1
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước đang chuyển mình từng bước đi lên, nền kinh tế phát triển
không ngừng. Chúng ta vừa gia nhập WTO, nhiều vận hội và thử thách phía
trước. Nền kinh tế phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp cần chú trọng hơn tới
lĩnh vực hoạt động của mình để tăng sức cạnh tranh trên thương trường.
Muốn đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh thì đòi hỏi trước tiên là phải có
chính sách đúng đắn trong việc tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí. Có làm được
điều này thì các doanh nghiệp mới tìm được chỗ đứng cho mình trong thời đại
mới.
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội ( Habubank ) là một trong
những ngân hàng tiến hành cổ phần hóa sớm nhất cả nước. Ngay từ những
ngày đầu thành lập, dưới sự lãnh đạo cuả Đảng, Nhà nước và dưới sự chỉ đạo
kịp thời của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNNVN), Habubank đã phát
huy tốt vai trò của mình góp phần thúc đẩy luân chuyển vốn trong nền kinh
tế, đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu vốn cũng như cung cấp ngày càng nhiều
các dịch vụ tiện ích cho ngươì sử dụng và trở thành Ngân Hàng đô thị đa năng
hàng đầu Việt Nam
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị
trường, việc tạo ra một đồng lợi nhuận là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy
làm sao để có thể tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí là vấn đề quan trọng đặt ra
cho toàn thể cán bộ công nhân viên Habubank.Tìm ra các giải pháp là quan
trọng nhưng làm sao để các giải pháp đó trở thành hiện thực lại càng quan
trọng hơn. Điều này đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của ngành Ngân
Hàng cũng như của các nhà hoạch định chính sách Kinh tế vĩ mô khác.
Với những lý do nêu trên, sau khi hoàn thành chương trình học tập tại
Học Viện Ngân Hàng cùng hai tháng thực tập tại Habubank chi nhánh Vạn
2
Chuyên đề tốt nghiệp
Phúc với sự hướng dẫn tận tình của thầy Hoàng Đình chiến cùng sự quan tâm
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Mức độ phát triển
của các dịch vụ Ngân Hàng là khác nhau phụ thuộc vào nền tảng công nghệ
khoa học kỹ thuật của mỗi nước.
Tại Việt Nam, trong luật các TCTD được Quốc hội thông qua
12/12/1997 quy định:
Theo khoản 1 điều 20: "TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo
quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để huy động kinh
doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân Hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng
tiền gửi để cấp tín dụng,cung ứng các dịch vụ thanh toán".
1.2.Chức năng và vai trò của NHTM
1.2.1.Chức năng trung gian tín dụng
Với tư cách là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng,
NHTMtrên cơ sở tập hợp các nguồn vốn huy động được thành một quỹ để
cho vay, đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu vốn khác nhau của các chủ thể
4
Chuyên đề tốt nghiệp
khác nhau. Từ đó, đảm bảo quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá được diễn
ra liên tục.
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện chức năng trung gian tín dụng và
góp phần vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán.
NHTM là các doanh nghiệp vay mượn ,huy động tiền tệ từ các chủ thể
đang nắm giữ tiền tạm thời chưa dùng tới để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư
vào những lĩnh vực nhà nước cho phép.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanh ngân
hàng với các lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy nhiên các Ngân Hàng ngày càng
phải hoạt động trong sự cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức
kinh doanh của Ngân Hàng cũng có sự thay đổi, theo đó, sản phẩm của Ngân
hàng còn bao gồm các dịch vụ khác như : dịch vụ về tài chính, về thông tin,
kế toán ….
Sự tạo tiền bắt đầu từ khi "đồng tiền ghi sổ" ra đời .Từ một khoản tiền
gửi ban đầu vào một ngân hàng thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong
một hệ thống ngân hàng thương mại, số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội.
