Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, nâng cao kết quả kinh doanh tại Ngân hàng cổ phần nhà Hà Nội- chi nhánh Thanh Quan - Pdf 10

lời Mở đầu
Nghị quyết đại hội Đảng lần VI đã tạo ra bớc ngoặt đối với nền kinh tế
của đất nớc. Từ đây, nền kinh tế của nớc ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng Xã hội
chủ nghĩa. Theo tinh thần Nghị quyết, các doanh nghiệp đợc toàn quyền quyết
định các vấn đề cơ bản của sản xuất là sản xuất cho ai, sản xuất cái gì, sản xuất
nh thế nào; nhà nớc cũng không ấn định giá nh trớc kia nữa mà do quan hệ
cung- cầu trên thị trờng quyết định. Nhà nớc chỉ nắm giữ độc quyền một số
ngành nghề then chốt nh: ngành điện lực, ngành bu chính viễn thông, ngành dầu
khí, ngành tài chính- ngân hàng và một số ngành khác. Nhng cho đến nay thì
ngành tài chính- ngân hàng không phải là ngành độc quyền nữa mà đã là ngành
đa sở hữu: sở hữu nhà nớc, sở hữu t nhân, sở hữu nớc ngoài. Nó đợc xác định là
một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Vì thế, cũng
giống nh bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh trên thị trờng, mỗi
ngân hàng đều phải giải quyết bài toán hiệu quả kinh doanh. Trong đó lợi nhuận
đợc đa lên hàng đầu, là chỉ tiêu định lợng quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả
kinh doanh. Trên thực tế mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay
gắt. Các ngân hàng không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn cạnh tranh phải cạnh
tranh với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác nh ngành bu điện, ngành bảo
hiểm, công ty tài chính ... Lợi nhuận giống nh một miếng bánh lớn và mỗi chủ
thể tài chính chiếm đợc một phần miếng bánh nhỏ. Độ lớn của miếng bánh nhỏ
này tuỳ thuộc vào khả năng kinh doanh của chính đơn vị kinh tế đó. Tâm lý
chung của ngời kinh doanh là muốn cho phần lợi nhuận của mình năm sau lớn
hơn năm trớc hay tối thiểu cũng phải giữ đợc bằng năm trớc. Để mong muốn trở
thành thực tế thì không phải ai cũng làm đợc. Xuất phát từ yêu cầu thực tế cũng
nh những băn khoăn trăn trở trên, sau khi kết thúc chơng trình học tập tại Học
Viện Ngân Hàng và 3 tháng đợc đi vào thực tế, em xin đợc lựa chọn đề tài:
Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, nâng cao kết quả
kinh doanh tại Ngân hàng cổ phần nhà Hà Nội- chi nhánh Thanh Quan
Đề tài đợc kết cấu với ba chơng
1

các nhà ngân hàng nớc ta về NHTM đợc ghi trong luật các tổ chức tín dụng ban
hành tháng 5 năm 1990 nh sau: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nhiệm vụ chiết khấu
và làm phơng tiện thanh toán .
Theo các nhà nghiên cứu thì mầm mống sơ khai của ngân hàng có từ thời
trung cổ mà tiền thân của nó là những hiệu kim hoàn. Thời đó những ngời giầu
thờng mang tiền bạc tới những tiệm kim hoàn và gửi ở đó để đảm bảo an toàn
cho tài sản của họ. Họ sẽ đợc nhận một chứng th xác nhận quyền sở hữu về
những tài sản đi gửi nhng đổi lại họ phải trả một mức phí cho hiệu kim hoàn đó.
Lúc đầu, những ông chủ đúc vàng dự trữ 100% để chi trả cho khách hàng. Sau
một thời gian dài họ nhận thấy rằng luôn luôn có một lợng tiền vàng tồn ở trong
kho họ giữ vì bên cạnh những ngời rút tiền thì cũng có những ngời khác đem
tiền vào gửi. Mặt khác, không phải ai cũng có tiền nhàn rỗi để gửi vào mà có
rất nhiều ngời đang cần vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Từ đó, các chủ
3
hiệu kim hoàn nghĩ ra một kiểu kinh doanh mới là chỉ giữ lại một số lợng nhất
định để đáp ứng yêu cầu rút tiền của khách hàng, phần còn lại họ sẽ cho ngời
cần vốn vay. Dần dần thì hoạt động cho vay ngày càng phát triển, vì vậy thay vì
thu phí giữ tiền, họ lại trả cho những ngời gửi một số tiền nhất định nào đó.
