Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường vấn đề lợi nhuận là một vấn đề vô cùng quan
trọng mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm. Lợi nhuận không chỉ phản
ánh kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp mà còn phản ánh khả năng tồn tại,
phát triển và uy tín của doanh nghiệp đó trên thị trường.
Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Kỹ Thương
Việt Nam (NHKTVN) nói riêng là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
Tài Chính-Tiền Tệ và dịch vụ ngân hàng, làm sao để đạt hiệu quả kinh doanh tạo
ra lợi nhuận là một vấn đề lớn được đặt ra hàng đầu. Ngay từ những ngày đầu
thành lập, dưới sự lãnh đạo cuả Đảng, Nhà nước và dưới sự chỉ đạo kịp thời của
Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNNVN), NHKTVN đã phát huy tốt vai trò
của mình góp phần thúc đẩy luân chuyển vốn trong nền kinh tế, đáp ứng ngày
càng nhiều nhu cầu vốn cũng như cung cấp ngày càng nhiều các dịch vụ tiện ích
cho ngươì sử dụng và trở thành Ngân Hàng đô thị đa năng hàng đầu Việt Nam
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường,
việc tạo ra một đồng lợi nhuận là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy lầm sao để có
thể tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí là vấn đề quan trọng đặt ra cho mỗi Ngân Hàng
Thương Mại (NHTM) trong đó không loại trừ NHKT.Tìm ra các giải pháp là quan
trọng nhưng làm sao để các giải pháp đó trở thành hiện thực lại càng quan trọng
hơn. Điều này đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của ngành Ngân Hàng cũng
như của các nhà hoạch định chính sách Kinh tế vĩ mô khác.
Với những lý do nêu trên, sau khi hoàn thành chương trình học tập tai Học
Viện Ngân Hàng cùng hai tháng thực tập tại Hội Sở Chính NHKT em mạnh dạn
lựa chọn đề tài:
"Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, nâng cao kết quả
kinh doanh tại NHKTVN"
Khoa kế toán - kiểm toán
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề của em được trình bày theo kết cấu sau:
quy định:
Theo khoản 1 điều 20: "TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo quy
định của luật này và các quy định khác của pháp luật để huy động kinh doanh tiền
tệ, làm dịch vụ Ngân Hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng,cung ứng các dịch vụ thanh toán".
1.2 Đặc trưng của NHTM
Mặc dù có những cách hiểu khác nhau song nhìn chung thì Ngân Hàng có
những đặc trưng sau:
-NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan đến
tiền tệ.
Khoa kế toán - kiểm toán
3
Chuyên đề tốt nghiệp
NHTM là các doanh nghiệp vay mượn ,huy động tiền tệ từ các chủ thể đang
nắm giữ tiền tạm thời chưa dùng tới để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư vào những
lĩnh vực nhà nước cho phép.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanh ngân hàng
với các lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy nhiên các Ngân Hàng ngày càng phải hoạt
động trong sự cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức kinh doanh của
Ngân Hàng cũng có sự thay đổi, theo đó, sản phẩm của Ngân hàng còn bao gồm
các dịch vụ khác như : dịch vụ về tài chính, về thông tin, kế toán ….
Hoạt động kinh doanh Ngân Hàng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Thường
thì Ngân Hàng đi vay, huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thấp để cho vay với thời
hạn dài hơn với lãi suất cao hơn. Từ đó Ngân Hàng sẽ thu được lợi nhuận. Tuy
nhiên chỉ bằng những kinh nghiệm giản đơn cũng có thể thấy được tính chất tập
trung rủi ro của lĩnh vực Ngân hàng. Nếu đến hạn vì một nguyên nhân nào đó
người vay tiền không trả được nợ hoặc trả không dủ sẽ làm cho Ngân Hàng lâm
vào tình trạng rủi ro. Trường hợp khác nữa là Ngân hàng sẽ có thể gặp rủi ro thanh
khoản nếu khách hàng đến rút tiền trước hạn, ngân hàng phải trả tiền cho khách
hàng khi đáo hạn nhưng ngân hàng lại không có đủ tiền để thanh toán do các khoản
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện chức năng trung gian tín dụng và góp
phần vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển
2.2. Chức năng trung gian thanh toán
Trên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, NHTM thực hiện các khoản thanh
toán chi trả cho khách hàng.
