Tổng công ty đợc nhà nớc cấp một

Số ngày
chỉnh lý
chuẩn bị
+
Số ngày
bảo
hiểm
Thứ hai, VLĐ định mức ở khâu sản xuất: đợc xác định riêng cho sản
phẩm dở dang, nửa thành phẩm tự chế, chi phí chờ phân bổ.
- VLĐ định mức cho sản phẩm dở dang đợc xác định theo công thức:
15
Định mức VLĐ
cho sản phẩm
dở dang
=
Mức luân chuyển cả năm
của thành phẩm theo giá
thành công xởng
: 360 x
Hệ số thành
phẩm dở
dang
x
Chu kỳ
sản xuất
sản phẩm
- VLĐ định mức cho nửa thành phẩm tự chế xác định theo công thức:
Định mức VLĐ
cho nửa thành
phẩm tự chế

- VLĐ định mức cho thành phẩm đợc xác định theo công thức:
Vốn lu động định
mức cho thành
phẩm
=
Tổng giá thành công x-
ởng của số lợng hàng
hoá
: 360 x
Định mức số
ngày dự trữ
thành phẩm
- Đối với hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm (là hàng hoá
doanh nghiệp mua rồi tiêu thụ ngay), VLĐ định mức xác định theo công thức:
Định mức VLĐ cho
hàng hoá mua ngoài
tiêu thụ
=
Tổng giá thành cả
năm theo giá mua : 360 x
Định mức số ngày
dự trữ hàng hoá
mua ngoài
Trong ba bộ phận trên, tuỳ theo đặc điểm của từng ngành thì mức độ quan
trọng của từng bộ phận sẽ khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất thì VLĐ ở
khâu sản xuất là quan trọng nhất. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp trong quá trình
quản lý và sử dụng vốn phải u tiên cho bộ phận này một tỉ lệ hợp lý, không
ngừng tăng vốn cho sản xuất, giảm ở mức cho phép với vốn dự trữ và lu thông.
b) Kế hoạch nguồn VLĐ định mức:
16

theo công thức sau:
Số VLĐ phải bảo toàn
đến cuối kỳ
=
Số VLĐ đợc giao đầu
kỳ
x
Hệ số trợt giá VLĐ
17
Quan tâm đến công thức này cần chú ý đến: số vốn đợc giao, hệ số trợt
giá. Số vốn đã đợc giao là số vốn lu động giao lần đầu cho doanh nghiệp đã xác
định trong biên bảo giao nhận vốn. Còn khi nói tới hệ số trợt giá VLĐ do cơ
quan chủ quản và cơ quan tài chính xác định cho doanh nghiệp, nó dựa trên cơ
sở mức tăng (giảm) giá thực tế cuối năm so với đầu năm của một số vật t chủ
yếu tính theo cơ cấu kế hoạch vốn lu động định mức của từng doanh nghiệp,
phù hợp với đặc điểm, cơ cấu TSLĐ của từng ngành, từng doanh nghiệp.
Khi đã có đợc những kết quả quan trong công tác bảo toàn vốn, doanh
nghiệp sẽ rất thuận lợi trong việc thực hiện phát triển vốn. Phát triển VLĐ đợc
lấy từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi nhuận để lại.
III. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động quản lí vốn và hiệu
quả sử dụng vốn
1. Các nhân tố ảnh hởng:
1.1- Chu kì sản xuất:
Đây là một đặc điểm quan trọng gắn trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn.
Nếu chu kì ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở rộng sản
xuất kinh doanh. Ngợc lại, nếu chu kì dài doanh nghiệp sẽ có một gánh nặng là
ứ đọng vốn và trả lãi các khoản vay hay các khoản phải trả.
1.2 - Kĩ thuật sản xuất:
Các đặc điểm riêng có về kĩ thuật tác động liên tục với một số chỉ tiêu
quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định nh hệ số đổi máy móc thiết

sản xuất sẽ có những tác động khác nhau tới tiến độ sản xuất, phơng pháp và
quy định vận hành máy móc, số ca, số tổ sản xuất , số bộ phận phục vụ sản xuất
...
Mặt khác, đặc điểm của công tác hạch toán, kế toán nội bộ doanh nghiệp
(luôn gắn với tính chất của tổ chức sản xuất và quản lí trong cùng doanh
nghiệp) có tác động không nhỏ. Công tác kế toán đã dùng những công cụ của
mình để đo hiệu quả sử dụng vốn... Kế toán phải có nhiệm vụ phát hiện những
tồn tại trong quá trình sử dụng vốn và đề xuất những biện pháp giải quyết.
1.6 - Trình độ lao động, cơ chế khuyến khích và trách nhiệm vật chất
trong doanh nghiệp:
Nếu công nhân trong doanh nghiệp có trình độ cao đủ để thích ứng với
trình độ công nghệ dây chuyền sản xuất thì các máy móc trong dây chuyền sẽ
19
đợc sử dụng tốt hơn và năng suất chất lợng sẽ cao hơn. Song trình độ lao động
phải đợc đặt đúng chỗ, đúng lúc... thì hiệu quả công việc mới cao.
Để sử dụng tiềm năng lao động có hiệu quả cao nhất doanh nghiệp phải có
một cơ chế khuyến khích vật chất cũng nh trách nhiệm một cách công bằng.
Ngợc lại, nếu cơ chế khuyến khích không công bằng, quy định trách nhiệm
không rõ ràng, dứt khoát sẽ làm cản trở mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn.
1.7 - Các nhân tố khác:
Các chính sách vĩ mô của Nhà nớc tác dụng một phần không nhỏ tới hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Cụ thể hơn, từ cơ chế giao vốn, đánh giá tài
sản cố định, thuế vốn, thuế doanh thu... đến chính sách cho vay bảo hộ và
khuyến khích một số loại công nghệ nhất định đều có thể làm tăng, giảm hiệu
quả sử dụng TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp.
Mặt khác, cơ chế chính sách cũng tác động đến kế hoạch mua sắm nguyên
vật liệu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đợc hởng nguồn nguyên vật liệu,
chọn đợc ngời cung cấp tốt nhất. Doanh nghiệp phải kết hợp đợc yêu cầu của
chính sách này với yêu cầu của thị trờng. Từ đó tác động tới hiệu quả sử dụng