Hoạt động này ngày càng phát triển và đợc coi là nghiệp vụ truyền thống của
ngân hàng, và các tiệm kim hoàn dần dần phát triển và hình thành nên ngân
hàng.
ở thời kỳ đầu, khoảng thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 các ngân hàng còn hoạt
động độc lập với nhau và thực hiện các chức năng nh nhau, đó chính là trung
gian thanh toán và phát hành giấy bạc ngân hàng.
Sang thế kỷ 18, cuộc cách mạng kinh tế của các nớc Tây Âu đã tạo ra
một khối lợng hàng hóa khổng lồ. Nh vậy, một mặt nó đòi hỏi phải có khối lợng
vốn lớn, mặt khác nó thúc đẩy quá trình lu thông hàng hoá ngày càng phát triển.
Các nghiệp vụ của ngân hàng nh đi vayvà cho vay, làm trung gian thanh

năng độc quyền phát hành tiền; quản lý nhà nớc về tiền tệ và tín dụng; và là cơ
quan quản lý dự trữ ngoại hối của nhà nớc. Cấp thứ hai là các NHTM trực thuộc
NHTW có chức năng hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân
hàng trực tiếp đối với nền kinh tế. Pháp lệnh NHNN 5/1990 đã đánh dấu một b-
ớc ngoặt quan trọng trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam. Từ đây hệ
thống NHTM Việt Nam bớc sang một trang sử mới.
1.1.2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trờng
1.1.2.1 NHTM là nơi thu hút tiền nhàn rỗi và cung ứng vốn cho nền
kinh tế
Trong nền kinh tế, không chỉ có riêng ngân hàng làm nhiệm vụ thu hút l-
ợng tiền nhàn rỗi và cung cấp vốn cho các chủ thể thiếu vốn, nhng NHTM vẫn
là tổ chức thực hiện công việc này hiệu quả nhất. Và đây đợc coi là chức năng
cơ bản nhất của ngân hàng, đồng thời tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức
năng khác. Khi thực hiện các chức năng làm trung gian tín dụng NHTM giống
nh chiếc cầu để nối giữa những ngời có vốn mà cha có ý tởng kinh doanh và
những ngời có ý tởng kinh doanh nhng cha có vốn. Hay nói cụ thể hơn là ngân
hàng đi vay để cho vay. Ngân hàng thực đợc việc này dựa trên cơ sở ngân
5
hàng là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ và tín dụng, có khả năng nhận
biết khả năng cung và cầu vốn trên thị trờng, và đặc biệt là có uy tín khá cao.
Dựa vào uy tín của ngân hàng mà những ngời có tiền đem vào đó để gửi, họ vừa
đạt đợc mục đích là đảm bảo an toàn cho tài sản của mình mà lại vừa có thu
nhập. Trên cơ sở đó ngân hàng đã tập hợp đợc khối tiền nhàn rỗi và cho những
ngời cần vốn vay. Nh vậy NHTM đã giúp góp phần tạo đợc lợi ích cho tất cả
các bên. Đối với ngời vay tiền sẽ thoả mãn đợc vốn để kinh doanh một cách
nhanh nhất, chi phí về thời gian và tiền bạc thấp nhất. Đối với bản thân NHTM
thì sẽ kiếm đợc lợi nhuận từ phần chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất
tiền cho vay. Cũng giống nh bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động kinh
doanh trên thị trờng, lợi nhuận này sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Và đối với tổng thể nền kinh tế, chức năng trung gian tín dụng sẽ

vấn và vừa nâng cao đợc uy tín. Khi nền kinh tế phát triển thì vai trò này sẽ đợc
đề cao hơn nữa.