Hàng ngày nền kinh tế xuất hiện hàng loạt các giao dịch với khối lượng các
khoản thanh toán vô cùng lớn. Trong quá trình làm trung gian tín dụng, ngân hàng
đã thu hút các nhà kinh doanh buôn bán với nhau mở tài khoản tiền gửi thanh toán
tại ngân hàng và ngân hàng thực hiện chức năng trung giân thanh toán theo lệnh
của chủ tài khoản. Đây chính là phương thức thanh toán qua đó giảm tỷ lệ tiền mặt
trong lưu thông, đẩy nhanh hình thức thanh toán không dùng tiền mặt với chi phí
Khoa kế toán - kiểm toán
5
Chuyên đề tốt nghiệp
thấp hơn rất nhiều. Hoạt động thanh toán khẳng định vai trò trung giân không thể
thiếu của NHTM đồng thời tạo ra nguồn thu cho ngân hàng từ phí thanh toán.
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng đang ngày một phát triển với tốc độ nhanh
chóng, thời gian cho thanh toán rút ngắn đến tối đa do công nghệ ngân hàng đang
ngày càng hoàn thiện. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của các quan
hệ kinh tế ngày càng sôi động và đa dạng đang diễn ra.
Khoa kế toán - kiểm toán
6
Chuyên đề tốt nghiệp
2.3. Chức năng tạo tiền của NHTM
Sự tạo tiền bắt đầu từ khi "đồng tiền ghi sổ" ra đời .Từ một khoản tiền gửi
ban đầu vào một ngân hàng thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong một hệ
thống ngân hàng thương mại, số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội. Tuy nhiên
chỉ có một hệ thống ngân hàng mới thương mại mới có thể mở rộng tiền gửi lên
nhiều lần, còn nếu chỉ có một ngân hàng thì không thể có chức năng tạo tiền
.Khoản tiền gửi ban đầu có khả năng tăng lên bao nhiêu lần là do hệ số mở rộng
sự cân đối giữa cung và cầu tiền tệ , thực hiện chính sách giá cả, tăng trưởng kinh
tế lành mạnh và tạo công ăn việc làm cho người lao động.
3. Một số nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nghiệp vụ của ngân hàng thương
mại càng trở nên đa dạng hơn. Bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho
vay .Hoạt động "đi vay” tạo nên nguồn vốn của ngân hàng và hoạt động "cho vay"
hình thành nên nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng . Hơn nữa các ngân hàng
hiện đại ngày nay không chỉ thực hiện đi vay dể cho vay mà còn đa dạng hóa thên
nhiều dịch vụ để vừa phòng tránh rủi ro vừa tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng .
Do vậy toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại được khái quát thành hai
nghiệp vụ chính sau:
-Nghiệp vụ tài sản nợ
-Nghiệp vụ tài sản có
3.1.Nghiệp vụ tài sản Nợ.
Như trên đã trình bày thì nghiệp vụ tài sản nợ chính là nghiệp vụ tạo vốn của
ngân hàng thương mại .Cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh đều phải cần có một số lượng vốn nhất định
Đặc biệt các ngân hàng thương mại có đối tượng kinh doanh là vốn tiền tệ ,bởi vậy
, trong quá trình hoạt động các ngân hàmg thương mại luôn chú trọng công tác bảo
toàn và phát triển vốn. Các nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng thương mại bao gồm
có:
Khoa kế toán - kiểm toán
8
Chuyên đề tốt nghiệp
3.1.1 Vốn tự có
Vốn tự có là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu
của ngân hàng .Vốn tự có trước hết dùng để đầu tư vào trụ sở máy móc , văn
phòng làm việc… sau đó mới sử dụng để kinh doanh và chiếm tỷ trọng nhỏ trong
tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi nó là
căn cứ pháp lý bắt buộc khi thành lập ngân hàng đông thời là cơ sở để xác định
-Tiền gửi không kỳ hạn , tiền gửi thanh toán.
-Tiền gửi có kỳ hạn.
-Tiền gửi tiết kiệm.
