TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN MÔN BẢO HIỂM
TRONG KINH DOANH
********
Đề tài:
Bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và
giải pháp phát triển
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thanh Hà
Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – A14 – K45E
Đỗ Thị Thu Thảo
Vũ Thanh Hà
Nguyễn Phương Anh
Cao Phương Nhi
Hà Thị Họa
Bùi Thị Vân Anh
Trần Thị Hiền
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống bằng nghề
nông và nông nghiệp đóng góp hơn 20% GDP cả nước. Có thể khẳng định rằng
nông nghiệp là ngành có ảnh hưởng to lớn tới đời sống dân sinh xã hội ở Việt Nam.
Sản xuất nông nghiệp Việt Nam thường xuyên phải hứng chịu những trận thiên tai
lớn, những rủi ro đến từ dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Chính vì lẽ đó, nông
nghiệp Việt Nam trở thành thị trường tiềm năng cho dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp
ra đời và phát triển.
Tuy nhiên, thực tế phát triển của bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam lại hoàn
toàn trái ngược với tiềm năng to lớn của nó. Mặc dù xuất hiện từ khá sớm nhưng
đến nay loại hình bảo hiểm này vẫn chỉ được triển khai ở quy mô nhỏ, hiệu quả còn
hạn chế và thậm chí đang có nguy cơ tàn lụi do nhiều nguyên nhân đến từ cả 3
phía: người nông dân, các doanh nghiệp bảo hiểm và Chính phủ.
hạn hán, lũ lụt, hay khi bị thâm hụt lợi tức do sự trượt giá của các mặt hàng nông
sản. Loại hình bảo hiểm này không bảo hiểm rủi ro chiến tranh và hạt nhân. Bảo
hiểm mùa màng được chia làm hai loại là: bảo hiểm hoa lợi mùa màng và bảo hiểm
lợi tức mùa màng.
Bảo hiểm hoa lợi mùa màng gồm: bảo hiểm mưa đá và bảo hiểm đa thiên tai.
Bảo hiểm mưa đá: phổ biến rộng rãi ở các công ty bảo hiểm tư nhân do mưa
đá là loại thảm họa tự nhiên có nguy cơ nhỏ, diễn ra trên địa bàn hẹp và tổng
thiệt hại của loại hình thiên tai này thường không vượt quá số vốn dự trữ của
các công ty bảo hiểm tư nhân. Bảo hiểm này dựa trên cơ sở tỉ lệ - tức là trong
trường hợp có tổn thất, người nông dân sẽ được bồi thường một khoản tiền
tính trên cơ sở tỉ lệ giữa phần mùa màng bị thiệt hại và toàn bộ mùa màng.
4
Những chương trình bảo hiểm mưa đá sớm nhất được triển khai bởi các hợp
tác xã nông nghiệp ở Pháp và Đức vào những năm 1820.
Bảo hiểm đa thiên tai (MPCI): là loại hình bảo hiểm bao gồm nhiều loại
thiên tai như lũ lụt, hạn hán, nạn côn trùng, dịch bệnh… có khả năng ảnh
hưởng tới người được bảo hiểm tại cùng một thời điểm và gây ra tổn thất hết
sức to lớn cho công ty bảo hiểm. Để xây dựng loại hình bảo hiểm này, các
loại hình thiên tai thường được liệt kê tập trung vào một chính sách, được gọi
là chính sách bảo hiểm đa thiên tai (MPCI). Các chương trình bảo hiểm đa
thiên tai thường được đưa ra bởi công ty bảo hiểm quốc doanh và tiền đóng
bảo hiểm thường được chính phủ trợ cấp một phần. Chương trình bảo hiểm
đa thiên tai sớm nhất được thực thi bởi Liên đoàn Bảo hiểm Mùa màng Liên
bang (FCIC), một cơ quan trực thuộc bộ Nông nghiệp Mỹ, vào năm 1938.
Chương trình của FCIC được điều hành bởi Cơ quan quản lý rủi ro (RMA),
thuộc bộ Nông nghiệp Mỹ từ năm 1996.