1.1.2.3 Vai trò trung gian thanh toán .
Vai trò này thực hiện đợc thì phải dựa trên cơ sở là Ngân hàng làm thủ
quỹ cho xã hội. Theo đó thì các NHTM mở tài khoản tiền gửi, thực hiện quản lý
tài khoản và tiến hành thu, chi theo lệnh của khách hàng. Nếu càng có nhiều
đơn vị, cá nhân mở tài khoản ở ngân hàng thì việc thu chi sẽ càng đợc thực hiện
nhiều ngay trên tài khoản và lợng tiền mặt trong lu thông sẽ giảm. Việc giảm l-
ợng tiền mặt trong lu thông đem lại lợi ích cho nhà nớc mà ngời dân cũng đợc
hởng ích lợi đó. Mặt khác khi việc thanh toán qua ngân hàng tăng lên sẽ làm
cho tốc độ luân chuyển vốn và hàng hoá tăng lên; vốn nhàn rỗi sẽ đợc tập trung
nhiều hơn ở ngân hàng để đầu t cho nền kinh tế; tăng cờng đợc sự quản lý của
nhà nớc đối với các chủ thể kinh tế ... Phơng thức TTKDTM ra đời không chỉ
khắc phục đợc nhợc điểm của phơng thức thanh toán bằng tiền mặt mà còn có ý
nghĩa to lớn khác. Chính vì thế mà phơng thức thanh toán qua ngân hàng là xu
hớng phổ biến hiện nay. Nó cũng đợc coi là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển
kinh tế, xã hội, văn minh của đất nớc. Ngời ta thấy rằng càng ở những nớc có
nền kinh tế phát triển thì tỷ trọng TTKDTM càng lớn
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yéu của NHTM.
7
1.1.3.1 Các nghiệp vụ thuộc tài sản nợ và vốn.
Nghiệp vụ thuộc tài sản Nợ phản ánh nguồn vốn của ngân hàng. Từ sau
cuộc suy thoái kinh tế thế giới 1929-1930, phần lớn các NHTM trên thế giới
đều chú trọng đến việc quản lý tài sản Có. Tuy nhiên, tới năm 1960 ngời ta đã
giành sự quan tâm đến việc quản lý tài sản Nợ. Ngời ta nghiên cứu và chia bên
tài sản Nợ thành 3 nghiệp vụ nh sau:
*
Nghiệp vụ tiền gửi :
Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn hay còn đợc gọi là tiền gửi thanh toán mà đặc

sẽ quyết định đến lợng vốn huy động, lãi suất cao sẽ kích thích ngời dân tiết
kiệm tiêu dùng để gửi vào ngân hàng.
+ Tiền gửi tiết kiệm có mục đích : thờng là loại tiết kiệm trung và dài hạn
nhằm mục đích lớn nh: xây nhà ở, mua ô tô xịn ... Ngân hàng còn đa ra một số -
u đãi cho loại hình tiền gửi này là ngoài việc đợc hởng lãi, khách hàng còn đợc
hỗ trợ thêm tiền nếu có nhu cầu.
Xét trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì bộ phận tiền gửi chiếm một
tỷ trọng lớn. Bộ phận này có ý nghĩa rất quan trọng vì ngoài u thế là chi phí rẻ
và nguồn vốn tơng đối ổn định thì tỉ trọng của nó còn thể hiện uy tín của ngân
hàng. Tất cả các ngân hàng đều quan tâm đến phát triển nghiệp vụ này.
*
Nghiệp vụ đi vay

Phát hành GTCG
Để thu hút đợc tối đa nguồn vốn từ hình thức này các ngân hàng thờng đa
ra nhiều loại hình đó là: phát hành theo mệnh giá; phát hành theo hình thức
chiết khấu. Trong từng loại ngân hàng còn chia nhỏ ra theo kỳ hạn trả lãi khác
nhau để phù hợp với mọi đối tợng khách hàng
Cùng với nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ này cũng thuộc nghiệp vụ huy
động vốn của ngân hàng. Khi áp dụng hình thức phát hành GTCG để huy động
vốn thì ngân hàng sẽ có ba điểm thuận lợi. Thứ nhất là ngân hàng không phải
duy trì DTBB nếu chỉ phát hành GTCG có thời hạn dới một năm. Thứ hai là
ngân hàng sẽ chủ động về khối lợng vốn huy động hơn là nhận tiền gửi. Thứ ba
là khi phát hành GTCG ngân hàng đã ấn định thời gian đáo hạn của nó cho nên
9
ngân hàng cũng giữ vị thế là ngời chủ động về thời gian huy động. Thông thờng
việc phát hành GTCG là để phục vụ một mục đích đặt ra trớc đó của ngân hàng.
