Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam - Pdf 12


Phần mở đầu
Bớc sang thế kỷ 21, thế giới đang có những bớc phát triển vợt bậc trong
các lĩnh vực khoa học công nghệ, kinh tế và nhiều lĩnh vực khác. Ngày càng
có nhiều phát minh mới, sản phẩm mới xuất hiện phục vụ đời sống con ngời,
con ngời vừa là trung tâm vừa là mục tiêu của phát triển và trên thực tế những
nhu cầu của con ngời đang đợc đáp ứng ở mức độ ngày càng cao. Song, trên thế
giới hiện nay vẫn còn hàng triệu triệu ngời đang phải sống trong cảnh nghèo
đói và không đợc đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất nh: lơng thực, thực phẩm,
nớc sạch, vệ sinh
Bên cạnh đó, ngày nay loài ngời cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nhức
nhối mang tính toàn cầu nh dịch bệnh, ô nhiễm môi trờng, chiến tranh, khủng
bố v.v. mà những vấn đề này không phải riêng của một quốc gia nào và một
quốc gia riêng biệt cũng không thể giải quyết đợc. Vì vậy, các nớc ngày càng
xích lại gần nhau hơn để cùng hợp tác giải quyết vấn đề chung. Trong nỗ lực
chung để xây dựng một thế giới hoà bình, phồn thịnh các nớc có nền kinh tế
phát triển đã cam kết hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các nớc đang và chậm
phát triển nhằm giúp các nớc này thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và hội nhập với
thế giới.
Việt Nam là một nớc đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đời
sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, để đa đất nớc phát triển đi
lên và phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Đảng, Nhà nớc và Chính phủ
Việt Nam đã quyết tâm thực hiện đờng lối đổi mới nhằm phát huy nguồn nội
lực và tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của cộng đồng quốc tế.
Sau hơn 10 năm thực hiện đờng lối đổi mới, đất nớc ta đã đạt đợc những thành
tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Những thành tựu
đó thể hiện kết quả của sự đổi mới, phát huy cao nguồn nội lực và sự hỗ trợ tích
cực, có hiệu quả của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang là một
nớc nghèo, thu nhập bình quân đầu ngời vào loại thấp và vẫn còn hàng triệu ng-
ời dân hiện đang sống trong cảnh nghèo đói và dễ bị tổn thơng. Chính phủ Việt


quá trình thực hiện đề tài.Chơng I2

Những vấn đề lý luận về đói nghèo và nguồn vốn ODA
I. Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA)
1. Khái niệm và nguồn gốc ODA
1.1. Nguồn gốc ra đời của ODA
Quá trình lịch sử của ODA có thể đợc tóm lợc nh sau:
Sau đại chiến thế giới lần thứ II các nớc công nghiệp phát triển đã thoả thuận về
sự trợ giúp dơí dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện u đãi
cho các nớc đang phát triển. Tổ chức tài chính quốc tế Ngân hàng thế giới (WB)
đã đợc thành lập tại hội nghị về tài chính tiền tệ tổ chức tháng 7 năm 1944
tại Bretton Woods (Hoa Kỳ) với mục tiêu là thúc đẩy phát kinh tế và tăng trởng
phúc lợi của các nớc với t cách nh là một tổ chức trung gian về tài chính, một
ngân hàng thực sự với hoạt động chủ yếu là đi vay theo các điều kiện thơng mại
bằng cách phát hành trái phiếu để rồi cho vay tài trợ đầu t tại các nớc.
Tiếp đó, tháng 12 năm 1960 tại Pari các nớc đã ký thoả thuận thành lập tổ chức
hợp tác kinh tế và phát triển (OECD). Tổ chức này bao gồm 20 thành viên ban
đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phơng
cũng nh đa phơng. Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nớc OECD đã lập ra
các Uỷ ban chuyên môn trong đó có Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) nhằm
giúp các nớc đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu t.
Kể từ khi ra đời ODA đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:
Trong những năm 1960 tổng khối lợng ODA tăng chậm đến những năm 1970
và 1980 viện trợ từ các nớc OECD vẫn tăng liên tục. Đến giữa những năm 80

2. Đặc điểm của nguồn vốn ODA
2.1. Vốn ODA mang tính u đãi
Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài.
Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và
thời gian ân hạn là 10 năm.
Thông thờng, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho không) và
đây cũng là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thơng mại. Thành tố cho
không đợc xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi
suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thơng mại. Sự u đãi ở đây là so sánh với
tập quán thơng mại quốc tế.4