Bảo hiểm lợi tức mùa màng là loại hình bảo hiểm kết hợp giữa bảo hiểm hoa
lợi mùa màng và bảo hiểm giá cả. Bảo hiểm lợi tức bao gồm cả việc bảo hiểm cho
trượt giá xảy ra khi cây trồng đang trong thời kỳ phát triển, nhưng không bao gồm
bảo hiểm cho trượt giá xảy ra từ vụ mùa này sang vụ mùa khác – bởi nếu không đó
người nông dân khi đã có bảo hiểm sẽ dám thử thách, áp dụng các phương pháp,
mô hình, công nghệ mới vào sản xuất. Kết quả là không chỉ đời sống người nông
dân được cải thiện, nông nghiệp được thúc đẩy, mà cả nền kinh tế sẽ đạt được bước
tiến mới.
6
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT
NAM
1. Tiềm năng phát triển
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển bảo hiểm nông nghiệp.
Việt Nam là một thị trường rộng lớn để phát triển bảo hiểm nông nghiệp.
Hiện nay, gần 80% số hộ gia đình ở Việt Nam phụ thuộc vào nông nghiệp và
nông nghiệp chiếm tới trên 20% GDP Việt Nam (Theo số liệu của Tổng cục
thống kê năm 2008, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,99%
GDP).
Do chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường
nên mức độ bao cấp của Nhà nước đối với nông nghiệp phải giảm xuống.
Nếu như trước đây bà con nông dân nhận được sự bao cấp rất nhiều từ phía
nhà nước, làm cái gì, sản xuất ra sao, thu hoạch thế nào cho đến cả thiệt hại
đều trông chờ vào Nhà nước thì bây giờ sản xuất theo cơ chế thị trường, tự
nông dân phải quyết định và chấp nhận rủi ro, nên nhu cầu mua bảo hiểm
của người dân có xu hướng ngày càng tăng.
Nông nghiệp Việt Nam thường xuyên phải hứng chịu những rủi ro đến từ
dịch bệnh gia súc, gia cầm và cây trồng, cũng như những trận thiên tai lớn.
Những năm gần đây, người nông dân bị bao phen khốn đốn vì gà, vịt chết
trong dịch cúm gia cầm, lợn chết vì bệnh tai xanh, trâu bò chết vì dịch lở
mồm long móng. Dịch cúm gia cầm 2 năm liên tục (2004 - 2005) làm cho
những người chăn nuôi điêu đứng. Chỉ tính riêng trong năm 2008 đã có 10
cơn bão, 6 trận áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Việt Nam gây thiệt hại trên
13.000 tỷ đồng. Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
7
được bảo hiểm. Điều này đã khiến người nông dân không tránh khỏi những thiệt
hại nặng nề mà đáng lẽ có thể kiểm soát được khi rủi ro xảy ra. Một ví dụ minh
chứng rõ ràng cho điều này chính là câu chuyện về đợt cúm gia cầm năm 2004.
Trong đợt cúm gia cầm năm 2004, cả nước có trên 38 triệu gia cầm mắc
dịch, chết và bị tiêu huỷ, chiếm 15% tổng đàn gia cầm của cả nước, gây thiệt hại
hơn 3.000 tỷ đồng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của hàng
triệu hộ gia đình. Xét dưới góc độ tài chính, một phần của những tổn thất nêu trên
lẽ ra có thể được bù đắp nếu những người chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ gia cầm
được bảo hiểm. Tuy nhiên, trên thực tế, trong phạm vi cả nước, mới chỉ có một đàn
gà với tổng số trên dưới 500 con được bảo hiểm với số tiền bồi thường khoảng 12
triệu đồng. Điều này cho thấy một thực tế là trong thời gian qua nghiệp vụ bảo
hiểm vật nuôi nói riêng và bảo hiểm nông nghiệp nói chung ở Việt Nam chưa được
người dân quan tâm, chú ý đúng mức để tự bảo vệ cho mình trước những rủi ro có
thể xảy ra trong sản xuất nông nghiệp.