Nhận thấy các u điểm trên nên càng ngày các ngân hàng càng chú trọng đến
nghiệp vụ huy động vốn loại này.
Vay từ NHTW

ngành ngân hàng thì tất cả các quốc gia đều quy định phải có vốn pháp định.
Vốn pháp định là một phận của VTC vì VTC còn bao gồm cả quỹ dự trữ và vốn
coi nh tự có. Quỹ dự trữ của ngân gồm có quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ và quỹ
dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Quỹ dự trữ này đợc trích ra từ lợi nhuận sau
thuế của ngân hàng với hai mục đích: mục đích thứ nhất là đảm bảo an toàn
trong hoạt động kinh doanh vì đây chính là nguồn bù đắp khi ngân hàng thực sự
gặp rủi ro; mục đích thứ hai là làm tăng thêm nguồn VTC cho ngân hàng. Đây
là một trong số các chỉ tiêu để đánh giá uy tín của một ngân hàng. Còn vốn coi
nh tự có bao gồm lợi nhuận cha chia, các quỹ khác cha sử dụng nh quỹ khấu
hao TSCĐ, quỹ khen thởng phúc lợi, quỹ đầu t phát triển nghiệp vụ.
VTC của ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng nhng nó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trớc hết nó quyết định
đến sự ra đời của một ngân hàng, tiếp nữa nó quyết định đến quy mô hoạt động
của ngân hàng, là tiếng nói góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trong quá
trình thu hút tiền gửi, cung cấp tiền vay cũng nh các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng khác.
1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản Có
Nếu nghiệp vụ tài sản Nợ tạo nguồn vốn cho ngân hàng thì nghiệp vụ tài
sản Có là cách thức mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình. Để tạo đợc
nguồn vốn đã là khó nhng phải sử dụng và quản lý nó làm sao có hiệu quả thì
càng khó hơn. Các nhà ngân hàng đã xác định đợc nghiệp vụ tài sản Có bao
gồm các nghiệp vụ cơ bản sau:
a Nghiệp vụ ngân quỹ
Đây chính là khoản dự trữ của ngân hàng để vừa đáp ứng nhu cầu thanh
khoản, tín dụng của ngân hàng và vừa đảm bảo đợc hoạt động kinh doanh tiền
tệ có hiệu quả. Nghiệp vụ này bao gồm các loại sau:
11
Tiền mặt tại quỹ: gồm tiền giấy và tiền làm loại đợc quản lý tại ngân
hàng lợng tiền mặt nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng
và thời gian kinh doanh. Loại này không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nh-

ngời đi vay đợc phép sử dụng trong hạn mức và có thời hạn nhất định.
Cho vay bằng chiết khấu thơng phiếu: là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn
trong đó ngân hàng mua những thơng phiếu cha đến hạn thanh toán của khách
hàng với số tiền bằng thơng phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng
phí.
Cho vay thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn đợc thực hiện
qua việc cho thuê tài sản nh máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản
khác.
Cho vay vợt chi: là hình thức đặc biệt của tín dụng ứng trớc theo đó ng-
ời vay đợc phép sử dụng quá số tiền trên tài khoản tiền gửi của mình ở một hạn
mức nhất định và trong một thời gian xác định.
Tín dụng bằng chữ ký: trong hình thức này ngân hàng không trực tiếp
cho khách hàng vay nhng dùng chữ ký (uy tín) của mình để tạo điều kiện cho
khách hàng di vay vốn ở nơi khác.
Cho vay tiêu dùng: là cho vay để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Loại cho vay này có rủi ro cao nên lãi suất cho vay cao.
c Nghiệp vụ đầu t
Hoạt động đầu t chủ yếu của ngân hàng là đầu t chứng khoán. Mục đích
khi ngân hàng đầu t là nhằm sinh lợi cho tài sản của mình. Thứ hai là đa dạng
hóa sản phẩm dịch vụ hay đa dạng hoá danh mục đầu t. Thứ ba là để phòng
ngừa rủi ro. Hoạt động của ngân hàng đợc xem là có mức độ rủi ro cao nhất. Vì
vậy, việc phòng ngừa rủi ro là hết sức cần thiết.
