Báo cáo " Đầu tư nước ngoài theo mô hình BOT ở Việt Nam - những vấn đề pháp lý cơ bản" doc - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 19

Nguyễn Kiều Giang *
BOT (viết tắt của những từ tiếng Anh:
Build - operate - transfer có nghĩa là xây
dựng - kinh doanh - Chuyển giao) là thuật
ngữ dùng để chỉ mô hình đầu t theo đó nhà
đầu t trong nớc hoặc nớc ngoài bằng
nguồn vốn của mình tham gia thực hiện
những dự án phát triển cơ sở hạ tầng mà
thông thờng do Chính phủ thực hiện.
Trên thế giới, mô hình BOT đợc áp
dụng ngay từ những năm đầu thế kỉ XX khi
nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng trở nên cấp
bách. Với mục đích tiết kiệm nguồn vốn
ngân sách nhà nớc và cũng nhằm tận dụng
những nguồn lực và kinh nghiệm của khu
vực t nhân, ở các nớc t bản đ cho phép
nhà đầu t t nhân, nhà đầu t nớc ngoài
tham gia vào các dự án đầu t phát triển cơ
sở hạ tầng nh xây dựng sân bay, bến cảng,
đờng, nhà máy điện Các dự án đợc thực
hiện theo mô hình này đợc gọi là các dự án
BOT.
Việt Nam đang trong quá trình phát

các nhà đầu t nớc ngoài có thể thực hiện
các dự án phát triển cơ sở hạ tầng theo mô
hình BT và BTO.
Đặc điểm của các dự án đợc thực hiện
theo mô hình BOT thể hiện ở chỗ, đây là các
dự án phát triển cơ sở hạ tầng, đòi hỏi những
nguồn vốn lớn trong một thời gian dài. Việc
thu hồi vốn đầu t và lợi nhuận đợc thực
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội
nghiên cứu - trao đổi
20 - Tạp chí luật học

hiện thông qua thu phí dịch vụ của ngời sử
dụng những công trình này (ví dụ: Phí qua
cầu, đờng ) hoặc thông qua giá bán sản
phẩm cho ngời tiêu dùng (ví dụ: Bán điện,
nớc ), do vậy thời gian thu hồi vốn của các
dự án này thờng là dài từ 10 đến 30 năm
hoặc lâu hơn nữa tuỳ thuộc vào từng dự án cụ
thể.
Những đặc điểm trên đòi hỏi nhà đầu t
nớc ngoài phải tiến hành xem xét, đánh giá,
tính toán rất kĩ tất cả những yếu tố chi phối
đến tính khả thi của dự án. Có thể kể đến
một số yếu tố căn bản sau:
Thứ nhất, đó là môi trờng đầu t ở nớc

tại. Đây chính là vấn đề mấu chốt quyết định
tính khả thi của bất kì dự án nào đặc biệt là
dự án BOT vì, tính ổn định nhu cầu sản
phẩm, sử dụng dịch vụ do dự án BOT cung
cấp trong suốt thời gian dự án là vấn đề sống
còn, bảo đảm cho nhà đầu t nớc ngoài mới
thu hồi đợc vốn đầu t và lợi nhuận hợp lí,
để tiến tới chuyển giao công trình cho chính
phủ sở tại trong thời hạn đ cam kết.
Thứ ba, đó là khả năng tài trợ cho dự án
(financing project). Các dự án BOT thông
thờng là các dự án đòi hỏi những nguồn vốn
lớn trong khoảng thời gian dài, vì vậy, bản
thân những nhà đầu t phải là những ngời
có vốn lớn, những nhà đầu t cần phải vay
vốn của ngân hàng hoặc nhóm các ngân
hàng. Khả năng dự án BOT đợc ngân hàng,
nhóm các ngân hàng cho vay (Bankabiliti)
đợc quyết định bởi tính khả thi của dự án.
Ba yếu tố trên đây là ba yếu tố quan
trọng nhất trong số các yếu tố nhằm đảm bảo
cho dự án BOT đợc thực hiện thành công.
Ngoài ra, uy tín của chính phủ nớc sở tại
trong việc thực hiện những cam kết trong các
dự án BOT trớc đó cũng là yếu tố mà các
nhà đầu t quan tâm khi quyết định đầu t.
2. Các chủ thể tham gia trong dự án
BOT
Thông thờng, việc tiến hành thực hiện
một dự án BOT đòi hỏi có rất nhiều chủ thể

