Một số giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân huyện Thanh Liêm - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Vấn đề lao động việc làm và thu nhập là một vấn đề luôn luôn mang
tính thời sự với bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ địa phương và với bất kỳ cá nhân
lao động nào…Trong điều kiện phát triển của nước ta hiện nay thì vấn đề việc
làm và thu nhập của lao động là vấn đề rất đáng quan tâm của toàn xã hội và
với thực tế nước ta đang trong quá trình Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước để đảm bảo được các mục tiêu phát triển mà xã hội đã đặt ra và giải
quyết các vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập và để thu hẹp khảng cách giữa
cách giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động thành thị và lao động nông
thôn là việc làm hết sức cần thiết. Với thực tế nước ta lao động nông nghiệp,
nông thôn còn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động của cả nước và đặc
biệt chất lượng lao động trong khu vực này còn rất thấp, từ đó dẫn tới thu
nhập còn thấp, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn…và trong
quá trình phát triển của Đất nước thì Đảng và Nhà nước ta đã có những chính
sách để đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta… Vì những
lý do trên em thấy vấn đề lao động, việc làm, thu nhập của người lao động
nông thôn là một vấn đề luôn mang tính thời sự và cần được nghiên cứu giải
quyết cho phù hợp với quá trình phát triển, vậy em xin chọn đề tài cho thực
tập tốt nghiệp của mình là “Thực trạng lao động và một số giải pháp nâng cao
thu nhập cho người lao động huyện Thanh Liêm” để hiểu thêm về vấn đề này.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu với mục đích tìm hiểu thực trạng lao động, việc
làm và thu nhập của lao động địa phương, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm
cải thiện tình hình thu nhập hiện nay cho lao động tại địa phương nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề lao động, việc làm và thu nhập của

quang .Theo thời gian lao động ngày càng phát triển theo hướng chuuyên môn
hoá và hợp tác hoá. Nhờ đó ,từ nhiều thế kỷ nay đã hình thành bộ môn khoa
học riêng gọi là khoa học lao động , từ đây chúng ta thấy được vai trò và vị trí
quân trọng của lao động .
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và góc độ phân tích, lao động được
phân loại thành :
- Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là sản
xuất ra sản phẩm bao gồm lao động công nghệ và lao động phụ trợ . Lao động
gián tiếp sản xuất là lao động quản lý và phục vụ quản lý để đảm bảo quá
trình liên tục có hiệu quả .
-Lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao
động không cần qua dào tạo , tập huấn chuyên môn hoặc nếu có cũng ở mức
thấp . Nó là sự hao phí sức lao động của người không có trình độ chuyên
môn, lao động không thành thạo còn lao động phức tạp là lao động của người
đã qua tập huấn chuyên môn .
- Lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động cụ thể là lao động
nhằm mục đích nhất định , lao động tạo ra giá trị sử dụng cần phải có những
loại lao động nhất định, sự phân biệt các loại lao động căn cứ vào phương
pháp lao động , công cụ lao động và kết quả lao động . Lao động trừu tượng
là lao động xã hội, tính chất xã hội biểu hiện ra quá trình trao đổi. Trong điều
kiện sản xuất hàng hoá dựa trên chế đọ tư hữu, mâu thuẫn giữa lao động trừu
tượng và lao động cụ thể phản ánh giữa lao động tư nhân và lao động xã
hội….
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tóm lại lao động là tất cả những hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp của
con người nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội, các hoạt động này được
pháp luật quy định và bảo vệ.
Trong khái niệm lao động còn có khái niệm vê nguồn lao động . Nguồn