Xét về tỷ trọng trong tổng lợi nhuận thì lợi nhuận từ nghiệp vụ đầu t
mang lại chỉ đứng sau nghiệp vụ cho vay. Khi nền kinh tế càng phát triển thì thu
nhập mang lại từ nghiệp vụ này càng tăng.
1.1.3.3 Nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng
13
ở nghiệp vụ này ngân hàng hoạt động trên ba mảng chính đó là dịch vụ
trên thị trờng chứng khoán; dịch vụ thanh toán; dịch vụ t vấn. Ngày nay, nghiệp
vụ này đợc các ngân hàng chú trọng đầu t vì nó vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng

chủ sở hữu phải đạt đợc yêu cầu vốn pháp định. So với tổng nguồn vốn của ngân
hàng thì vốn pháp định chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, vốn huy động là chủ yếu. Vốn
pháp định là một bộ phận của vốn tự có, vốn tự có là tấm đệm chống đỡ rủi ro
cho ngân hàng, hơn nữa nó quyết định đến quy mô hoạt động của ngân hàng. Ví
nh luật NHNN Việt Nam quy định không đợc cho vay đối với khách hàng quá
15%VTC, không đợc dùng quá 50% vốn tự có để đầu t vào TSCĐ, huy động
vốn nhỏ hơn 20 lần VTC. Các ngân hàng quản lý vốn theo nguyên tắc điều hoà
trong toàn hệ thống, theo đó nơi thừa vốn sẽ chuyển sang nơi thiếu vốn và đợc
hởng lãi suất điều hoà, ngợc lại nơi nhận vốn sẽ phải chịu mức lãi suất điều hoà.
Mức lãi suất này do giám đốc ngân hàng quyết định và thay đổi theo từng giai
đoạn khác nhau.
Lợi nhuận của NHTM đợc xác định là lấy thu bù chi. Trong đó thu nhập
bao gồm các khoản sau: thu từ hoạt động tín dụng, thu từ nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối, thu từ góp vốn liên doanh liên kết, thu từ các dịch vụ ngân hàng và
các khoản thu khác. Chi phí của ngân hàng chủ yếu là chi để huy động vốn, chi
để cho vay vốn, chi phí quản lý, chi cho hoạt động dịch vụ ngân hàng và các
dịch vụ khác. Vì sản phẩm của ngân hàng là sản phẩm mang tính chất dịch vụ,
là sản phẩm vô hình và không thể tính giá thành trên một đơn vị sản phẩm đợc
nên khi xác định thu chi rất khó. Cuối năm, các NHTM tự xác định kết quả kinh
doanh của mình trên cơ sở tập hợp thu chi của các chi nhánh trong cùng hệ
thống. Các chi nhánh trong hệ thống thì hàng tháng xác định lỗ lãi mang tính
chất tạm tính. Phần chênh lệch giữa thu và chi của chi nhánh phản ánh kết quả
kinh doanh của hoạt động chi nhánh đó. Sau khi thực hiện nghĩa vụ đối với nhà
nớc, nó đợc dùng để trích lập các quỹ và chi lơng cho nhân viên.
Đối với hoạt động ngân hàng thì bộ phận kiểm soát rất đợc chú ý, nó làm
giảm thiều rủi ro xảy ra. Vì vậy ngoài hệ thống kiểm soát nội bộ thì các báo cáo
tài chính thì các báo cáo tài chính của các ngân hàng cần phải đợc kiểm toán
15
độc lập. Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính của NHTM phải đợc gửi cho cơ
quan tài chính nhà nớc và NHNN.

NHTM đều có nguồn thu. Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì việc mua bán
không còn giới hạn trong phạm vi quốc gia nữa mà nó trở thành mua bán toàn
cầu. NHTM có uy tín cao trong thị trờng, có chi nhánh chân rết ở hầu hết các
quốc gia thờng đứng ra bảo lãnh để quá trình mua bán giữa các chủ thể kinh tế
đợc diễn ra. Khi đứng ra bảo lãnh ngân hàng nhận đợc phí bảo lãnh. ở những n-
ớc có nền kinh tế phát triển, các nghiệp vụ bảo lãnh đầu t kinh doanh chứng
khoán, cho thuê tài chính rất phát triển vì thế mà nguồn thu của nó cũng lớn hơn
so với ở những nớc đang phát triển.