vốn của ban lãnh đạo doanh nghiệp và tình hình sản xuất kinh doanh là những
yếu tố quan trọng khắc hoạ nên sức mạnh của doanh nghiệp. Đồng thời chính
những yếu tố đó tạo nên một cơ cấu vốn đặc trng cho doanh nghiệp, không
giống các doanh nghiệp cùng loại khác. Nh vậy tỉ số cơ cấu vốn không phải là
một con số ngẫu nhiên mà là con số thể hiện ý chí của doanh nghiệp. Về mặt
giá trị, tỉ số đó cho ta biết trong tổng số vốn ở doanh nghiệp đang sử dụng có
bao nhiêu đầu t vào vốn lu động, có bao nhiêu đầu t vào tài sản cố định. Vấn đề
đặt ra là phải xây dựng đợc cơ cấu vốn khoẻ, hợp lý.
Cơ cấu cho từng loại vốn đợc tính nh sau:
Tỉ trọng VCĐ
(Tỉ trọng TSCĐ)
=
TSCĐ và đầu t dài hạn
Tổng vốn
Tỉ trọng VLĐ
(Tỉ trọng TSLĐ và vốn lu
thông)
= 1- Tỉ trọng vốn cố định
b) Vòng quay toàn bộ vốn:
21
Đây là chỉ tiêu đo lợng hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánh một
đồng vốn đợc doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lại mấy
đồng doanh thu
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn =
Tổng số vốn
c) Kỳ thu tiền trung bình:
Trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, việc phát sinh các khoản
phải thu, phải trả là điều tất yếu. Khi các khoản phải thu càng lớn, chứng tỏ vốn
của doanh nghiệp đang bị ứ trong khâu thanh toán. Nhanh chóng thu đợc vốn bị

Lợi nhuận thuần (hay l i gộp)ã
Nguyên giá bình quân TSCĐ
c) Suất hao phí tài sản cố định:
Chỉ tiêu này cho thấy để có một đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận
thuần cần có bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ
Suất hao phí tài sản cố
định
=
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Giá trị tổng sản lợng (hay doanh thu thuần, lợi nhuận
thuần)
d) Hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Hiệu quả sử dụng vốn cố
định
=
Giá trị tổng sản lợng (hay DT thuần, lợi nhuận)
Số vốn cố định
2.3 - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động:
a) Sức sản xuất của vốn lu động:
Sức sản xuất của vốn lu động cho biết một đồng vốn lu động đem lại mấy
đồng doanh thu thuần (giá trị tổng sản lợng)
Sức sản xuất của vốn lu
động
=
Tổng doanh thu thuần (hay giá trị tổng sản lợng)
Vốn lu động bình quân
b) Sức sinh lời của vốn lu động
Sức sinh lời của vốn lu động cho biết một đồng vốn lu động tạo ra mấy
đồng lợi nhuận thuần hay lãi gộp trong kỳ.
Sức sinh lời của vốn lu

Trong khi phân tích để tìm ra một kết luận về tính hiệu quả hay không
hiệu quả, cần tính ra các chỉ tiêu trên rồi so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc.
Khi tính các chỉ tiêu cần chú ý các nhân tố sau:
+ Tổng doanh thu thuần = Tổng doanh thu bán hàng trong kỳ - (Thuế VAT
hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu+ chiết khấu hàng bán + giảm giá
hàng bán + doanh thu hàng đã bán bị trả lại).
+ Thời gian của kỳ phân tích: quy định một tháng là 30 ngày, một quý là
90 ngày và một năm là 360 ngày.
Tổng vốn lu động 4 quý
+ Vốn lu động bình quân =
4
V
1/2
+ V
2
+ V
3
... + V
n/2
Hoặc =
n-1
Với V
1
, V
2
, V
3
... là vốn lu động hiện có vào đầu các tháng,
n là số thứ tự các tháng.
2. 4 - Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán:

- Nếu K 1, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán và tình trạng
tài chính của doanh nghiệp bình thờng hoặc tốt.
25

Trích đoạn Vốn và cách thức huy động của Tổng công ty Phân tích tình hình quản lý vốn cố định Mua sắm phơng tiện bốc, xếp thuỷ, bộ Vốn NSNN cấp Vốn vay và tự bổ sung Lập kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch VLĐ định mức: Cơ cấu vốn lu động:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status