yếu biểu hiện ở mặt trí lực và thể lực của người lao động .
1.1.2 Một số khái niệm về việc làm.
Khái niệm “việc làm” và việc xác định số người có “việc làm” là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định cơ chế, chính sách quản lý
nguồn nhân lực.
Trong cơ chế thị trường, quan niệm về “việc làm” và người có “việc
làm” khác căn bản với quan niệm trong cơ chế cũ. “Việc làm” là một phạm
trù tổng hợp, “việc làm” và lao động liên quan chặt chẽ với nhau nhưng
không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Theo Bộ Luật Lao động nước ta, khái niệm “việc làm” được xác định là
“mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị luật pháp ngăn cấm”
(Điều 13 - Bộ Luật Lao động). Như vậy không chỉ những người làm việc
trong các ngành của nền kinh tế quốc dân, mà nhiều người khác cũng được
coi là có việc làm, nếu họ gián tiếp góp phần tạo ra thu nhập.
“Việc làm đầy đủ” là sự thoả mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm của các
thành viên có khả năng lao động, nói cách khác là mỗi người có khả năng lao
động, muốn làm việc đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn.
“Việc làm đầy đủ” mới chỉ đề cập về mặt số lượng, chưa tính đến yếu tố
nguyện vọng, năng khiếu, sở trường, tức là chưa tính đến yếu tố hợp lý của
việc làm.
“Thiếu việc làm” là tình trạng có việc làm nhưng thời gian làm việc
thấp hơn thời gian quy định và có nhu cầu làm thêm. Thiếu việc làm còn thể
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiện dưới dạng làm việc có năng suất và thu nhập dưới mức thu nhập tối
thiểu. Hiện nay tình trạng thiếu việc làm còn phổ biến ở khu vực ngoại thành
Hà Nội, hệ số thời gian sử dụng lao động thực tế ở khu vực này hiện khoảng
65 - 70%.
“Việc làm hợp lý” là sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các

đồng bộ để hạn chế tỷ lệ người thất nghiệp.
1.2 Đặc điểm của lao động nông thôn.
Nước ta còn là một nước nông nghiệp chưa phát triển , quá trình đô thị
hoá trong giai đoạn này mới đang diễn ra mạnh, dân số ở các đô thị còn ít mà
vẫn tập chung chủ yếu ở khu vực nông thôn. Cụ thể năm 2008 tỷ lệ dân số đô
thị của nước ta mới đạt 27,9% (trương đương với khoảng 24 triệu người.) Còn
dân số sống ở khu vực nông thôn vẫn chiếm 72,1% dân số cả nước (tức là
khoảng 62,16 triệu người) trong khi trung bình của thế giới là khoảng 49%.
(số liệu lấy từ báo Dân số và đô thị). Như vậy chúng ta có thể thấy rằng dân
số ở khu vực nông thôn của chúng ta còn rất cao so với trung bình của thế
giới. Điều này cho thấy rằng lao đọng trong khu vực nông thôn của chúng ta
là khá lớn. Với nộng dung của chuyên đề tập chung nghiên cứu về lao động
của khu vực nông thôn nên trong phần này sẽ đề cập đến đặc điểm của lao
động nông thôn .
- Về số lượng nguồn nhân lực của nước ta khá dồi dào, cơ cấu dân số
trẻ. Dân số trong độ tuổi lao động là khoảng 52 triệu người. Trong đó dân số
ở khu vực nông thôn chiếm tới 72,1% như vậy dân số trong độ tuổi lao động
ở khu vực này khoảng 37,5 triệu người . Xét theo cơ cấu độ tuổi, lực lượng
lao động tuổi từ 15-34 tuổi chiếm 54,6% lực lượng lao động nông thôn. Đây
là lực lượng lao động trẻ, có khả năng tiếp thu, nắm bắt và sử dụng công nghệ
nhanh trong sản xuất nếu được đào tạo tốt. Tuy nhiên lao động trong nông
nghiệp lại chiếm tỷ trọng cao, chiếm tới 66% lao động nông thôn .
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Về chất lượng, nhìn chung trình độ lao động nông thôn của chúng ta
còn thấp, theo báo cáo của bộ Lao động và Thương binh Xã hội lao động
nông thôn được qua đào tạo nghề chỉ chiếm 18,7%, một con số hết sức khiêm
tốn, nó phần nào nói lên được trình độ của lao động nông thôn của nước ta.
Trình độ chuyên môn tay nghề của lao động nông thôn còn rất thấp và mất