2.2. Về phía các doanh nghiệp
Trong thực tế, bảo hiểm nông nghiệp chiếm một thị phần rất nhỏ trên thế
giới. Phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm còn e ngại trong việc cung ứng loại hình
bảo hiểm này vì phí bảo hiểm tương đối thấp mà rủi ro lại lớn. Tuy nhiên, vì sự cần
thiết của loại hình bảo hiểm này nên nó vẫn được đề cao và phát triển. Dưới đây là
một số nét tổng quan về các đơn vị chính tham gia thị trường bảo hiểm nông nghiệp
ở Việt Nam thời gian qua.
9
Công ty bảo hiểm Bảo Việt
Trên thực tế, bảo hiểm nông nghiệp được triển khai ở Việt Nam từ khá sớm.
Ngay từ đầu những năm 1980, Bảo Việt đã thí điểm nhận bảo hiểm cây lúa ở
hai huyện Vụ Bản và Nam Ninh, tỉnh Nam Hà, trước khi mở rộng nghiệp vụ
này ra nhiều địa phương trong phạm vi cả nước vào năm 1993. Tuy nhiên,
bởi nhiều lý do, hoạt động bảo hiểm cây lúa của Bảo Việt gặp phải không ít
khó khăn dẫn đến diện tích gieo trồng được bảo hiểm, doanh thu phí bảo
hiểm giảm dần, trong khi tỷ lệ bồi thường lại đứng ở mức cao. Trong suốt
Tuy nhiên, với việc chuyển dần sang mô hình hoạt động của ngân hàng
thương mại thì Agribank đã bắt đầu giảm những khoản vay như vậy, và
người nông dân phải gánh chịu những chi phí rủi ro nhiều hơn.
Trên thực tế bảo hiểm nông nghiệp thường được xem là lĩnh vực hoạt động
phức tạp, tốn kém, khả năng sinh lợi thấp và rất dễ bị thua lỗ nên nhiều doanh
nghiệp tìm cách tránh né. Một thực tế đáng buồn là mặc dù bảo hiểm nông nghiệp
Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển nhưng cung cầu bảo hiểm chưa gặp nhau.
Bảo hiểm nông nghiệp mới chỉ nhận bảo hiểm cho các loại cây trồng, vật nuôi ít rủi
ro. Những loại cây trồng, vật nuôi nhiều rủi ro, người nông dân muốn mua bảo
hiểm thì các doanh nghiệp bảo hiểm không dám nhận trong khi đó những loại cây
trồng, vật nuôi ít rủi ro, doanh nghiệp nhận bảo hiểm thì nông dân không muốn
mua. Từ đó dẫn đến một nghịch lý là nông dân ở các địa phương thường xuyên bị
thiên tai, dịch bệnh sẵn sàng tham gia bảo hiểm nông nghiệp nhưng lại không biết
mua ở đâu.
11
3. Nguyên nhân
3.1. Về phía người nông dân
Người dân ở nhiều địa phương chưa có thói quen tham gia bảo hiểm. Nhiều
người còn chưa thực sự tin tưởng, chưa có nhận thức đầy đủ về lợi ích, vai trò của
bảo hiểm trong việc duy trì ổn định đời sống và sản xuất kinh doanh. Phần lớn
nông dân Việt Nam hiểu biết về bảo hiểm rất thấp, họ chưa hiểu hết tính bức thiết
phải đóng bảo hiểm để đảm bảo an toàn cho tài sản của mình. Chính vì vậy, nhân
viên kinh doanh tiếp cận với những đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều
nông dân sau năm đầu mua bảo hiểm không gặp phải sự cố gì, sang năm tiếp theo
vì tiếc tiền nên chấm dứt hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ.