Tuy nhiên chỉ có một hệ thống ngân hàng mới thương mại mới có thể mở
rộng tiền gửi lên nhiều lần, còn nếu chỉ có một ngân hàng thì không thể có
chức năng tạo tiền .Khoản tiền gửi ban đầu có khả năng tăng lên bao nhiêu
lần là do hệ số mở rộng tiền gửi quyết định.Hệ số mở rộng tiền gửi của một
ngân hàng thương mại chịu sự tác động của các yếu tố:tỷ lệ dự trữ bắt buộc
,tỷ lệ rút tiền mặt của khách hàng, tỷ lệ dự trữ dư thừa .
Giả sử trong điều kiện không xuất hiện khoản thanh toán nào bằng tiền
mặt và các ngân hàng đều cho vay hết quỹ cho vay thì hệ số mở rộng tiền gửi
được tính theo công thức:
6
Chuyên đề tốt nghiệp
H = (H: Hệ số mở rộng tiền gửi)
Khi đó nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì hệ số mở rộng tiền gửi là
10.Nghĩa là hệ thống ngân hàng có khả năng mở rộng tiền gửi gấp 10 lần số
tiền gửi ban đầu.
Trên thực tế nếu một khách hàng nào đó rút một phần tiền mặt để thanh
toán hoặc ngân hàng không cho vay hết quỹ cho vay thì khả năng mở rộng
tiền gửi cũng giảm đi. Vì thế hệ số mở rộng tiền gửi trong thực tế được tính
theo công thức:
H =
Như vậy ngân hàng cần phải đẩy mạnh nghiệp vụ thanh toán không
dùng tiền mặt và nghiệp vụ cho vay sao cho các khoản thanh toán bằng tiền
mặt của khách hàng và dự trữ dư thừa là thấp nhất.
Tuy nhiên, khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại có thể mang lại
ruỉ ro khi khách hàng có nhu cầu rút tiên mặt một cách ồ ạt mà ngân hàng lại
đang thiếu phương tiện thanh toán bằng tiền mặt .Để giảm thiểu rủi ro các
ngân hàng thương mại phải gửi tiền vào tài khoản tại ngân hàng nhà nước và
Hoạt động tài chính của NHTM theo nguyên tắc lấy thu bù chi. Nếu
kinh doanh có lãi thì sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, số còn lại được
trích lập các quỹ theo quy định; ngược lại bị lỗ thì NHTM chịu trách nhiệm
về khoản lỗ trên cơ sở điều hoà kết quả kinh doanh của toàn hệ thống .
Doanh thu của NHTM được hình thành từ thu lãi cho vay, đầu tư, từ
kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và từ các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, trong
đó chủ yếu là thu lãi từ hoạt động cho vay, đầu tư. Để tăng doanh thu cho
ngân hàng, một mặt phải nâng cao chất lượng cho vay, đầu tư; mặt khác phải
mở rộng hoạt động dịch vụ cho ngân hàng theo xu hướng chung của các ngân
hàng hiện đại trên thế giới.
Chi phí của NHTM bao gồm các khoản chi trả lãi tiền gửi của khách
hàng; chi trả lãi tiền vay; chi kinh doanh ngoại tệ vàng bạc đá quý, chi quản
8
Chuyên đề tốt nghiệp
lý. Trong đó chi trả lãi tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Để hạ
thấp chi phí nhằm đảm bảo kinh doanh có lãi phải có biện pháp thích hợp với
từng loại chi phí.
NHTM áp dụng nguyên tắc dồn tích để hạch toán dự thu và dự trả lãi.
Thực hiện phương pháp dồn tích để đảm bảo các báo cáo tài chính sẽ phản
ánh các khoản thu nhập đúng đắn của NHTM trong một thời kỳ kế toán xác
định bằng việc thích ứng các chi phí với thu nhập được tạo ra.