+
+
Cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội nhằm đảm bảo
Cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội nhằm đảm bảovề nhu cầu tiêu dùng cho con người trong cuộc sống hàng ngày đảm bảo cho
về nhu cầu tiêu dùng cho con người trong cuộc sống hàng ngày đảm bảo chosự tồn tại và khả năng tái sản xuất của con người.
sự tồn tại và khả năng tái sản xuất của con người.
+ Sản phẩm của lao động nông thôn không những chỉ được dùng
+ Sản phẩm của lao động nông thôn không những chỉ được dùngđể tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày mà nó còn đóng vai trò cung cấp
để tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày mà nó còn đóng vai trò cung cấpSV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp sản xuất hàng tiêudùng, từ đây ta có thể nhận thấy lao động nông thôn không những lao động để
dùng, từ đây ta có thể nhận thấy lao động nông thôn không những lao động để

thôn đã tạo ra một thị rộng lớn, thị trường quan trọng vào việc tiêu dùng sản
thôn đã tạo ra một thị rộng lớn, thị trường quan trọng vào việc tiêu dùng sảnphẩm của các ngành công nghiệp và dịch vụ.
phẩm của các ngành công nghiệp và dịch vụ.
+ Lao động nông thôn cùng với sự phát triển nông thôn là cơ sở để
+ Lao động nông thôn cùng với sự phát triển nông thôn là cơ sở đểđảm bảo và ổn định kinh tế xã hội trong quá trình phát triển của Đất nước.
đảm bảo và ổn định kinh tế xã hội trong quá trình phát triển của Đất nước.
- Với số lượng lao động lớn, và có khả năng tốt trong việc tiếp thu học
tập thì lao động nông thôn không những giúp cho lực lượng lao động trong
nước được ổn định mà lao đông nông thôn tuy tay nghề và kiến thức còn hạn
chế nhưng lại là nguồn dự bị cho lao động công nghiệp hiện đại và luôn sẵn
sàng bổ xung khi cần thiết.
2.Thu nhập, và sự cần thiết phải nâng cao thu nhập.
2.1 Khái niệm thu nhập.
Thu nhập là khoản tiền thu từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản
xuất trong 1 thời kỳ nhất định.
- Cơ cấu thu nhập bao gồm thu nhập từ kết quả lao dộng (tiền công,
tiền lương: bao gồm lương hưu, các khoản trợ cấp và bao gồm cả học bổng)
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và thu nhập tài chính (lãi do gửi tiết kiêmk, lãi do mua bán đầu tư chứng
khoán, thu từ các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác.
- Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhận
được do đã bỏ sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinh

HDI=
3
INEA
III ++
Trong đó:
I
A là
chỉ số đo tuổi thọ.
I
E là
chỉ số đo tri thức giáo dục(kiến thức) được đo bằng chỉ số tổng hợp
giữa tỷ lệ biết chữ của người lớn (với trọng số bằng 2/3) và tỷ lệ nhập học cấp
giáo dụctiểu học, trung học, đại học (với trọng số1/3).
Hai chỉ số I
A
và I
E
được tinh toán dựa vào công thức sau :
Chỉ số =
Giá trị tối đa và tối thiểu (giá trị biên) được đặt ra với từng loaị chỉ số là:
Bảng 1.1 Giá trị tối đa - tối thiểu của các chỉ tiêu.
Chỉ tiêu
Giá trị
tối đa
Giá trị
tối thiểu
Tuổi thọ (năm) 85 25
tỷ lệ người lớn biết chữ (%) 100 0
tỷ lệ nhập học (%) 100 0
GDP thực tế đầu người (PPPUSD) 40.000 100