b Thu từ hoạt động dịch vụ
Hoạt động dịch vụ của ngân hàng bao gồm: dịch vụ thanh toán, dịch vụ
thu hộ chi hộ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ ngân quỹ, uỷ thác, bảo lãnh, nghiệp
vụ t vấn, dịch vụ bảo quản tài sản. Tất cả các hoạt động này đều đem lại khoản
thu cho ngân hàng. Càng ngày tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động này càng đợc
nâng lên trong tổng thu của ngân hàng. Doanh thu từ hoạt động dịch vụ chủ yếu
phụ thuộc vào quy mô, cơ cấu dịch vụ ngân hàng cung cấp, chất lợng dịch vụ đó
và mức phí mà ngân hàng ấn định có hợp lý hay không.
c Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc kim
loại quý, đá quý
Từ hoạt động mua bán ngoại tệ vàng bạc kim loại quý đá quý ngân hàng
thu đợc phần chênh lệch giữa số tiền bỏ ra và số tiền thu về. Do giá cả loại hàng
hoá này thay đổi thờng xuyên nên ngân hàng thờng bị thua lỗ khi tham gia mua
bán nó. Tuy nhiên, do yêu cầu của khách hàng mà đôi khi biết đợc không có lãi
nhng ngân hàng vẫn phải thực hiện mua bán.
d Thu từ hoạt động kinh doanh khác
Thu từ hoạt động kinh doanh khác gồm thu lãi mua bán chứng khoán, thu
chênh lệch mua bán nợ và các loại kinh doanh khác. Khoản thu này không lớn
nhng nó góp phần làm tăng thu cho hoạt động ngân hàng.
e Thu lãi mua cổ phần liên doanh liên kết
17
Mặc dù ở các nớc khác nhau thì pháp luật quy định khác nhau nhng nhìn

chỉ còn cách giảm vốn huy động, mà nếu điều đó xảy ra thì ngân hàng sẽ
không đủ nguồn vốn để kinh doanh. Thiếu vốn kinh doanh ngân hàng bỏ qua
những cơ hội kinh doanh tốt và không thể tối đa hoá lợi nhuận đợc. Vì thế mà
đây là khoản chi cần thiết và thờng xuyên. Quy mô chi phí này về cơ bản phụ
thuộc vào hai yếu tố: Thứ nhất là quy mô cơ cấu tính chất nguồn huy động. Thứ
hai là mức lãi suất, các yếu tố có liên quan đến uy tín của ngân hàng. Trong các
mục chi phí đã kể trên thì ngân hàng nên giảm mục tiền vay để từ đó giảm chi
phí tiền vay vì mức lãi suất này cao hơn nhiều so với chi lãi suất tiền gửi.
b Chi về hoạt động dịch vụ
Đó là các khoản chi phí cho hoạt động thanh toán lệ phí tham gia hệ
thống thanh toán, chi liên quan đến hoạt động đaị lý, chi hoa hồng, chi phí cho
hoạt động ngân quỹ, vận chuyển bốc xếp đóng gói tiền. Các ngân hàng hiện nay
nhận thấy rằng nhu cầu về dịch vụ của nền kinh tế rất lớn và hoạt động này ít
rủi ro hơn nhiều hơn so với hoạt động tín dụng cho nên họ có xu hớng mở rộng
dịch vụ này. Chất lợng dịch vụ đợc nâng lên rõ rệt thể hiện rõ nhất ở dịch vụ
thanh toán: thời gian thanh toán nhanh, an toàn hơn, tiện lợi hơn, có nhiều loại
hình thanh toán hơn: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán thẻ ... Mặc dù
chi phí cho hoạt động dịch vụ có tăng nhng mức tăng của chi phí vẫn nhỏ hơn
mức tăng của doanh thu. Vì vậy đây là một mảnh đất màu mỡ mà các NHTM
khai thác.
c Chi phí cho hoạt động kinh doanh ngoại hối
Đó là các khoản chi liên quan đến việc mua bán ngoại tệ, chế tác kim
loại quý đá quý. Khoản chi này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng chi phí. Đối với
các NHTM Việt Nam đây là khoản chi không đáng kể và rất mới.
d Chi nộp thuế, phí, lệ phí thực hiện nghĩa vụ đối với
NSNN
Cụ thể là: chi nộp thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài,
thuế đất, phí chớc bạ, lệ phí cho NSNN. Đây là khoản chi bắt buộc của các
NHTM và gần nh cố định.