Niên độ tài chính của NHTM được bắt đầu từ ngày 01/01 đến hết ngày
31/12. Mọi khoản doanh thu, chi phí phải được hạch toán trong hết năm tài
chính. Cuối năm (31/12), NHTM xác định kết quả kinh doanh một lần. Tuy
nhiên để có căn cứ tạm trích và trả lương cho cán bộ, công nhân viên, tạm
trích các quỹ thì hàng tháng NHTM tạm tính kết quả hoạt động kinh doanh
theo kế hoạch lợi nhuận quý. Cuối năm sau khi xác định kết quả kinh doanh
chính thức sẽ thanh toán phần tạm chi lương và tạm trích các quỹ.
NHTM phải thực hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật, ghi
chép đầy đủ chứng từ ban đầu, cập nhật sổ sách kế toán và phản ánh đầy đủ
Trong đó khoản thu lãi từ việc cho vay, hùn vốn, liên kết là khoản thu
cơ bản của NHTM. Nguồn thu này chiếm tỷ lớn trong tổng thu nhập của
NHTM và nó phụ thuộc vào khung lãi suất do NHNN quy định cũng như phụ
thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, các ngân hàng
tham gia hùn vốn, góp vốn. Các ngân hàng Việt Nam thu từ nghiệp vụ này
thường chiếm hơn 70% tổng thu từ nghiệp vụ ngân hàng, các NHTM khác
nhau tuỳ thuộc vào khả năng của mỗi ngân hàng.
Khoản thu từ lãi tiền gửi của NHTM gửi tại NHNN và các TCTD
khác trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi thanh toán và các tài khoản tiền gửi
có kỳ hạn thường là nhỏ. Bởi vì mục đích của các tài khoản này là để tham
gia vào các hoạt động thanh toán, dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN
và bảo toàn vốn nên NHTM được hưởng lãi suất rất thấp.
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Thu từ nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ như lãi từ hoạt động kinh
doanh ngoại tệ, phí nghiệp vụ thanh toán quốc tế… Về nguyên tắc các
khoản thu về kinh doanh ngoại tệ thu bằng ngoại tệ. Các ngân hàng phát
triển nghiệp vụ này là hết sức cần thiết do không những tăng thu nhập mà
còn tạo điều kiện cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế được thuận lợi nhanh
chóng, góp phần mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.
Thu từ các hoạt động dịch vụ ( thanh toán, chuyển tiền, tư vấn, chứng
khoán,…) hiện nay ở nước ta còn rất nhỏ song với ngân hàng hiện đai trên thế
giới thì khoản thu này tương đối lớn, chiếm 40 - 45 %. Vì vậy, các ngân hàng
Việt Nam cần ra sức phấn đấu tăng nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ.
*Tài khoản phản ánh doanh thu của NHTM :
Tài khoản phản ánh doanh thu của NHTM được phản ánh và bố trí ở loại
7 trong hệ thống tài khoản của TCTD
- Thu về hoạt động tín dụng : phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 70
- Thu về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ : phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 71
- Thu từ các hoạt động khác : phản ánh ở tìa khoản cấp 1 số 72
khoản chi khác về ngân quỹ và hoạt động thanh toán.
-Chi về hoạt động khác như chi về tham gia thị truờng tiền tệ, chi về
kinh doanh mua bán ngoại bảng. Các khoản chi này chiếm một tỷ lệ không
nhiều trong tổng chi phí của NHTM .
- Ngoài ra các NHTM còn phải có nghĩa vụ đối với nhà nước nên có các
khoản chi về thuế lợi tức, thuế môn bài, thuế trước bạ và các khoản nộp phí,
lệ phí .
- Chi phí cho nhân viên bao gồm; chi lương và phụ cấp lương; chi trang
phục giao dịch, phương tiện và bảo hộ lao động ; chi bảo hiểm xã hội ; chi phí
công đoàn; chi trợ cấp khó khăn; trợ cấp thôi việc theo quy định của nhà
nước; chi cho công tác xã hội,…Các ngân hàng thực hiện việc chi cho cán bộ
12
Chuyên đề tốt nghiệp
công nhân viên chức theo hệ số lương cơ bản và theo kết quả kinh doanh
trong kỳ.