177 nước và vùng lãnh thổ tham gia xếp hạng. Như vạy chúng ta cần phải cải
thiện chỉ số này hơn nữa bằng cách nâng cao thu nhập cho người dân của
chúng ta.
Trong thực tế cuộc sống của chúng ta thu nhập là một yếu tố rất quan
trọng, nó biểu hiện ở số tiền, hay các sản phẩm do quá trình lao động mà
chúng ta tạo ra và nó có giá trị cho cuộc sống. Để duy trì và nâng cao chất
lượng cuộc sống, con người cần phải có thu nhập và chúng ta có thể dễ dàng
nhận thấy rằng trong đời sống hàng ngày thu nhập quan trọng như thế nào.
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
12
log(thu nhập thực tế) – log (thu nhập tối thiểu)
log (thu nhập tối đa) – (log (thu nhập tối thiểu)
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Với mỗi người với các mức thu nhập khác nhau thì có thể nói rằng chất lượng
cuộc sống mà họ được hưởng cũng khác nhau, với những mức thu nhập cao
thì xẽ có được cuộc sống với chất lượng của các dịch vụ và sự sinh hoạt hàng
ngày tốt hơn chẳng hạn như: bữa ăn hàng ngày xẽ đủ chất dinh dưỡng hơn,
các đồ dùng sinh hoạt cũng tốt hơn, con cái được học tập trong những ngôi
trường với chất lượng tốt hơn, nói tóm lại xẽ có được những thứ gần với sự
mong muốn hơn, ngược lại những người có thu nhập thấp, những người
nghèo thậm chí là đói thì với thu nhập thấp đó họ có thể ăn không đủ no, mặc
không đủ ấm chú chưa nói gì đến việc được sử dụng các dịch vụ mà cần có
tiền mới có được…
Mặt khác, mức sống của dân cư bắt nguồn từ thu nhập. Thu nhập là
một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức sống của một gia đình
nông thôn. Tăng thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải thiện và nâng
cao mức sống, là cơ sở để tăng tích luỹ và tăng đàu tư cho quá trình sản xuất
tiếp theo. Tăng thu nhập cho mỗi người dân đồng nghĩa với việc thu nhập
bình quân đầu người mỗi khu vực tăng lên và từ đó thu nhập bình quân quốc
gia tăng lên, điều đó thể hiện sự tăng trưởng của mỗi vùng, mỗi quốc gia. Và

trong vấn đề giải quyết việc làm. Do vậy, việc kế hoạch hoá dân số đi đôi với
phát triển kinh tế là vấn đề quan tâm đặc biệt ở các nước đang phát triển. Tuy
nhiên cũng cần chú ý rằng các yếu tố sinh đẻ và tử vong có tác động đến quy
mô dân số trong độ tuổi lao động song có tác động trễ (sau 15 năm). Do vậy,
để hạn chế tốc độ tăng dân số cần có các chính sách kiểm soát dân số có hiệu
quả trong thời kỳ ít nhất là 15 năm.
Biến động dân số cơ học do tác động của di dân. Ở các nước đang phát
triển, di dân là một nhân tố rát quan trọng tác động đến quy mô và cơ cấu lao
động, đặc biệt cơ chế lao động khu vực thành thị và nông thôn. Chính vì vậy
dân số và lao động chuyển từ nông thôn ra thành thị là biểu hiện chính của xu
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hướng di dân trong nước. Sức ép của việc di dân cho xã hội cũng là rất lớn, nó
thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hoá và nếu chúng ta không có biện pháp hợp
lý thì sẽ tạo ra gánh nặng cho xã hội gây nên nhưũng tiêu cực không dáng có.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động.Dân số trong độ tuổi lao động phản
ánh khả năng lao độngcủnền kinh tế. Tuy nhiên không phảt tất cả những
người trong độ tuổi lao độngđều là những người tham gia vào lực lượng lao
động. Cung lao động sẽ phụ thuộc vào số lượng dân số trong độ tuổi tham gia
lực lượng lao độngvà được xem xét qua chỉ tiêu “tỷ lệ tham gia lực lượng lao
động của dân số trong độ tuổi lao động”. Theo khái niệm lực lượng lao động
thì “tỷ lệ tham gia lực lượng lao động” nói chung được hiểu là tỷ số phân trăm
giữa số người đủ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trên dân số đủ 15
tuổi trở lên.
Tỷ lệ tham gia lực lưọng lao động có thể khác nhau giữa các nhóm tuổi,
giữa nam và nữ. Yế tố tác động đến tỷ lệ tham gia lao độnglà yếu tố kinh tế,
xã hội và văn hoá. Những yếu tố này có thể tác động làm tăng tỷ lệ tham gia
lực lượng lao động nhưng cũng có thể là ngược lại.
3.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động.