* Tiền gửi không kỳ hạn là những khoản tiền được khách hàng gửi vào ngân
hàng với mục đích thanh toán hay phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh một
cách thường xuyên, an toàn , thuận lợi chứ không phải vì mục đích hưởng lãi
suất .Chính vì vậy só dư của tài khoản này luôn biến động và ngân hàng sẽ trả lãi
rất ít cho các khách hàng. Khách hàng thường quan tâm đến việc chi trả dễ dàng từ
việc trích tài khoản chứ ít khi quan tâm đến các khoản lãi ít ỏi nhận được từ phía
ngân hàng.Mặt khác khách hàng có thể đựoc hưởng các dịch vụ tiện ích như:các
dịch vụ thanh toấn , chuyển tiền ,rút tiền khi cần thiết.Về phía ngân hàng ,đây là
nguồn vốn rẻ nhất trong số các loại hình huy động khác,ngân hàng chỉ phải chi ra
một chi phí nhỏ trong việc trả lãi,đồng thời ngân hàng có điều kiện mở rộng thêm
các dịch vụ thanh toán mới nhằm xây dựng hình ảnh của ngân hàng trong công
chúng.
*Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng và ngân hàng thoả thuận
với nhau về thời hạn rút tiền. Như vậy về nguyên tắc là khi khách hàng xác định
một kỳ hạn cụ thể thì họ chỉ được rút tiền khi thời hạn kết thúc. Tuy nhiên trong
thực tế, họ có thể yêu cầu được rút trước thời hạn mà đã thoả thuận với ngân
hàngvà chấp nhận hưởng một khoản lãi nhỏ hoặc không được hưởng lãi theo quy
định của ngân hàng.Khách hàng có thể gửi tiền vào ngân hàng với kỳ hạn dài hoặc
ngắn. Các mức kỳ hạn ngắn là :3 tháng , 6 tháng,9 tháng,12 tháng.Các mức kỳ hạn
Khoa kế toán - kiểm toán
10
Chuyên đề tốt nghiệp
dài là:24 tháng,36 tháng… .Mức lãi mà ngân hàng trả cho khách hàng là tuỳ thuộc
vào kỳ hạn khách hàng gửi tiền vào ngân hàng và các yếu tố khác trên thị trường.
*Tiền gửi tiết kiệm:là một bộ phận thu nhập của nguươì lao động chưa sử
dụng đến và gưỉ vào ngân hàng với mục đích an toàn tài sản và hưởng lãi từ số tiền
đó .Gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.Tiền gửi
xin vay tái cấp vốn của NHTU dưới các hình thức tái chiết khấu giấy tờ có giá hay
vay đảm bảo bằng các giấy tờ có giá như thương phiếu và các phiếu nợ khác.
-NHTM có thể vay của các NHTM hoặc TCTD khác dưới hình thức vay
ngắn hạn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, chịu lãi suất biên độ trần và sàn để
tránh những biến động đột ngột của cung cầu trên thị trường.
Thêm vào đó , ngân hàng còn có các vốn khác bao gồm các loại vốn được
tạo lập trong quá trình làm trung gian thanh toán hoặc làm đại lí thu hộ ,chi hộ cho
khách hàng, cho các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
Nói tóm lại , các nghiệp vụ tài sản nợ tạo nên chi phí chủ yếu và thường
xuyên của ngân hàng đó là chi trả lãi . Do vậy , để nâng cao hiệu quả kinh doanh
của một ngân hàng thì việc quản lý Tài sản nợ , kiểm soát các khoản chi trả lãi
chính xác là vô cùng cần thiết.Từ đó đảm bảo được an toàn trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng ,đồng thời đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cho ngân
hàng.
Khoa kế toán - kiểm toán
12
Chuyên đề tốt nghiệp
3.2 Nghiệp vụ tài sản có
Việc tạo được nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh là điều quan trọng
,nhưng làm sao tìm ra cách thức sử dụng vốn một cách hiệu quả với mức sinh lợi
cao nhất còn là điều quan trọng hơn .
` Đối ứng với nghiệp vụ Tài sản nợ là nghiệp vụ tài sản có hay nghiệp vụ sử
dụng vốn của ngân hàng thương mại. Nghiệp vụ này được phân chia thành tiền mặt
và các tài sản có sinh lời như cho vay, đầu tư và các Tài sản có khác. Tỷ lệ hợp lý
giữa tiền mặt và các Tài sản có sinh lời khác như cho vay, đầu tư sẽ quyết định đến
lợi nhuận và sự an toàn của hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tài sản có của
ngân hàng được phân chia thành các khoản mục sau:
biến sau:
*Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn ,trong đó bao gồm :
- Cho vay chiết khấu: là nghiệp vụ mà trong đố khách hàng phải chuyển giao
cho ngân hàng những giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toánvà số tiền được vay sẽ
bằng mệnh giá trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí.