19

h Chi cho quản lý và công cụ
Khoản chi này dùng để bù đắp cho ngời đứng ra quản lý ngân hàng và
các công cụ, vật liệu cần thiết trong quá trình hoạt động nh giấy tờ, vật liệu in
văn phòng ... Giá trị của mỗi lần chi nhỏ nhng thờng xuyên vì thế mà ngời có
trách nhiệm dễ lạm dụng khi chi.
i Chi bảo hiểm tiền gửi và chi cho dự phòng
Đây là khoản chi bắt buộc và định kỳ của các ngân hàng. Mục đích của
khoản chi này là đảm bảo an toàn cho hoạt động vủa ngân hàng. Bảo hiểm tiền
gửi an tâm hơn vì khi ngân hàng không còn khả năng thanh toán tiền gốc và lãi
thì khoản tiền gửi nguồn này sẽ đợc sử dụng. Còn chi dự phòng là để tạo quỹ dự
phòng, quỹ này có nhiệm vụ bù đắp những tổn thất cho ngân hàng khi rủi ro
thật sự sảy ra. Theo định kỳ NHTM sẽ đánh giá mức độ rủi ro của từng khoản
mục sau đó xác định dự phòng chung của toàn ngân hàng, nếu dự phòng phải
trích lớn hơn dự phòng đã trích thì ngân hàng sẽ tiến hành trích thêm, còn nếu
nhỏ hơn thì ngân hàng sẽ hoàn nhập dự phòng.
Các khoản chi của ngân hàng đợc tổng kết trên các mục chủ yếu nhng
trên thực tế hoạt động các khoản chi rất phức tạp. Nh chúng ta đã biết hoạt động
của ngân hàng có nhiều nghiệp vụ song các nghiệp vụ có liên quan đến nhau vì
vậy mà nhà ngân hàng không thể tính toán đợc chi phí cho hoạt động kinh
doanh ngoại hối là bao nhiêu, chi cho phát hành GTCG là bao nhiêu .. Điều này
đã gây khó khăn cho việc tính toán giá cả của sản phẩm dịch vụ. Nếu nhà quản
lý định giá sản phẩm ngân hàng thấp thì hoạt động ngân hàng không có lãi hoặc
lãi rất thấp, nếu định giá cao thì sẽ không có khách hàng. Yêu cầu đặt ra là phải
quản trị đợc các khoản chi phí để tính toán giá sản phẩm hợp lý.
Mặc dù các khoản thu nhập đợc tổng kết trên sáu mục trên và chi phí đợc
tổng kết trên chín mục trên nhng trên thực tế hoạt động thu chi của ngân hàng
rất đa dạng và phức tạp. Các luồng thu và chi liên tục diễn ra chứ không giống
nh các ngành kinh doanh khác, do đó sắc xuất dẫn đến sai sót rất lớn. Vì vậy
muốn tối đa hoá lợi nhuận hoạt động kinh doanh ngân hàng thì nhà quản lý phải
quản trị tốt khoản thu, chi. Quản trị tốt các khoản thu và chi không đơn thuần là

22
2Lợi nhuận còn lại (coi nh 100% ) đợc phân phối vào các quỹ : quỹ dự
phòng tài chính, quỹ trợ cấp mất việc làm, số còn lại do NHTM cổ phần tự
quyết định.
Do mục đích và nội dung kinh tế của các loại quỹ khác nhau nên trong
quá trình quản lý và sử dụng quỹ phải đảm bảo các nguyên tắc sử dụng quỹ
theo quy định.
1.3 Nhân tố ảnh hởng tới kết quả kinh doanh của NHTM
Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu tác động của nhiều
nhân tố, để thấy rõ sự tác động đó ta chia ra các nhân tố bên trong và các nhân
tố bên ngoài.