Điều kiện kinh tế xã hội tại một số địa phương, đặc biệt là những vùng sâu,
vùng xa, vùng chịu nhiều thiên tai còn thấp, nhiều hộ gia đình không đủ khả năng
tài chính để tham gia bảo hiểm nông nghiệp, kể cả khi phí bảo hiểm được tính ở
mức khá thấp. Đó chính là nguyên nhân tại sao nhiều hộ gia đình gặp rủi ro cao
trong hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn không thể mua bảo hiểm được.
chi phí cho việc bán bảo hiểm lớn, việc kiểm tra, giám định tổn thất và bồi thường
gặp nhiều khó khăn, trong khi hoa hồng lại thấp so với số phí bảo hiểm thu được
nên bảo hiểm nông nghiệp không thực sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp bảo
hiểm. Nếu tăng phí bảo hiểm tương ứng với rủi ro thì người dân không có khả năng
tham gia, còn nếu giữ phí bảo hiểm ở mức thấp thì không đảm bảo khả năng tài
chính. Phí bảo hiểm nông nghiệp thấp cũng đang là khó khăn cho công ty bảo
hiểm. Chẳng hạn, mức bảo hiểm 1 lợn nái của Groupama là hơn 60.000 đồng/năm,
13
trong khi mức chi trả đền bù lên đến vài chục triệu đồng. Chính bởi vậy mà các
doanh nghiệp có xu hướng bỏ qua hay chỉ phát triển một cách cầm chừng, dè dặt
với bảo hiểm nông nghiệp, khiến thị trường loại hình bảo hiểm này không được
phát triển theo đúng nhu cầu.
Một trở ngại nữa là việc giải quyết bồi thường bảo hiểm còn chậm, thủ tục
còn phiền hà, gây nhiều khó khăn cho người tham gia bảo hiểm. Việc thiết kế sản
phẩm bảo hiểm chưa phù hợp với điều kiện dân trí, nhiều điều khoản bảo hiểm còn
phức tạp, dễ dẫn đến nhầm lẫn, tranh chấp, nhất là khi đại lý không hoàn thành
nghĩa vụ giải thích hợp đồng.
Bên cạnh đó, các công ty bảo hiểm chưa đầu tư hay có những biện pháp cụ
thể để tuyên truyền tốt hơn cho người nông dân hiểu về tầm quan trọng, tính hữu
ích của bảo hiểm nông nghiệp cũng như những cam kết bồi thường chắc chắn khi
rủi ro xảy ra.
Ngoài ra, cũng cần khẳng định rằng sự yếu kém trong trình độ quản lý và
thiếu kinh nghiệm của các nhà bảo hiểm cũng là một trong những nguyên nhân dẫn
tới sự thất bại của hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam khi tham gia
vào thị trường bảo hiểm nông nghiệp này.
3.3. Về phía chính phủ
Luật pháp nước ta không có những quy định mua bảo hiểm bắt buộc ở một
số loại hình nên số hộ nông dân tham gia mua bảo hiểm nông nghiệp còn rất hạn
chế.
14
hạn chế tổn thất xảy ra với tài sản, từ bỏ thói quen trông chờ thụ động vào sự trợ
giúp của chính phủ, sự bồi thường của các công ty bảo hiểm. Người nông dân tự ý
thức trách nhiệm của mình chính là sự tự bảo hiểm an toàn và hiệu quả nhất.
Cuối cùng, các hộ nông dân cần nâng cao chất lượng, đảm bảo vệ sinh và
đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh trong chăn nuôi, trồng trọt nhằm hạn chế dịch bệnh
bùng phát, tránh trường hợp các công ty bảo hiểm từ chối bồi thường vì thiệt hại do
lỗi của người nông dân.
2. Về phía các doanh nghiệp bảo hiểm
Thay vì chỉ trông đợi sự hỗ trợ từ phía Chính phủ, các doanh nghiệp bảo
hiểm cũng phải tự mình tháo gỡ khó khăn để có thể phát triển trong thị trường bảo
hiểm nông nghiệp. Chắc chắn rằng không thể ép các doanh nghiệp bảo hiểm trong
nước tham gia vào thị trường bảo hiểm nông nghiệp để cứu nông dân. Nhưng đây
không chỉ hoàn toàn là trách nhiệm của Nhà nước, các doanh nghiệp cũng cần nhận
thức rằng mình có trách nhiệm gánh vác một phần vai trò đặc biệt này.