-Cho vay ứng trước: là nghiệp vụ mà ngân hàng cho khách hàng vay bằng
cách mở cho khách hàng một tài khoản và chuyển số tiền vay vào tài khoản tiền
gửi của họ. Khách hàng có thể phát hành séc,ủy nhiệm chi để mua hàng hóa dịch
vụ .
-Cho vay thấu chi: là nghiệp vụ ngân hàng cho phép khách hàng chi tiêu
vượt quá số dư trên tài khoản vãng lai .
-Ngoài ra, nghiệp vụ tín dụng còn có các loại hình khác như tín dụng ngân
quỹ ,tín dụng bằng chữ ký …rất phong phú và đa dạng. Qua đó ngân hàng có thể
đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vốn của các đối tượng khách hàng .
*Nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn, bao gồm có:
- Cho vay theo dự án: là một trong những phương pháp tài trợ cho dự án đã
được xây dựng trước. Trong đó, việc cho vay được tiến hành trên một văn bản
hoàn chỉnh về việc vay và trả nợ đã được nghiên cứu, soạn thảo, được ký kết giữa
các chủ dự án và ngân hàng, đồng thời cũng dựa trên các căn cứ khoa học kỹ thuật
phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của nhà nuớc .
-Cho vay thuê mua (leasing):là hình thức tín dụng trung-dài hạn trên cơ sở
hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê. Khi kết
thúc thời hạn thuê, khách hàng được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê các tài sản
Khoa kế toán - kiểm toán
15
Chuyên đề tốt nghiệp
đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê . Trong thời hạn thuê, các
bên không được đơn phương từ bỏ hợp đồng .
-Cho vay hợp vốn : là nghiệp vụ mà một nhóm ngân hàng sẽ cùng cho vay
đối với một dự án vay vốn, trong đó sẽ có một tổ chức đứng ra làm đầu mối để dàn
kiếm lợi nhuận với mức rủi ro thấp nhất. Các dịch vụ khác mà ngân hàng cung cấp
vô cùng phong phú, gồm có:
*Dịch vụ thanh toán
Đây là nghiệp vụ mang tính dịch vụ đơn thuần mà không cần sử dụng đến
nguồn vốn của ngân hàng, thêm vào đó nó còn tạo ra một nguồn vốn tương đối lớn
cho ngân hàng thông qua quá trình thanh tóan.
NHTM có thể thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước thông qua các phương
tiện thanh toán như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ …hoặc thanh toán quốc
tế dưới các hình thức như: chuyển tiền, nhờ thu, L/C…Thông qua các dịch vụ
thanh toán, NHTM không những thu được các khoản phí mà còn tăng sức cạnh
tranh của mình đối với các đối thủ.
*Dịch vụ Bảo Hiểm
Bao gồm trong đây có các loại hình như :Bảo hiểm kinh doanh, Bảo hiểm
nhà ở và đồ dùng…Khi xác định cung cấp loại hình dịch vụ này, NHTM cũng xác
định sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ chuyên doanh về Bảo hiểm. Tuy
nhiên các NHTM vẫn cung cấp dịch vụ này vì mục đích đa dạng hoá danh mục sản
phẩm cũng như tăng thêm thu nhập cho bản thân mình.
*Dịch vụ Bảo lãnh
Cũng như Bảo hiểm, bảo lãnh là một nghiệp vụ ngoại bảng của NHTM. Bảo
lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của Ngân hàng (bên bảo lãnh) với bên có
quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ Tài chính thay cho khách
hàng ( bên được bảo lãnh ) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và
hoàn trả cho Ngân hàng số tiền đã được trẩ nợ thay. Qua dịch vụ này Ngân hàng có
Khoa kế toán - kiểm toán
17
Chuyên đề tốt nghiệp
thể khẳng định uy tín của mình với các khách hàng và đồng thời ngân hàng cũng
thu được phí bảo lãnh, góp một phần vào thu nhập cho Ngân hàng
*. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và kinh doanh vàng trên thị trường trong
hơn nữa ngân hàng còn có các nhân viên đầy kinh nghiệm trong lĩnh vực Tài chính
tiền tệ. Điều này giúp cho các chuyên gia của ngân hàng có thể đưa ra các lời
khuyên tối ưu cho các khách hàng, giúp cho họ giải quyết các vấn dề trong kinh
doanh của mình một cách có hiêu quả nhất .