thì doanh nghiệp BOT có thể là doanh
nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100%
vốn nớc ngoài. Trong trờng hợp có nhiều
nhà đầu t nớc ngoài tham gia thành lập
doanh nghiệp BOT thì họ sẽ góp vốn theo
những tỉ lệ nhất định. Tỉ lệ này sẽ là cơ sở
của việc phân chia lợi nhuận thu đợc sau
này cho các nhà đầu t.
Có thể nói doanh nghiệp BOT là trung
tâm của các mối quan hệ phát sinh trong mô
hình dự án BOT về tổng thể. Doanh nghiệp
này quản lí tất cả những công việc liên quan
đến tiến trình thực hiện dự án BOT nh: Tổ
chức mời thầu và kí kết hợp đồng xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng, kí kết và thực
hiện hợp đồng với nhà cung cấp nguyên vật
liệu cho dự án, kí kết và thực hiện hợp đồng
với nhà bao tiêu sản phẩm (nếu có), kí kết và
thực hiện hợp đồng với bên cho vay. Đặc
biệt, mặc dù hợp đồng BOT đợc kí kết giữa
nhà đầu t với cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam nhng trên thực tế thì chính doanh
nghiệp BOT (do nhà đầu t thành lập nên) lại
là chủ thể thực hiện những cam kết trong hợp
đồng BOT đối với Nhà nớc Việt Nam. Nghị
định số 62/1998/NĐ-CP cha làm rõ đợc
mối quan hệ pháp lí giữa nhà đầu t, doanh
nghiệp BOT và Nhà nớc Việt Nam mà đây
lại là vấn đề quan trọng để xác định trách
nhiệm và quyền lợi của các bên. Chính vì

- Bên cho vay, đối với dự án BOT thông
thờng là ngân hàng, nhóm các ngân hàng
hoặc các định chế tài chính nớc ngoài hoặc
trong nớc trên cơ sở xem xét tính khả thi
của dự án, sẵn sàng cho vay để thực hiện dự
án BOT. Theo thông lệ quốc tế, việc cho vay
có thể đợc tiến hành theo hai phơng thức:
Thứ nhất, cho các nhà đầu t vay để đầu
t vào dự án. Theo phơng thức này, khi dự
án không thành công thì nhà đầu t sẽ chịu
trách nhiệm trả nợ hết từ toàn bộ tài sản của
mình ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Đây là
phơng thức gây bất lợi cho nhà đầu t nếu
dự án không thực hiện đợc hoặc thực hiện
đợc nhng không đem lại lợi nhuận do cha
tính toán đến các yếu tố khách quan ảnh
hởng đến dự án khi kí kết hợp đồng.
Thứ hai, cho doanh nghiệp BOT vay.
Theo phơng thức này thì khả năng trả nợ
cho bên cho vay đợc đảm bảo bằng toàn bộ
tài sản của doanh nghiệp BOT, nhà đầu t
chỉ chịu trách nhiệm tối đa trong phần vốn
góp vào công ti BOT mà thôi. Phơng thức
này hiện nay thờng đợc sử dụng nhiều trên
thế giới
Tuy nhiên cần phải nói rằng, do đặc điểm
của dự án BOT là thời gian thực hiện kéo dài,
độ rủi ro khá lớn, do vậy khả năng hoàn trả
vốn vay cũng có thể gặp khó khăn nếu nh
doanh nghiệp BOT thua lỗ. Chính vì vậy,

