Kỹ thuật nuôi cá kèo thương phẩm
Cá trưởng thành thường dài khoảng 20cm, thân cá hình trụ dài to bằng ngón tay cái, dẹp
dần về phía đuôi, da trơn nhớt, chui rúc trong bùn, đào hang để trú như lươn, chạch.
I/ Đăc điểm sinh học:
1.Phân loại :
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Percifor
Họ: Gobiidae
Giống: Pseudapocrypte
Loài:Pseudapocryptes elongatus ( Tên tiếng việt : Cá Kèo)
Cá kèo đạt kích cỡ thương phẩm
2. Đặc điểm:
Cá trưởng thành thường dài khoảng 20cm, thân cá hình trụ dài to bằng ngón tay cái,
dẹp dần về phía đuôi, da trơn nhớt, chui rúc trong bùn, đào hang để trú như lươn, chạch.
3.Phân bố :
Cá kèo (P. elongatus) là loài phân bố ở vùng cửa sông, bãi bồi và vùng triều ở các
nước Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và là 1 trong
34 loài thuộc họ cá Bống (Gobiidae) phân bố ở Đông và Tây Phi, các đảo Nam Thái Bình
Dương và miền nam nước Úc. Cá kèo là loài rộng muối, có cơ quan hô hấp phụ và là loài
ăn tạp, sống ở các bãi bùn, chịu đựng được các điều kiện môi trường khắc nghiệt .
4.Tập Tính :
Trong tự nhiên cá kèo thường sinh sống ở các vùng nước lợ như bãi triều, cửa sông ở
miền Nam. Cá thuộc loại ruột ngắn, ăn tạp. Thức ăn tự nhiên của cá kèo là nhuyến thể
như tôm nhỏ, giun, tảo, phiêu sinh vật
2. Mùa vụ nuôi :
Mùa vụ nuôi bống kèo từ tháng 4 - 5 khi bắt đầu có con giống tự nhiên, ngoài ra người
nuôi còn sử dụng ao nuôi tôm để nuôi bống kèo sau khi nuôi tôm vụ 1 (vào tháng 7 -8).
3. Kích cỡ và mật độ thả giống cá nuôi:
* Kích cỡ cá giống:
Nên chọn cá giống khoảng 3 – 5cm hoặc 4 – 6cm, cá giống ương nuôi trong ao là tốt nhất
vì sẽ có kích cỡ đồng đều hơn, khoẻ hơn vì đã thích nghi với điều kiện trong ao. Chọn cá
khoẻ mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không bị nhiễm bệnh, màu sắc tươi sáng, có nhiều
nhớt.
* Mật độ thả nuôi:
Tuỳ theo điều kiện ao, khả năng quản lý chăm sóc và cỡ cá, có thể thả nuôi với mật độ 30
– 60 con/m2, trung bình 50 con/m2. Nếu cỡ cá nhỏ (3cm) nên thả mật độ cao hơn so với
cỡ cá lớn (5 – 6cm) để trừ hao hụt trong khi nuôi. Nếu điều kiện quản lý và kiểm soát
chất lượng nước chủ động, có thể tăng mật độ nuôi lên cao hơn 60 con/m2.
4. Chăm sóc và quản lý ao nuôi :
* Thức ăn cho cá trong tháng đầu
Thức ăn cho giai đoạn ương ban đầu (10 ngày - 1 tháng tuổi) có hàm lượng protein dao
động từ 28 - 32%. Khẩu phần ăn dao động từ 8 - 30% trọng lượng thân/ngày, phân chia
thành các giai đoạn cho ăn như sau.
Giai đoạn 10 ngày đầu: 20 - 30% trọng lượng thân/ngày.
Giai đoạn ngày thứ 11 - 20: 10 - 20% trọng lượng thân/ngày.
Giai đoạn ngày thứ 21 - 30: 8 - 10% trọng lượng thân/ngày.
Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi và cho ăn theo tỷ lệ trên.
(con đẻn), cá nâu, cá rô phi, cá bống mọi, bống cát…Để phòng trừ địch hại, khâu quan
trọng khi cải tạo ao là phải tìm diệt hết mọi cá tạp, cá dữ, khi lấy nước vào ao lúc cấp
nước lần đầu hoặc các lần thay nước định kỳ, phải chắn lọc kỹ, không để cá nâu và rô
phi, bóng mọi, bóng cát nhỏ lọt vào ao qua đường cấp nước. Đối với chim cồng cộc, nên
đặt các bù nhìn trên bờ ao hoặc treo dây ngang dọc trên mặt ao có gắn các ống bơ (lon)
sữa bò nhằm tạo ra tiếng kêu để xua đuổi chim. Có thể dùng ná (giàng thun) để bắn chim
và đuổi chim cũng có hiệu quả.
- Ngoài ra, để bắt các loài cá bống cát, bống mọi, có thể điều tiết mực nước trong ao
(dâng cao sau đó hạ thấp 5 – 10cm) khi đó các loại cá bống mọi, bống cát có thể nằm lại
ở phần mái bờ mà nước đã rút và ta dùng vợt thu gom chúng lại.
5. Phòng và trị bệnh :
5.1. Bệnh nhiễm khuẩn huyết Aeromonas
Nguyên nhân: Do các vi khuẩn Aeromonas (A.hydrophil, A. caviae, A. sobria) gây ra.
Bệnh phát sinh khi môi trường ô nhiễm, oxy hòa tan thấp, nuôi mật độ dày. Bệnh có thể
xuất hiện quanh năm.
Triệu chứng: Mình cá có những mảng đỏ với nhiều khối u, bụng có từng vùng sẫm màu,
lưng có nhiều vết thương, đuôi và vây bị hoại tử, mắt đục, lồi, sưng phù, hậu môn sưng
to. Cá bỏ ăn, nổi nghiêng hoặc nổi đứng lờ đờ trên mặt nước.
5.2. Bệnh trắng đuôi
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Pseudomonas dermoalba gây ra.
Triệu chứng: trên đuôi có các đốm trắng, sau đó lây lan đến vây lưng, vây hậu môn. Dần
dần đuôi và vây bị xuất huyết, rách nát. Khi bệnh nặng, cá bỏ ăn, bơi lờ đờ, đầu chúi
xuống hoặc treo lơ lửng trên mặt nước.
5.3. Bệnh tuột nhớt
hơn. Trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày, cần giữ cho môi trường ao nuôi thật ổn định.
Trước khi thuỷ triều cường thì tháo hoặc tát bớt nước ao, khi bắt đầu thuỷ triều cường thì
đưa nước vào ao. Sự chênh lệch mực nước sẽ kích thích cá bống kèo bơi ngược dòng
nước chui vào trong xà lú. Sau mỗi đợt thu hoạch lại tát cạn ao hơn và tiếp tục cho nước
thuỷ triều vào ao để bắt cá cho đến khi ao cạn hoàn toàn và thu hết cá.
- Ngoài ra để thu hoạch những cá còn sót lại, có thể dùng dây thuốc cá hoặc saponine
với liều lượng thấp rải xuống ao nhằm làm cho cá phải ngoi lên mặt nước và dùng lưới để
kéo, nhưng cách bắt này làm cho cá dễ chết, bán không được giá.