Dịch vụ tư vấn không chỉ giúp cho ngân hàng thu được các khoản phí mà
còn nâng cao hình ảnh của ngân hnàg trong mắt khách hàng.
Ngoài các dịch vụ trên, NHTM còn cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác
như: quản lý ngân quỹ, cho thuê két…
Nói tóm lại, các NHTM hiện nay, ngoài việc thực hiện các nghiệp vụ truyền
thống còn thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ khác bằng cách đầu tư vào các thiết
bị kỹ thuật, ứng dụng CNTT vào việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho khách
hàng sao cho có thể trở thành ngân hàng đa năng hiện đại, đáp ứng tối đa nhu cầu
của khách hàng để từ đó thu về các khoản lợi nhuận.
II. Cơ chế tài chính của NHTM
.1. Cơ chế tài chính của NHTM
Căn cứ vào các tài liệu:
- Nghị định số 166/1999/ NĐ-CP của chính phủ về chế độ tài chính của các TCTD .
- Thông tư số 92/2000/TT- Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số
166 của chính phủ.
- Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN về ban hành
quy định phương pháp tính và hạch toán thu, chi trả lãi của NHNN và TCTD.
Cơ chế tài chính của NHTM được khái quát lại như sau:
NHTM là doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ
về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ và
cam kết của mình theo quy định của pháp luật .
Khoa kế toán - kiểm toán
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Xuất phát từ cơ chế điều hoà vốn, cấc NHTM thực hiện hạch toán toàn hệ
thống, trong đó cấp chủ quản chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính, kết quả kinh
đầy đủ chứng từ ban đầu, cập nhật sổ sách kế toán và phản náh đầy đủ kịp thời,
trung thực chính xác cá hoạt động kinh tế, tài chính. Thực hiện chế độ quản lý tài
chính của nhà nước và của ngân hàng. Xây dựng kế hoạch tài chính, lập dự toán và
quyết toán các khoản chi phí theo quy định.
Hàng năm, hoạt động tài chính của NHTM phải được kiểm toán nội bộ và
kiểm toán độc lập. Báo cáo tài chính sau khi được kiểm toán độc lập NHTM phải
công khai cho ba đối tượng: Nhà nước (gồm các cơ quan quản lý tài chính, thống
kê, thuế và NHNN), trong nội bộ NHTM (gồm tổ chức Đảng, đoàn thể nguời lao
động và các cổ đông), bên ngoài NHTM (gồm các nhà đầu tư, khách hàng). Nội
dung công khai cho từng đối tượng theo quy định của chế độ tài chính đối với
NHTM.
2.Các khoản thu nhập - chi phí và kết quả kinh doanh của NHTM
2.1 Các khoản thu nhập của NHTM
Các khoản thu nhập của NHTM được tạo ra từ nghiệp vụ sử dụng vốn của
ngân hàng. Các NHTM hiện đại ngày nay kinh doanh đa năng nên nội dung các
khoản thu cũng rất phong phú.
-Thu từ hoạt động nghiệp vụ bao gồm: thu lãi cho vay, hùn vốn liên doanh
liên kết, thu lãi tiền gửi, thu từ nghiệp vụ cho thuê tài chính, htu từ dịch vụ thanh
toán và ngân quỹ, thu từ nghiệp vụ chứng khoán và bảo lãnh, thu khác liên quan
đến hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng.
-Thu từ hoạt động khác của NHTM: htu góp vốn , mau cổ phần, htu từ việc
tham gia thị trường tiền tệ, thu từ hoạt động kinh doanh vàng bạc và ngoại tệ, thu
từ nghiệp vụ uỷ thác, đại lý, thu từ dịch vụ bảo hiểm và tư vấn, htu từ nghiệp vụ
mua bán nợ giữa các TCTD, thu từ nghiệp vụ cho thuê tài sản và nghiệp vụ khác.
Khoa kế toán - kiểm toán
21
Chuyên đề tốt nghiệp
-Thu hoàn nhập các khoản dự phòng đã trích trong chi phí, htu từ các khoản
vốn bằng dự phòng rủi ro, thu từ nhượng bán và thanh lý TSCĐ và thu về chênh
lệch tỷ giá theo quy định của pháp luật.
