Xây dựng pháp luật
Tạp chí luật học - 55
một số ý kiến đóng góp đối với
Điều 115, Điều 116 dự thảo luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam (sửa đổi)
Ths. Nông Quốc Bình *
ầu hết các nớc trên thế giới ngày
nay đang chuyển mình theo xu thế
quốc tế hoá, hoà nhập với cộng đồng
quốc tế, Việt Nam không nằm ngoài xu
hớng chung đó. Trong quá trình hội
nhập với thế giới, Việt Nam đ và đang
từng bớc phát triển nền kinh tế và xây
dựng luật pháp phù hợp với đời sống
quốc tế và tập quán quốc tế. Việc xây
dựng các chế định pháp luật nói chung và
xây dựng các chế định về hôn nhân và gia
đình ở Việt Nam nói riêng đ và đang
chuyển mình theo xu thế chung đó.
Để xây dựng những chuẩn mực về
quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với
xu thế chung của thời đại, Việt Nam đang
tiến hành sửa đổi Luật hôn nhân và gia
đình. Để có văn bản pháp luật hoàn chỉnh
về hôn nhân và gia đình, chúng tôi cho
rằng sẽ có rất nhiều ý kiến bàn luận đóng
góp cho Dự thảo Luật hôn nhân và gia
hoà x hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết
hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật
nớc ngoài đợc áp dụng nếu việc áp
dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó
không trái với các nguyên tắc của pháp
luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Trong trờng hợp pháp luật nớc
ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt
Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân
H
* Giảng v
iên Khoa luật quốc tế
Trờng đại học luật Hà Nội
56 - Tạp chi sluật học
và gia đình Việt Nam".
Đây là quy định có tính nguyên tắc
trong việc hoặc áp dụng luật hôn nhân và
gia đình của Việt Nam hoặc áp dụng điều
ớc quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc
tham gia hoặc áp dụng luật nớc ngoài để
điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nớc ngoài.
Khoản 1 của Điều 115 Dự thảo quy
định rằng các quy định của pháp luật về
không đề cập loại văn bản pháp luật khác
có vai trò rất quan trọng trong việc điều
chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nớc ngoài, đó là các điều ớc
quốc tế. Về mặt lí luận cũng nh thực tế,
trong nhiều trờng hợp cụ thể, các quy
phạm đợc quy định trong điều ớc quốc
tế có giá trị pháp lí cao hơn so với các
quy phạm luật trong nớc cũng nh các
quy phạm đợc quy định trong các điều
ớc quốc tế về hôn nhân và gia đình có
giá trị pháp lí cao hơn các quy phạm nằm
trong "Luật này".
Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đ
kí kết nhiều điều ớc quốc tế có liên quan
đến quan hệ hôn nhân và gia đình nh
các hiệp định tơng trợ t pháp.Về mặt
nguyên tắc,Việt Nam phải nghiêm chỉnh
chấp hành các cam kết này. Nh vậy, có
thể nói, bên cạnh việc thực hiện nghiêm
chỉnh các điều quy định trong luật pháp
trong nớc, chúng ta phải thực hiện
nghiêm chỉnh các quy định đợc ghi
nhận trong các điều ớc quốc tế. Bởi vì,
tôn trọng các cam kết quốc tế là một
trong những nguyên tắc cơ bản của luật
quốc tế.
Do đó, theo chúng tôi, khoản 1 Điều
115 Dự thảo chúng ta phải sửa lại là quy
định của pháp luật Việt Nam về hôn nhân
việc áp dụng luật nớc ngoài đó không
trái với các nguyên tắc của pháp luật về
hôn nhân và gia đình của Việt Nam. Đây
là quy định cần thiết nhằm bảo vệ các
nguyên tắc pháp lí trong trờng hợp phải
áp dụng luật nớc ngoài.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, về cách
hành văn và cách dùng dấu trong câu ở
khoản 3 này cần đợc chỉnh lại đồng thời
vấn đề dẫn chiếu đến pháp luật nớc thứ
ba cần phải đợc xem xét bổ sung vào
khoản 3 của Điều 115.
Về cách dùng dấu trong câu, trong
khoản 3 Dự thảo ghi rõ: "Trong trờng
hợp việc áp dụng pháp luật nớc ngoài
đợc Luật này, (phẩy) các văn bản pháp
luật khác của Việt Nam quy định ".