cao, cân nặng. Điều này lại phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng chăm sóc sức
khoẻ. Đối với người đang làm việc, thể lực và tuổi thọ của họ một mặt phụ
thuộc vào yếu tố dinh dưỡng nhưng mặt khác lại phụ thuộc vào dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ thường xuyên (đặc biệt đối với những ngành nghề độc hại) và
chính sáh bảo hiểm y tế đối với người lao động.
Tác phong công nghiệp, tính kỷ luật của người lao động và chất lượng
lao động. Bên cạnh hai yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng lao động là trình
độ, kỹ năng và sức khoẻ của người lao động như đã nói ở trên thì ngày nay,
các nhà quản lý cho rằng chất lượng lao động, hiệu quả của công việc còn liên
quan và phụ thuộc vào tác phong, tinh thần, thái độ và tính kỷ luật của người
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lao động. Trong khu vực thành thị, điều kiện làm việc ngày càng có xu hướng
hiện đại hoá, trong các hoạt động kinh tế, sự phối hợp trong công việc giữa
các cá nhân trong cùng một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau có xu hướng
gia tăng và đặt ra yêu cầu cao. Điều này đòi hỏi người lao động phải có tác
phong công nghiệp, tinh thần tự chủ sáng tạo, thái độ hợp tác và tính kỷ luật
chặt chẽ.
3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm.
Sức cầu của thị trường và sự đầu tư: Số lượng việc làm trong nền kinh
tế phản ánh cầu lao động. Về lý thuyết, cầu lao động cho thấy số lượng lao
động mà các tổ chức, đơn vị kinh tế sẵn sàng thuê để tiến hành các hoạt động
kinh tế với mức tiền lương nhất định. Cầu lao động phụ thuộc chủ yếu vào
quy mô sản lượng và hệ số co giãn việc làm đối với sản lượng (đầu ra).
Lao động là yếu tố đầu vào cần thiết để sản xuất một lượng hàng hoá,
dịch vị nhất định. Điều này cũng có nghĩa là quy mô của sản xuất hàng hoá
dịch vụ sẽ quyết định lượng đầu vào được sử dụng để sản xuất từ đó tác đông
đến càu của lao động và làm cho số việc làm tăng lên hoặc giảm xuống. Tuy
nhiên trong nền kinh tế thị trường, đặc điểm của cầu lao động mang tính chất