định lâu dài với nhà cung cấp. Việc thực hiện
nghĩa vụ cung cấp của nhà cung cấp là vấn
đề quan trọng, mọi sự biến động về số lợng,
thời hạn và giá cả nguyên vật liệu đầu vào
đều ảnh hởng đến tiến độ và giá cả của đầu
ra.
- Ngời tiêu thụ sản phẩm, vấn đề tiêu
thụ sản phẩm cũng là vấn đề quan trọng đối nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 23

với dự án BOT. Tơng tự nh đối với những
nhà cung cấp, doanh nghiệp BOT cũng cố
gắng phải kí hợp đồng bán sản phẩm dài hạn
cho những doanh nghiệp phân phối (ví dụ,
công ti nớc sạch, công ti điện lực ). Thực
tiễn trên thế giới, các doanh nghiệp BOT
thờng kí hợp đồng loại Take or Pay" tức là
ràng buộc trách nhiệm ngời bao tiêu trả tiền
ngay cả trong trờng hợp không muốn mua,
một khi sản phẩm đ đợc giao đúng hạn.
Trong dự án BOT, việc đảm bảo đầu vào
của nguyên vật liệu và đầu ra của sản phẩm
không phải là trách nhiệm của riêng một
mình doanh nghiệp BOT. Để đảm bảo cho
quyền lợi của doanh nghiệp BOT cũng là
bảo đảm sự thành công của dự án, Điều 10
Nghị định số 62/1998/NĐ-CP đ quy định

nghiệp khác trong quá trình thực hiện dự án.
Hợp đồng BOT là hợp đồng kí kết giữa
nhà đầu t nớc ngoài với cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam để nhằm thực hiện dự
án phát triển cơ sở hạ tầng theo mô hình
BOT. Xét về mặt bản chất thì hợp đồng BOT
là hợp đồng kinh tế, tuy nhiên nó cũng có
những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, một bên chủ thể tham gia kí
kết hợp đồng là Nhà nớc Việt Nam mà đại
diện là cơ quan có thẩm quyền.
Thứ hai, thời hạn có hiệu lực của hợp
đồng thờng rất dài. Trong thời gian đó, có
thể có nhiều biến động xảy ra làm ảnh hởng
đến việc thực hiện dự án. Điều này buộc các
bên tham gia kí kết phải xem xét, đàm phán,
thoả thuận chi tiết và dự liệu các điều khoản
nhằm xác định rõ trách nhiệm, quyền lợi của
các bên trong các trờng hợp cụ thể trong
tơng lai. Đây là vấn đề khó đối với các bên
trong hợp đồng.
Thứ ba, hợp đồng BOT có thể đợc coi là
hợp đồng gốc hay cơ bản, trên cơ sở đó
các hợp đồng có liên quan khác mới đợc
phát sinh. Ngoài ra, nó còn chi phối các hợp
đồng này tuỳ theo mức độ cam kết của Nhà
nớc đối với nhà đầu t. Ví dụ, có thể chứa nghiên cứu - trao đổi

ngoại tệ theo nhu cầu. Thực tế cho thấy dự
trữ ngoại tệ của Việt Nam còn hạn chế, trong
khi đó nhu cầu đổi ngoại tệ của nhà đầu t có
thể phát sinh bất kì lúc nào và trong trong
thời gian ngắn (để tránh biến động về tỉ giá),
liệu có thể thực hiện đợc không. Những
đảm bảo cho nhu cầu của thị trờng (ví dụ,
cam kết không xây dựng con đờng khác
cạnh con đờng đ đợc xây dựng theo mô
hình BOT), bảo lnh cho các doanh nghiệp
cung ứng nguyên vật liệu và doanh nghiệp
bao tiêu sản phẩm trong trờng hợp cần
thiết và các bảo đảm khác cũng cần đợc
tuân thủ.
Thứ hai, vấn đề phân chia rủi ro hợp lí
giữa các bên liên quan. Các dự án BOT
thờng gặp rất nhiều rủi ro trong quá trình
thực hiện nh sự biến động về chính trị; rủi
ro về thơng mại (đồng tiền bị phá giá, lạm
phát), về luật pháp (pháp luật thay đổi); rủi
ro trong quá trình xây dựng công trình, trong
quá trình vận hành công trình Do vậy, một
trong các nguyên nhân khiến đàm phán về
hợp đồng BOT thờng căng thẳng và khó
khăn là vì các bên thờng cố gắng để mình
có thể gánh chịu ít rủi ro. Đây cũng là yếu tố
mà các bên cho vay xem xét khi quyết định
về khả năng cho vay.
Nguyên tắc phân chia rủi ro đợc áp
dụng trong thông lệ quốc tế là bên nào có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status