Sự u đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nớc đang và chậm
phát triển, vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nớc đang
và chậm phát triển có thể nhận đợc ODA là:
Thứ nhất, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu ngời thấp, nớc có
GDP bình quân đầu ngời càng thấp thì thờng đợc tỷ lệ viện trợ không hoàn lại
của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn u đãi càng lớn.
Thứ hai, Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nớc này phải phù hợp với chính
sách và phơng hớng u tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận
ODA. Thông thờng các nớc cung cấp ODA đều có những chính sách và u tiên
riêng của mình tập trung vào những lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng
kỹ thuật và t vấn. Đồng thời, đối tợng u tiên của các nớc cung cấp ODA cũng
có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, nắm bắt đợc xu hớng u tiên
và tiềm năng của các nớc, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết.
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong
những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nớc phát
triển sang các nớc đang phát triển. Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và

cả cộng đồng quốc tế không phân biệt nớc giàu, nớc nghèo.
Mục tiêu thứ hai là tăng cờng vị thế chính trị của các nớc tài trợ. Các nớc phát
triển sử dụng ODA nh một công cụ chính trị nhằm xác định vị thế và ảnh hởng
của mình tại các nớc tiếp nhận ODA. Ví dụ, Nhật Bản hiện là nhà tài trợ hàng
đầu thế giới và cũng là nhà tài trợ đã sử dụng ODA nh một công cụ đa năng về
chính trị và kinh tế. ODA của Nhật không chỉ đa lại lợi ích cho nớc nhận mà
còn mang lại lợi ích cho chính họ. Trong những năm cuối thập kỷ 90 khi phải
đối phó với những suy thoái nặng nề trong khu vực, Nhật Bản đã quyết định trợ
giúp tài chính rất lớn cho các nớc Đông Nam á là nơi chiếm tỷ trọng tơng đối
lớn về mậu dịch và đầu t của Nhật Bản, Nhật đã dành 15 tỷ USD cho mậu dịch
và đầu t có nhân nhợng trong vòng 3 năm, các khoản cho vay đợc tính bằng
Yên và gắn với các dự án có sông ty của Nhật tham gia.
Viện trợ của các nớc phát triển không chỉ đơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị
mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế, chính trị cho
các nớc tài trợ. Những nớc cấp tài trợ đòi hỏi nớc tiếp nhận phải thay đổi chính
sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên tài trợ. Khi nhận viện trợ nớc
nhận viện trợ cần cân nhắc kỹ lỡng các điều kiện của các nhà tài trợ vì lợi ích
trớc mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài. Quan hệ tài trợ phải đẩm bảo 6

tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
2.3. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất u đãi nên gánh
nặng nợ nần thờng cha xuất hiện. Một số nớc do không sử dụng hiệu quả ODA
có thể tạo nên sự tăng trởng nhất thời nhng sau một thời gian lại lâm vào tình
trạng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Vấn đề là ở chỗ ODA không có khả
năng đầu t trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại

cứ nơi nào
3.4. Phân loại theo đối tợng sử dụng
Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ
thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không
hoặc vay u đãi
Hỗ trợ phi dự án. Bao gồm:
Hỗ trợ cán cân thanh toán: thờng là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền
tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hỗ trợ qua nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá đợc
chuyển qua hình thức này có thể đợc sử dụng để hỗ trợ ngân sách
Hỗ trợ trả nợ: Hỗ trợ tài chính trực tiếp nhằm giúp nớc nhận tài trợ
thanh toán các khoản nợ hoặc giảm nợ cho nớc nhận
Viện trợ chơng trình: Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời
gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ đợc sử dụng
nh thế nào
4. Vai trò của vốn ODA
Trong khi nghiên cứu các mô hình phát triển kinh tế, ngời ta thấy có bốn mô
hình chiến lợc cơ bản. Bốn mô hình này có thể khái quát thành 2 dạng: chiến l-
ợc hớng nội (chiến lợc thay thế nhập khẩu) và chiến lợc hớng ngoại hay còn gọi
là chiến lợc kinh tế mở. Tuỳ vào quan điểm và điều kiện cụ thể của mỗi nớc mà
có thể lựa chọn hình thức phù hợp. Ta có thể nghiên cứu sự phát triển của các n-
ớc dới đây để có thể so sánh một cách tơng đối giã các hình thức khác nhau:
Từ sau năm 1960 Hàn Quốc đã áp dụng chiến lợc hớng ngoại triệt để và kết quả
là Hàn Quốc đã nhanh chóng thoát khỏi nền kinh tế trì trệ, thu nhập ngoại tệ từ
xuất khẩu tăng lên nhanh chóng và sau 30 năm đã thoát khỏi cảnh nghèo nàn, 8

lạc hậu để trở thành quốc gia phát triển nhanh cả 3 tiêu thức tốc độ tăng trởng
GDP, giải quyết việc làm và công nghiệp hoá.