1.3.1 Các nhân tố bên trong
1.3.1.1 Nguồn lực tài chính
Yếu tố thứ nhất: quy mô vốn tự có. Quy mô của vốn tự có lớn thì trớc
hết ngân hàng sẽ có điều kiện để mở rộng quy mô cho vay, quy mô vốn huy
động, và một số hoạt động kinh doanh khác. Khi đó ngân hàng sẽ tăng đợc
doanh thu cho mình, đây chính là điều kiện cần để ngân hàng tăng thêm lợi
nhuận. Hơn nữa, quy mô VTC còn phản ánh uy tín của ngân hàng, một khi ngân
hàng đã xây dựng đợc uy tín trên thị trờng thì sẽ có nhiều khách hàng đến quan
hệ với ngân hàng. Thông qua đó ngân hàng sẽ tăng thu và nâng cao đợc kết quả
kinh doanh.
Yếu tố thứ hai: là khả năng huy động vốn của ngân hàng. Vốn huy động
chính là nguồn mà ngân hàng sẽ sử dụng để kinh doanh. Ngân hàng trong quá
trình huy động vốn thì phải xem xét mối quan hệ giữa quy mô với tính ổn định
của nó. Nếu quy mô vốn lớn nhng nguồn vốn không ổn định thì ngân hàng
không thể tài trợ cho những dự án sinh lời lớn đợc hoặc dễ dẫn đến tình trạng
mất cân bằng giữa tài sản Có và tài sản Nợ. Đối với những nguồn vốn có tính ổn
định cao thì chi phí thờng là lớn. Vì vậy mà ngân hàng cần phải xem xét thêm
mối tơng quan giữa quy mô và mặt bằng lãi suất trên thị trờng.
Yếu tố thứ ba là chất lợng tín dụng. Chỉ tiêu đánh giá chất lợng tín

Về hiệu quả của bộ máy tổ chức: Một bộ máy đợc coi là hữu hiệu khi
số lợng nhân viên là ít nhất nhng các quyết định đa xuống đợc triển khai nhanh
24
nhất và sự phối kết hợp của các bộ phận tốt nhất. Ngân hàng nào xây dựng cho
mình đợc bộ máy tổ chức hữu hiệu thì ngân hàng đó sẽ không bị bỏ lỡ các cơ
hội kinh doanh tốt và nh thế hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao.
Về hệ thống quản lý thông tin: Ngời ta đánh giá hệ thống quản lý
thông tin của ngân hàng thông qua khả năng thu thập, phân tích đánh giá các
yếu tố thuộc môi trờng kinh doanh, đánh giá đối thủ cạnh tranh và khách hàng
để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. ở Việt Nam ngân hàng
nào cũng có hệ thống quản lý thông tin nhng khả năng cập nhật thông tin là yếu
cho nên rủi ro trong hoạt động kinh doanh còn cao.
1.3.1.4 Phải đánh giá cơ sở hạ tầng, trang thiết bị máy móc, trình độ
công nghệ, mạng lới chi nhánh của ngân hàng.
Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị máy móc, trình độ công nghệ đợc gọi chung
là cơ sở vật chất kỹ thuật có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Khi ngân hàng có cơ sở vật chất tốt thì sẽ tạo điều kiện cho nhân
viên hoàn thành tốt công việc đợc giao. ở những trụ sở chính thì ngân hàng còn
phải xem các chi nhánh hoạt động có hiệu quả không, nếu không thì nên thu
gọn các chi nhánh thành phòng giao dịch để giảm chi phí. Thông qua những
hoạt động đó thì ngân hàng có thể tăng thu nhập giảm chi phí, nâng cao hiệu
quả kinh doanh của ngân hàng.
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài
Ngân hàng cũng giống nh các đơn vị kinh tế khác, khi tiến hành hoạt
động kinh doanh thì không thể tách biệt với môi trờng kinh doanh bên ngoài.
Các nhân tố thuộc môi trờng bên ngoài có ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của
ngân hàng gồm có môi trờng kinh tế vĩ mô và môi trờng kinh tế vi mô. Cụ thể
trong môi trờng kinh tế vĩ mô gồm có yếu tố môi trờng kinh tế, môi trờng chính
trị và pháp luật, môi trờng công nghệ, môi trờng quốc tế. Môi trờng kinh tế vi
mô bao gồm các nhân tố nh đối tợng cạnh tranh hiện tại, đối tợng cạnh tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status