Dấu phẩy (,) trong đoạn văn này sẽ đợc
hiểu thay cho chữ "và". Nh vậy, phải
chăng luật nớc ngoài chỉ đợc áp dụng
trong trờng hợp Luật này và các văn bản
pháp luật khác của Việt Nam quy định?
Vậy trong trờng hợp chỉ có Luật này
quy định mà trong các văn bản pháp luật
khác về hôn nhân và gia đình Việt Nam
không quy định áp dụng luật nớc ngoài
hoặc ngợc lại, các văn bản pháp luật
khác có quy định áp dụng luật nớc ngoài
nhng Luật này không quy định thì luật
nớc ngoài có đợc áp dụng hay không?
và gia đình của Việt Nam" để thành câu
"nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc
áp dụng đó không trái với các nguyên tắc
cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
Việt Nam". Việc sửa nh vậy vừa bảo
đảm tính khái quát vừa bảo đảm tính cụ
thể trong việc áp dụng quy định, tạo điều
kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng
trong quá trình áp dụng quy định này. Bởi 58 - Tạp chi sluật học
vì, trên thực tế có rất nhiều nguyên tắc
trong pháp luật hôn nhân và gia đình
nhng chỉ có 5 nguyên tắc cơ bản của chế
độ hôn nhân và gia đình đ đợc ghi nhận
cụ thể tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam.
Về trờng hợp dẫn chiếu đến pháp
luật nớc thứ ba, khoản 3 Điều 115 Dự
thảo quy định: "Trong trờng hợp pháp
luật nớc ngoài dẫn chiếu trở lại pháp
luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về
hôn nhân và gia đình Việt Nam". Đây là
trờng hợp dẫn chiếu ngợc đợc quy
định khá phổ biến trong t pháp quốc tế.
Tuy nhiên, nếu khoản 3 Điều 115 Dự
thảo chỉ quy định các trờng hợp dẫn
chiếu ngợc thì cha đủ bởi vì bên cạnh
luật nớc ngoài đợc áp dụng nếu việc áp
dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó
không trái với những nguyên tắc cơ bản
của chế độ hôn nhân và gia đình Việt
Nam".
Trong trờng hợp pháp luật nớc
ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt
Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân
và gia đình Việt Nam. Trong trờng hợp
pháp luật nớc ngoài dẫn chiếu đến pháp
luật của nớc thứ ba thì áp dụng pháp luật
về hôn nhân gia đình của nớc thứ ba đó
nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc
áp dụng đó không trái với những nguyên
tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia
đình Việt Nam.
Thứ hai, đối với Điều 116 Dự thảo.
Điều 116 Dự thảo quy định:
"Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa
công dân Việt Nam thuộc dân tộc thiểu
số ở vùng biên giới với ngời cùng dân
tộc là công dân của nớc có biên giới
chung với Việt Nam đợc thực hiện theo
các quy định của điều ớc quốc tế giữa
Việt Nam và nớc hữu quan và các quy
định của Luật này".
Theo chúng tôi, quy định của Điều Xây dựng pháp luật
dấu hiệu khác nhau về quốc tịch giữa các
bên chủ thể mới là dấu hiệu cơ bản làm
cơ sở pháp lí để áp dụng các quy định của
điều ớc quốc tế (nếu có điều ớc quốc tế
liên quan). Nh vậy, trong trờng hợp
này việc áp dụng các quy định của điều
ớc quốc tế là tất yếu, là hoàn toàn phù
hợp với các nguyên tắc, các quy định của
pháp luật. Do đó, việc lấy dấu hiệu dân
tộc thiểu số giữa các bên chủ thể trong
quan hệ hôn nhân và gia đình làm tiêu chí
cho việc xây dựng quy định này nên đợc
xem xét lại.
Lí do thứ ba, nếu quy định trong Điều
116 Dự thảo đ đặt ra những vấn đề đối
với trờng hợp công dân Việt Nam là dân
tộc thiểu số có quan hệ về hôn nhân và
gia đình với ngời cùng dân tộc nhng là
công dân của nớc có đờng biên giới
chung với Việt Nam, vậy thì vấn đề hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam
thuộc dân tộc thiểu số với ngời cùng dân
tộc là công dân nớc khác không có
đờng biên giới chung với Việt Nam có
đợc đặt ra không? Theo chúng tôi, nếu
vấn đề này đợc đặt ra hoặc không đợc
đặt ra cũng đều làm cho nội dung của các
quy định trở nên rờm rà, phức tạp và
không cần thiết. Vì vậy, nội dung của
Điều 116 Dự thảo không nên đa vào