9

thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, nhiều rủi ro. Vì vậy các nớc gặp khó khăn trong
việc thu hút vốn FDI vào lĩnh vực này. Nhiều nớc đã tranh thủ đợc nguồn vốn
ODA từ các nớc giàu. Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, Đài Loan đã nhận
đợc viện trợ từ Mỹ với số tiền lên đến 1,482 tỷ USD và số vốn này đã góp phần
rất đáng kể trong quá trình đi lên của Đài Loan. Hiện nay Nhật Bản là nớc viện
trợ hàng đầu thế giới, nhng trớc đây Nhật cũng là nớc nhận viện trợ. Năm 1945
sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Nhật đã gặp rất nhiều khó khăn. Khi
đó, Nhật Bản đã đợc nhận viện trợ từ Hoa Kỳ, các tổ chức của Liên Hợp Quốc,
các tổ chức tài chính quốc tế. Trong những năm 50, Nhật Bản đã phục hồi với
một tốc độ kinh ngạc, nhiều dự án lớn đã đợc thực hiện nh dự án đờng cao tốc,
các dự án xây dựng đập nớc Nền kinh tế Nhật đã phát triển nhanh chóng với
sự giúp đỡ của vốn ODA. Đầu những năm 60 Nhật Bản là nớc nhận viện trợ từ
WB nhiều thứ hai trên thế giới. Đến năm 1990 Nhật đã trả nợ xong Ngân hàng
thế giới.
Do tính chất u đãi, vốn ODA thờng dành cho đầu t vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã
hội nh đờng xá, cầu cảng, công trình điện và các lĩnh vực giáo dục, y tế, phát
triển nguồn nhân lực
Vào đầu những năm 1970, cơ sở hạ tầng của các nớc Đông Nam á sau khi
giành đợc độc lập hết sức nghèo nàn, lạc hậu và các quốc gia trong khu vực đã
sớm nhận thấy vai trò quan trọng của việc phát triển các hoạt động giao thông
vận tải, thông tin liên lạc Theo báo cáo của WB, từ năm 1971 đến 1974 tại
Philppines vốn chi phí cho phát triển giao thông vận tải chiếm tới 50% tổng số
vốn dành cho xây dựng cơ bản và 60% tổng vốn vay ODA đợc chi cho phát
triển cơ sở hạ tầng.
Nhiều công trình hạ tầng kinh tế xã hội nh sân bay, bến cảng, đờng cao tốc, tr-
ờng học, bệnh viện, trung tâm nghiên cứu khoa học tầm cỡ quốc gia ở Thái
Lan, Singapo, Inđônêxia đã đợc xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản,
Hoa Kỳ, WB, ADB

kiện cho các nhà đầu t trong nớc tập trung đầu t vào các công trình sản xuất
kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận.
Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng
cho các nớc đang và chậm phát triển, nó còn có tác dụng làm tăng khả năng thu
hút vốn từ nguồn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu t phát triển trong nớc,
góp phần thực hiện thành công chiến lợc hớng ngoại.1
1

4.3. ODA giúp tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và
phát triển nguồn nhân lực
Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nớc nhận tài trợ là công
nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến. Các
nhà tài trợ còn u tiên đầu t cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tởng rằng
việc phát triển của một quốc gia quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn
nhân lực. Đây mới là những lợi ích căn bản, lâu dài đối với nớc nhận tài trợ.
Nhng những lợi ích này khó có thể lợng hoá đợc. Vì vậy, ở đây sẽ lấy hình thức
hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản để minh hoạ cho vai trò trên của ODA.
Hợp tác kỹ thuật là một bộ phận trong ODA của Nhật Bản và đợc Chính phủ
Nhật đặc biệt coi trọng. Hợp tác kỹ thuật bao gồm hàng loạt các hoạt động rộng
rãi từ việc xuất bản và cung cấp sách, tài liệu kỹ thuật bằng nhiều thứ tiếng. Các
chơng trình hợp tác kỹ thuật do Chính phủ Nhật Bản thực hiện đợc tiến hành d-
ới các hình thức: nhận ngời sang học tập ở Nhật Bản, gửi các chuyên gia Nhật
và cung cấp trang thiết bị, vật liệu, cử các nhân viên tình nguyện từ tổ chức
những ngời tình nguyện hợp tác hải ngoại Nhật Bản (JOCV). Cơ quan hợp tác
quốc tế Nhật Bản (Japan International Cooperation Agency JICA) đợc thành
lập tháng 8 năm 1974, là tổ chức duy nhất thực hiện các chơng trình hợp tác kỹ
thuật do Chính phủ Nhật Bản bảo trợ.