- Chi phí hoạt động quản lý và công cụ : có các khoản chi vật liệu và
giấy tờ in; chi công tác phí theo quy định của nhà nước; chi cho đào tạo và
huấn luyện nghiệp vụ; chi về ứng dụng khoa học và công nghệ ; sáng kiến cải
tiến; chi bưu phí và điện thoại; chi xuất bản taì liệu tuyên truyền quảng cáo ;
chi hoạt động đoàn thể….Các khoản chi này phụ htuộc vào quy mô ngân hàng
và theo chế độ quản lý chi của chính ngân hàng, của Bộ tài chính.
- Chi về tài sản như chi khấu hao, bảo dưỡng tài sản, xây dựng nhỏ, mua
sắm công cụ lao động, bảo hiểm tài sản, thuê tài sản…
- Chi phí dự phòng bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi của khách hàng gồm
có : chi dự phòng giảm giá chứng khoán, dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng
giảm giá vàng bạc- ngoại tệ, chi nộp bảo hiểm tiền gửi.
Có thể thấy rằng chi phí của ngân hàng thương mại rất đa dạng, nhiệm vụ
của kế toán ngân hàng là phải xác định các khoản chi, hạch toán chính xác, kịp
thời, đầy đủ tránh gây tổn thất về vốn. Đây là cơ sở đẻ giúp các nhà quản lý
ngân hàng dưa ra các quyết định đúng đắn trong kinh doanh và có biện pháp
Bên nợ ghi : - Số dư cuôi năm của các tài khoản chi phí chuyển sang khi
quyết toán.
Số dư có : Phản ánh số thực lãi trong năm.
Số dư nợ : Phản ánh số thực lỗ trong năm.
Đầu năm sau số dư của các tài khoản này được chuyển thành số dư của
tài khoản 692 “ Lợi nhuận năm trước”.
Tài khoản 692 “ Lợi nhuận năm trước” dùng để phản ánh số lãi, lỗ năm
trước của NHTM và việc thanh toán số lãi lỗ đó.
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Bên có ghi : - Chuyển số lỗ năm trước vào các tài khoản thich hợp để
thanh toán.
Bên nợ ghi : - Chuyển số lãi năm trước vào các tài khoản thích hợp để
thanh toán.
Số dư có : Phản ánh số lãi năm trước chưa thanh toán.
Số dư nợ : Phản ánh số lỗ năm trước chưa thanh toán.
Trong kế toán doanh thu - chi phí và kết quả kinh doanh của NHTM
ngoài các tài khoản trên còn sử dụng một số tài khoản liên quan :
- Tài khoản tiền lãi cộng dồn dự thu.
- Tài khoản dự phòng giảm giá chứng khoán.
- Tài khoản dự phòng phải thu khó đòi.
- Tài khoản thuế giá trị gia tăng đầu vào.
- Tài khoản chi phí chờ phân bổ,
- V.v…..
2.2.4. Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình thu nhập, chi phí và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
Khả năng sinh lời cũng có thể được gọi là hiệu quả đầu tư. Thông
thường có hai cách tiếp cận: một là để kiểm tra hiệu quả quản lý đối với
đồng vốn đầu tư bỏ ra, dựa trên mối quan hệ giữa vốn và lợi nhuận( khả
năng sinh lời của đồng vốn); và một là để kiểm tra mức lợi nhuận đạt được
vực xây dựng quản lý nhà và du lịch. Với số vốn điều lệ ban đầu là 5 tỷ đồng.
Ngân hàng đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép hoạt động
số 0020/NH-GP có hiệu lực từ ngày 6 tháng 6 năm 1992 trong thời hạn 99
năm.