Bảo hiểm nông nghiệp chưa phát triển được một phần là do hiện nay chưa có
một phương pháp đánh giá chính xác nào giúp doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá rủi
ro và phân định thiệt hại một cách khách quan. Chính vì thế, các doanh nghiệp bảo
hiểm phải tích cực phối hợp với các cơ quan ban, ngành từ Trung ương đến địa
16
phương để tìm ra những phương pháp thẩm định thích hợp, tạo tiền đề thúc đẩy bảo
hiểm nông nghiệp phát triển hơn.
Bảo hiểm nông nghiệp không triển khai mạnh mẽ được bởi một phần chọn
“nhầm” địa chỉ, tức là những nơi càng có nguy cơ bị thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh
càng cần phát triển dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp nhưng chẳng thấy bóng dáng
doanh nghiệp nào đầu tư. Vì thế, bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm cần xác định
rõ hướng đi của mình trong thị trường nhiều rủi ro nhưng đầy tiềm năng này. Các
doanh nghiệp bảo hiểm phải chủ động nắm bắt cơ hội, chủ động tìm kiếm, mở rộng
thị trường. Họ phải xác định rõ người nông dân cần gì và làm thế nào để làm hài
lòng khách hàng của mình. Để thực hiện được điều này thì các doanh nghiệp nên
tiến hành các cuộc điều tra trên diện rộng nhằm thu thập thông tin, có thể sẽ tốn
canh tác thì mảnh đất đó cần phải màu mỡ, phì nhiêu. Không ai khác mà chính là
Nhà nước sẽ cần phải đóng vai trò tích cực trong việc cải tạo mảnh đất này”.
Vai trò tiên phong của chính phủ quyết định ở việc đưa ra nhóm các giải
pháp về kinh tế. Do đặc trưng của loại hình bào hiểm này là tính rủi ro cao, có tính
tích tụ và hàng loạt, đòi hỏi khả năng chi trả lớn khi có thiệt hại xảy ra nên cần thiết
phải huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội, được cụ thể hóa trước hết
bằng các chính sách hỗ trợ kinh tế của chính phủ.
18
Chính phủ trực tiếp hỗ trợ một phần phí bảo hiểm cho người tham gia bảo
hiểm, trong đó ưu tiên những đối tượng chính sách, các hộ gia đình có hoàn
cảnh khó khăn, sinh sống tại những vùng có nhiều thiên tai hoặc dịch bệnh.
Trong chính sách này cũng cần đặc biệt quan tâm đến việc phối hợp với các
cơ quan địa phương nhằm xác định đúng đối tượng được hỗ trợ, cách thức và
mức độ hỗ trợ để tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước.
Chính phủ xây dựng và triển khai các chương trình bảo hiểm có sự hỗ trợ
của Nhà nước, trong đó doanh nghiệp bảo hiểm đóng vai trò là trung gian
giữa nông dân - người mua bảo hiểm và chính phủ. Doanh nghiệp sẽ cung
cấp các loại hình bảo hiểm nông nghiệp, và khi có tổn thất xảy ra thì chính
phủ sẽ đóng góp một phần hoặc toàn bộ chi phí bồi thường vượt quá trách
nhiệm của công ty bảo hiểm. Chính phủ đóng vai trò là người bảo hiểm cuối
cùng với các rủi ro đặc biệt hay các tổn thất mang tính thảm họa.