thị trường lao động, thị trường chứng khoán..), trình độ, năng lực cá nhân,
hiệu quả của các chính sách vĩ mô của nhà nước.
Đối với các khoản thu nhập từ lao động như tiền lương, tiền công, bảo
hiểm, tiền thưởng ,phụ cấp… thì các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: Điều kiện
kinh tế xã hội, Luật lao động, thị trường lao động, khả năng tài chính doanh
nghiệp, vị trí địa lý và giá cả sinh hoạt của từng vùng, công việc và năng lực
của người thực hiện nó..Những nhân tố tác động tới thu nhập có rất nhiều yếu
tố song có thể chia ra thành các nhóm nhân tố sau:
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sự phát triển kinh tế và sự phát triển của thị trường lao động gồm các
nhân tố như mức độ phát triển của nền kinh tế, mức sống của dân cư, tiền
lương trung bình trên thị trường lao động, chính sách lao động xã hội, chính
sách tiền lương, chính sách đãi ngộ..
Doanh nghiệp: gồm các nhân tố như khả năng tài chính của doanh
nghiệp, hiệu quả của các chính sách đầu tư và các dự án đầu tư, các chính
sách về thuế, thu nhập của doanh nghiệp…
Công việc: bao gồm mức độ phức tạp, quan trọng của công việc và
cung cầu lao động trên thị trường lao động, nghề nghiệp. Thông thường người
lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp được trả lương thấp hơn những
người làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, và dịch vụ do yêu cầu kỹ năng,
trình độ của ngành này thấp. Bản thân trong cùng một ngành nghề thì thu
nhập của người lao động phụ thuộc vào chuyên môn và kinh nghiệm công tác
của người lao động do những công việc phức tạp được trả lương cao hơn
những công việc đơn giản…
Người lao động: gồm những nhân tố liên quan mặt thể chất và giới tính
gồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khoẻ và chi tiêu bình quân đàu người.
Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng hiện tại (kiến thức, kỹ năng, phẩm chất
lao động), tiềm năng cá nhân trong tương lai, kiến thức tay nghề tích luỹ,

thuật và tay nghề được đào tạo hay nói cách khác là lao động có tri thức, còn
về vấn đề việc làm và thu nhập thì thu nhập cao có được khi việc làm đó nằm
trong lĩnh vực tạo ra các giá trị gia tăng là nhiều, những công việc trong
những ngành hàm chứa trong nó những ký thuật, công nghệ cao. Vậy chúng
ta có thể thấy rằng thu nhập của một lao động là tỷ lệ thuận với khả năng kiến
thức, trình độ chuyên môn của người lao động đó và lĩnh vực người đó tham
gia lao động.
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ các cơ sở lý luận về lao động, việc làm và thu nhập ở trên có thể kết
luận rằng lao động nói chung và lao động của huyện Thanh Liêm nói riêng
cũng có các nhân tố tác động tới lao động, việc làm và thu nhập có thể nói
đén như: Tình hình phát triển chung của cả nước, tình hình phát triển của tỉnh,
đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương, trình độ của người dân, người lao
động huyện Thanh Liêm. Đó là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc làm, lao
động và thu nhập của người dân huyện Thanh Liêm.
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
1.Tình hình chung của Lao động nông thôn và thu nhập của người lao
động nông thôn ở Việt Nam.
1.1.Tình hình chung lao động ở nông thôn ở nước ta.
Trong khu vực nông thôn, tư liệu sản xuất chủ yếu của người lao động
là dất đai. Việc làm nông thôn phu thuộc nhiều vào đất canh tác, thiếu đất
canh tác ở mức độ nào đó đồng nghĩa với thiếu việc làm của lao động nông
thôn và đặc biệt là lao động nông nghiệp. Việclàm ở nông thôn hiện nay chủ