Tháng 10 năm 1992, Thống đốc NHNN Việt Nam cho phép Ngân
hàng thực hiện thêm một số hoạt động kinh doanh ngoại tệ gồm tiền gửi,
tiết kiệm, vay và tiếp nhận, cho vay, mua bán kiều hối, thanh toán ngoại tệ
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý trong chiến lược
kinh doanh của Habubank với việc chú trọng mở rộng các hoạt động
17
Chuyên đề tốt nghiệp
thương mại nhằm vào các đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ cùng các cá nhân và tổ chức tài chính khác bên cạnh việc thực hiện
các hoạt động hỗ trợ và phát triển nhà. Thêm vào đó, cơ cấu cổ đông cũng
được mở rộng một cách rõ rệt với nhiều cá nhân và doanh nghiệp quốc
doanh và tư nhân tham gia đầu tư đóng góp phát triển.
Tới nay, qua hơn 17 năm hoạt động, Habubank đã có số vốn điều lệ
là 900 tỷ đồng với mạng lưới ngày càng mở rộng, 7 năm liên tục được
NHNN Việt Nam xếp loại A và được công nhận là ngân hàng phát triển
toàn diện với hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả. Habubank luôn giữ
vững niềm tin của khách hàng bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ và phong
cách nhiệt tình, chuyên nghiệp của tất cả nhân viên.
Hiện nay Ngân hàng đang tiến hành các hoạt động ngân hàng bao
gồm nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá
nhân, cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn các tổ chức cá nhân tùy theo
tính chất và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng; thực hiện các nhiêm vụ
kinh doanh đối ngoại, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các chứng chỉ
có giá; cung cấp các dịch vụ cho các khách hàng; và các dịch vụ ngân hàng
khác khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
từ năm 2002, điều hành trực tiếp mọi hoạt động của Habubank.
- Ông Đỗ Trọng Thắng _ Phó Tổng Giám đốc.
Với nhiều kinh nghiệm chuyên viên kinh tế và quản lý tài chính
doanh nghiệp, được bổ nhiệm giữ chức phó Tổng Giám đốc, phụ trách
mảng kiểm tra xét duyệt tín dụng.
- Bà Nguyễn Thị Kim Oanh _ Phó Tổng Giám đốc.
Bắt đầu công tác tại Habubank từ năm 1989. Từ ngày 02/06/2003 bà
được tín nhiệm giữ chức Phó Tổng Giám đốc, phụ trách tài chính và cung
ứng dịch vụ.
- Bà Lê Thu Hương _ Phó Tổng Giám đốc.
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Thạc sỹ quan hệ đối ngoại, cử nhân kinh tế, là Phó Tổng Giám đốc
kiêm giám đốc chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Dự Hương _ Phó Tổng Giám đốc.
Cử nhân kinh tế, phụ trách mảng dịch vụ ngân hàng cá nhân.
1.3. Vốn cổ phần.
Kể từ ngày thành lập, vốn điều lệ của Ngân hàng đã liên tục được
tăng tại các thời điểm sau:
Bảng 1: Sự tăng trưởng vốn điều lệ của Habubank
Vốn tăng lên
(Triệu đồng)
Được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp
nhận
Ngày
50.000 Quyết định số 58/QĐ-NHNN5 18/03/1996
57.000 Quyết định số 443/1999/QĐ-NHNN5 21/12/1999
63.170 Quyết định số 424/2000/QĐ-NHNN5 22/09/2000
70.000 Quyết định số 498/2000/QĐ-NHNN5 05/12/2000
71.044 Quyết định số 87/NHNN-QLTD 05/02/2002
lưới và tạo thêm thuận lợi cho khách hàng giao dịch nhanh chóng, an toàn.
2.1. Tăng trưởng nguồn vốn:
Với các sản phẩm đa dạng, phù hợp với nhu cầu của khách hàng,
chính sách lãi suất linh hoạt, được hỗ trợ bởi các phương thức Marketing
hiệu quả, Habubank ngày càng thu hút được sự quan tâm của đông đảo
khách hàng dân cư và tổ chức kinh tế. So với năm 2005, tổng nguồn vốn
huy động của Habubank tăng 45,67%, trong đó huy động tiết kiệm tăng
47,18%, tiền gửi khách hàng tăng 27%, huy động liên ngân hàng tăng
51,54%. Số liệu được thể hiện trên biểu đồ dưới đây:
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Biểu 1: Tình hình huy động vốn qua các năm 2005 và 2006.