Trích ngân sách để đào tạo đội ngũ cán bộ nhằm triển khai bảo hiểm nông
nghiệp, đầu tư cải tiến máy móc, ứng dụng khoa học kĩ thuật, thiết lập hệ
thống giám sát quy trình sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao
chất lượng hàng nông sản. Từ đó lợi nhuận sẽ cao hơn, kích thích người
nông dân tham gia bảo hiểm nhằm bảo vệ lợi ích của chính họ. Đây được
xem là biện pháp hiệu quả hơn việc tài trợ phí bảo hiểm cho người nông dân
bởi nhà nước chỉ nên dừng lại ở việc định hướng, hỗ trợ bước đầu chứ không
thể “đài thọ” mãi cho doanh nghiệp bảo hiểm cũng như người nông dân
được.
ro bảo hiểm bắt buộc cần phải được tính toán, xem xét kĩ lưỡng dựa trên điều
kiện sản xuất, điều kiện tự nhiên của từng vùng, nguy cơ rủi ro của từng
giống vật nuôi, cây trồng…
Chính phủ quy định “thước đo bảo hiểm” để các doanh nghiệp thống nhất áp
dung: bảo hiểm theo chỉ số. Đó là việc lấy chỉ số khách quan của từng đối
tượng làm căn cứ bồi thường, ví dụ cây trồng lấy chỉ số là thời tiết: nhiệt độ,
mực nước lũ, lượng mưa Phương pháp này tiến bộ hơn phương pháp bồi
thường dựa trên thiệt hại, tổn thất thực tế do hạn chế được rủi ro đạo đức,
trục lợi bảo hiểm, tiết kiệm chi phí kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình sản
xuất, chi phí giám định tổn thất của từng cá nhân. Người nông dân cũng dễ
dàng nhận được bảo hiểm khi tổn thất xảy ra nếu các chỉ số đưa ra phù hợp.
Hiện nay khá nhiều nước trên thế giới áp dụng chính sách bảo hiểm theo chỉ
số. Ở Ấn Độ, hợp đồng bảo hiểm chỉ số theo lượng mưa được bán cho nông
dân từ năm 2003 với trên 1 triệu hợp đồng. Ở Mexico, chính phủ mua bảo
hiểm chỉ số theo lượng mưa, nhiệt độ, sức gió và động đất. Ở Etiopia, Quỹ
chương trình Lương thực thế giới đã mua bảo hiểm chỉ số để tài trợ bất
thường trong trường hợp thiếu thực phẩm liên quan đến hạn hán. Còn tại
Việt Nam, chương trình này đã được đưa vào thử nghiệm ở đồng bằng sông
Cửu Long, cụ thể là Đồng Tháp trong 3 năm qua. Chỉ số bảo hiểm ở đây dựa
trên mực nước lũ sớm, chẳng hạn như nếu vượt quá 270cm ở đập Tân Châu,
bà con ở huyện Hồng Ngự và Tam Nông có lúa bị ngập do không kịp thu
hoạch thì cứ việc đến công ty bảo hiểm đòi tiền. Cách thức bảo hiểm này sẽ
thu hút sự tham gia của nhiều nông dân vì lợi ích thiết thực của bản thân
cũng như nhiều công ty bảo hiểm do cơ sở bồi thường rõ ràng, minh bạch,
hạn chế kinh doanh thua lỗ.
21
Trên đây là một số giải pháp đặt ra từ phía chính phủ nhằm mở đường cho sự
phát triển của bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam. Xét thấy trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng, đây còn là một loại hình bảo hiểm khá nhạy cảm, tính sinh
lời ít, rủi ro cao nhưng hiệu quả xã hội cực kỳ to lớn. Theo tiến sỹ Jason Hartell,
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. vietbao.vn
/> />dan/55070309/88/
2. www.kinhtenongthon.com.vn
/> />3. vneconomy.vn
/>tim-duong.htm
4. www.vietnamnet.vn
/>5. dantri.com.vn
/> /> />hang-loat.htm
6. www. vnexpress.net
/>24
7. nguoilanhdao.vn
/>5-nam/32/34471.star
8. www. tinmoi.vn
/>nong-dan/79107.sn
9. www.agro.gov.vn
/>10. www.baoviet.com.vn
/>websiteId=1&newsId=182&catId=199&lang=VN
11. www.doisongphapluat.com.vn
/>12. www.nld.com.vn
/>gap-nong-dan.htm
13. www.cpv.org.vn
/>14. en.wikipedia.org
/>25