- Thu từ các hoạt động khác : phản ánh ở tìa khoản cấp 1 số 72
- Các khoản thu nhập bất thường: phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 79
Kết cấu của tài khoản thu nhập :
Bên có ghi:-Các khoản thu về hoạt động kinh doanh trong năm
Bên nợ ghi:-Số tiền thoái thu các khoản thu trong năm.
- chuyển số dư có cuối năm vào tài khoản lợi nhuận trong
năm nay khi quyết toán
Số dư có: - Phản ánh số thực thu trong năm
2.2 Các khoản chi phí của NHTM
Đối ứng với các khoản thu nhập, NHTM cũng như các doanh nghiệp khác cần
phải bỏ ra các chi phí để duy trì các hoạt động của mình. Các khoản chi phí của
NHTM gồm có :
Chi phí về huy động vốn như : chi trả lãi tiền gửi, chi trả lãi tiền vay, chi trả
lãi việc phát hành giấy tờ có giá và các chi phí khác liên quan đến huy động vốn.
Trong đó việc trả lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của
ngân hàng thương mại, nhưng đây là khoản chi không thể hạn chế hay tiết kiệm vì
đây là chi cho nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của NHTM. Mức chi phụ thuộc vào
số dư tiền gửi của khách hàng và lãi suất phải trả theo quy định của nhà nước. Chi
trả lãi tiền vay phụ thuộc vào số dư tài khoản tiền vay của ngân hàng, thời hạn vay
và lãi suất vay được thoả htuận giữa hai bên. Lãi suất tiền vay thường tương đối
cao nên nếu sử dụng nhiều vốn vay để kinh doanh thì ngân hàng sẽ thu được ít lợi
nhuận hơn, cho nên các ngân hàng thường hạn chế việc đi vay. Chi trả lãi phát
hành kỳ phiếu, trái phiếu phụ htuộc vào số vốn ngân hàng huy động được bằng
cách phát hành kỳ phiếu, trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi. Chi phí naỳ cao hơn chi
phí tiền gửi tuy nhiên nó chỉ mang tính chất thời điểm.
Khoa kế toán - kiểm toán
23
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chi phí về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ gồm: chi về dịch vụ thanh toán,
chi cước phí bưu điện và mạng viễn thông, chi phí về ngân quỹ và các khoản chi
hiệu quả.
Tài khoản phản ánh chi phí của ngân hàng thương mai.
Tài khoản phản ánh chi phí của ngân hàng thương mại được bố trí ở loại 8
trong hệ thống tài khoản của các TCTD.
- Chi về hoạt động huy động vốn : Tài khoản cấp I số 80
- Chi về dịch vụ ngân quỹ : Tài khoản cấp I số 81
- Chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí : Tài khoản cấp I số 83
- Chi cho nhân viên : Tài khoản cấp I số 84
- Chi cho hoạt động quản lý và công vụ : Tài khoản cấp I số 85
Kết cấu của tài khoản chi phí
Bên nợ ghi : - Các khoản chi về hoạt động trong năm
Bên có ghi : - Số tiền thu được để giảm chi trong năm.
- Chuyển số dư nợ cuối năm vào tài khoản lợi nhuận năm
nay khi quyết toán
Số dư nợ : Phản ánh số thực chi trong năm.
2.3. Kết quả kinh doanh của NHTM
Kết quả kinh doanh của NHTM hay lợi nhuận là khoản chênh lệch được xác
định giữa tổng doanh thu phải trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý, hợp lệ,
bao gồm lợi nhuận trong hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận trong hoạt động khác.
Việc xác định kết quả kinh doanh được thực hiện vào cuối ngày 31/12 khi quyết
toán niên độ.
Tài khoản phản ánh kết quả kinh doanh được bố trí ở loại 6 của hêj thống tài
khoản các TCTD, cụ thể la tài khoản cấp I số 69 “ Lợi nhuận chưa phân phối”. Tài
khoản 69 có 2 tài khoản cầp II.
Tài khoản 691 “ Lợi nhuận năm nay” dùng để phản ánh số lãi. lỗ hàng năm
của NHTM.
Khoa kế toán - kiểm toán
25