nhiều. Tình trạng nông nhàn ngày càng trở nên phổ biến, nếu để ý chúng ta sẽ
thấy rất nhiều người ngoại tỉnh đổ sô về các thành phhó lớn để kiếm việc làm
thêm từ đó có một số nơi đã hình thành nên cái gọi là “ chợ lao động”. Đặc
biệt trong tình trạng thiếu việc làm trong cả nước nói chung và trong khu vực
nông nghiệp nói riêng thì vấn đề nông nhàn càng trở nên bức xúc và đó còn là
nguồn bổ sung đáng lo ngại vào lực lượng lao độngthiếu việc làm nói chung
và làm tăng thêm dòng người di cư, di dân, di chuyển từ vùng này đến vùng
khác, từ nông thôn ra thành thị. từ đó cũng nảy sinh ra nhiều tình huống phức
tạp, những tệ nạn hình thành khiến xã hội phải lo lắng và quan tâm.
Cơ cấu lao động nông thôn: Trong những năm vừa qua cơ cấu lao động
nông thôn biến động theo xu hướng chuyển dịch một bộ phận lao động nông
nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp, quá trình này phụ thuộc vào sự phát
triển chung của kinh tế cả nước, vào sự phát triển của khu vực phi nông
nghiệp ngay tại các vùng nông thôn, sự đầu tư ngay tại các vùng nông thôn,
đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nông thôn ngày càng nhiều, và sự phát triển các
khu công nghiệp, cụm công nghiệp ngày càng nhiều và quy mô càng lớn.
Theo số liệu điều tra năm 2001 và 2006 về nông thôn, nôngnghiệp và nông
dân cho thấy hiện nay số hộ nông thôn cả nước tại thời điểm 01/07mỗi năm
như sau :
Bảng 2.1 Cơ cấu hộ nông thôn theo ngành năm 2001 và 2006.
01/07/2001 01/07/2006
Triệu hộ Tỷ trọng( %) Triệu hộ Tỷ trọng (%)
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng số hộ nông thôn 13.07 100 13.77 100
Số nông hộ, lâm nghiệp và
thủy sản
10.57 81.0 9.78 71.1
Số hộ công nghiệp, xây dựng

Từ bảng trên ta thấy rằng: Lao động nông nghiệp giảm 10.0% so với
năm 2000, lao động công nghiệp – xây dựng tăng 6.6%, lao động dịch vụ tăng
3,4%. Xu hướng hoạt động đa dạng của ngành nghề của lao động ở khu vực
nông thôn ngày càng tăng. Số người trong độ tuổi lao động có tham gia hoạt
động nông nghiệp trong năm qua: lao động chuyên nông nghiệp chiếm
58,2%, lao động nông nghiệp kiêm ngành nghề khác chiếm 27,6% và lao
động phi nông nghiệp có hoạt động phụ nông nghiệp chiếm 14,2%.
Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động nông thôn: Trong công
cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn luôn chú trọng đến phát triển toàn diện
nền kinh tế, trong những năm qua nước ta đã đạt được nhiều bước đột phá
quan trọng và nhiều thành tựu to lớn. Khu vực nông thôn nước ta nơi chiếm
tới hơn 71% dân số và chiếm gần 40% lao động trong tổng số lao động của
toàn xã hội nhưng lao động ở đây vẫn đang trong tình trạng phát triển chậm
và trình độ còn thấp. Trong những năm trước về trình độ học vấn chuyên môn
ở nông thôn, đặc biệt là những vùng không phát triển nghề phụ mà chỉ thuần
nông thì tình trạng thừa lao động giản đơn không có tay nghề và trình độ
chuyên môn kỹ thuật là phổ biến.
Năm 2000 trong khu vực thành thị cứ 10 người tham gia hoạt động
kinh tế thì có 4 người đã tốt nghiệp trung học phổ thông, cao gấp hơng 3 lần
so với khu vực nông thôn, và tỷ lệ chưa biết chữ trong nông thôn lại cao gấp
hơn 6 lần so với khu vực thành thị. Tuy nhiên tỷ lệ lao động nông thôn đã tốt
nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chỉ chioếm 41,9%. thấp hơn so
với khu vực thành thị 19%. Đây cũng là một trở ngại lớn cho lao động nông
thôn khi học nghề tạic các cơ sở đào tạo tại các thành thị. Trình độ học vấn
chuyên môn của lao động nông thôn hoạt động phi nông nghiệp cũng rất thấp
khoảng 65% tốt nghiệp trung học cơ sở, 35% lao động trong các
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
25

Trích đoạn Vài nét về tỉnh Hà Nam Thanh Liêm và nguồn lực cho phát triển Định hướng phát triển kinh tế-xã hội của huyện đến năm 2010 Mục tiêu và đường lối phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp,nông dân, nông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status