Đơn vị: Triệu đồng
1.806.110
46.618
35.995
480.186
609.908
1.689.345
2.486.367
Tiền gửi
thanh toán
và tiền
vay từ
TCTD
Các nguồn
vốn vay
khác
Tiền gửi
của các
% Tổng
nguồn
(2006,2005)
/2005
T gửi thanh toán &
vay từ ngân hàng
& tổ chức tín dụng
1.191.86
0
31,97% 1.806.110 32,69% +51,54%
Các nguồn vốn
vay khác
35.995 0,97% 46.618 0,84% +29,51%
T gửi của các tổ
chức kinh tế & cá
nhân
480.186 12,88% 609.908 11,04% +27,01%
Tiền gửi tiết kiệm
1.689.34
5
45,31%
2.486.36
7
45,00% +47,18%
Tổng nguồn vốn
huy động
3.397.38
6
91,12%
4.949.00
1.227.85
5
32,93%
1.852.72
8
33,53% +50,89%
Các khoản phải
trả
77.372 2,08% 184.324 3,34% +138,23%
Tổng nguồn 3.728.305 100% 5.524.791 100% +48,19%
2.2. Tình hình sử dụng vốn tại Habubank.
2.2.1. Cho vay khách hàng:
Cùng với sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế trong những năm
vừa qua, theo đó nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh của các
thành phần kinh tế cũng không ngừng tăng lên, để đáp ứng được nhu cầu
của sự phát triển, với tiêu chí phục vụ khách hàng, Habubank đã không
ngừng mở rộng và phát triển các dịch vụ cả về chiều rộng và chiều sâu,
trong đó dịch vụ cho vay khách hàng vẫn là dịch vụ tạo ra nguồn thu chủ
yếu cho Ngân hàng, tổng dư nợ cho vay năm 2006 đạt 3.330,218 tỷ đồng
tăng 41% so với năm 2005.Tỷ lệ nợ quá hạn được duy trì ở mức 1,1% tổng
dư nợ, là thước đo sát sao đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Ta có Biểu 2: Biểu đồ thể hiện Tổng dư nợ theo kết quả từ 2002 đến
2006:
Đơn vị: Triệu VNĐ
24
Chuyên đề tốt nghiệp
672.899
995.225
1.596.105
2.3625.641
Đơn vị tính: %
- Doanh nghiệp Nhà nước 3%
- Công ty CP, TNHH 65%
- DN có vốn đầu tư nước ngoài 3%
- Cá nhân, hộ gia đình 29%
* Tổng dư nợ phân theo ngành kinh tế:
Đơn vị tính: %
- Thương mại 65,94%
- Nông lâm nghiệp 0,98%
- Sản xuất và chế biến 3,8%
- Xây dựng 8.68%
- Vận tải và thông tin liên lạc 1,99%
- Các ngành khác 18,61%
( Nguồn: Báo cáo thường niên 2006)
Qua bảng số liệu ta thấy cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn ( 69%)
hơn rất nhiều so với cho vay trung và dài hạn. Trong đó cho vay thương
mại chiếm tỷ trọng lớn nhất ( 65,94%) mà chủ yếu tập trung vào các Công
ty CP, các Công ty TNHH. Tuy nhiên một điều cần lưu ý là dư nợ cho Vận
tải và thông tin liên lạc còn quá nhỏ, chỉ chiếm 1,99% trong khi đây là một
thị trường tiềm năng cần chú trọng phát triển trong thời gian tới. Bên cạnh
đó dư nợ cho DN có vốn đầu tư nước ngoài cũng còn khá khiêm tốn, chỉ ở
mức 3%, với điều kiện hội nhập với thế giới mạnh mẽ như hiện nay thì đây
là một mảng lớn cần tập trung khai thác của ngân hàng nhằm tìm kiếm
được nhiều đối tác mới.