rong năm taì chính 1982, Châu á nhận đợc 59,5% tổng số chuyên gia Nhật,
Trung cận Đông 6,3%, Châu Phi 5,9% và các khu vực Mỹ La Tinh 19,7%.
Cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập cũng là một bộ phận của chơng trình hợp
tác kỹ thuật.
Nhật Bản bắt đầu sự hợp tác thông qua việc cung cấp thiết bị và vật liệu vào
năm tài chính 1964. Trong trờng hợp này, cung cấp thiết bị và vật liệu có nghĩa
là cung cấp những thiết bị và vật liệu với t cách là một bộ phận của chơng trình
hợp tác kỹ thuật. Nhng để phân biệt sự cung cấp đó với s cung cấp thiết bị và
vật liệu trong khuôn khổ viện trợ chung không hoàn lại, tạm gọi là cung cấp
thiết bị và vật liệu độc lập. Việc cung cấp này đợc kết hợp với việc Nhật Bản cử
chuyên gia và đào tạo kỹ thuật tại Nhật đã nâng cao hiệu quả của hợp tác kỹ
thuật. Trong thời gian từ 1964 đến 1987 đã có hơn 00 trờng hợp Nhật cung cấp
thiết bị và vật liệu độc lập với tổng trị giá khoảng 15,7 tỷ Yên.
Nhật Bản còn thực hiện hợp tác kỹ thuật theo thể loại từng dự án. Các chơng
trình hợp tác kỹ thuật do Chính phủ Nhật giao cho JICA thực hiện gồm 3 loại:
đào tạo kỹ thuật tại Nhật, cử chuyên gia Nhật sang các nớc, cung cấp thiết bị và 1
3

vật liệu. Các hình thức hợp tác kỹ thuật này có thể đợc thực hiện một cách độc
lập nhng thờng thì sự kết hợp giữa 3 thể loại này sẽ mang lại hiệu quả cao hơn
và đợc gọi là hợp tác kỹ thuật theo thể loại từng dự án. Mục tiêu của hợp tác kỹ
thuật theo thể loại từng dự án là chuyển giao công nghệ cho các kỹ s, kỹ thuật
viên, nhân viên y tế của các n ớc nhận viện trợ bằng cách cho họ tham gia vào
các dự án phát triển thuộc các lĩnh vực cụ thể nh nông nghiệp, lâm nghiệp, y
tế và các hoạt động nghiên cứu liên quan đến các lĩnh vực đó.
Qua phân tích hình thức hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản cho ta thấy một ví dụ
sinh động nêu bật vai trò của viện trợ phát triển chính thức trong việc giúp các

nhận viện trợ.
5. Những xu hớng mới của ODA trên thế giới
Một trong những yếu tố để thu hút đợc nhiều vốn ODA trong điều kiện có
sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nớc, đó là nắm bắt đợc xu thế vận động của
dòng vốn này. Trong thời đại ngày nay, vốn ODA có những xu thế vận động cơ
bản sau:
5.1. Ngày càng có thêm nhiều cam kết quan trọng trong quan hệ hỗ trợ phát
triển chính thức
Trong những năm 90 của thế kỷ trớc, tại các hội nghị cấp cao quốc tế, các nhà
tài trợ, các nớc nhận viện trợ đã có những cam kết có ý nghĩa hết sức to lớn:
Năm 1995, tại hội nghị cấp cao thế giới về phát triển xã hội, Chính phủ các nớc
đã tự nguyện cam kết thực hiện thoả thuận 2020. Các nớc viện trợ cam kết dành
20% chi tiêu công cộng cho các dịch vụ cơ bản.
Tháng 6 năm 1997 tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, các
nớc thành viên DAC khẳmg định cam kết dành 0,7% GNP cho viện trợ. Mặc dù
từ đó tới nay rất ít nớc đạt đợc mục tiêu này và đã có một số nớc giảm khối lợng
viện trợ trong những năm qua song các nớc vẫn tiếp tục khẳng định cam kết này
trừ Hoa Kỳ.
Năm 1996, DAC đã công bố một công trình có tiêu đề Kiến tạo thế kỷ XXI
cống hiến của hợp tác phát triển. Trong công trình này các nớc thành viên
DAC cam kết phấn đấu đạt một số mục tiêu cụ thể đã đợc nhất trí tại hội nghị
của Liên Hợp Quốc. Đó là:
Giảm một nửa tỷ lệ những ngời đang sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực vào
năm 2015.1
5

Phổ cập giáo dục tiểu học ở tất cả các nớc vào năm 2015.


1
6

Bảo vệ môi trờng
5.4. Nguồn vốn ODA tăng chậm
Năm 1969, DAC đã yêu cầu các nớc công nghiệp phát triển dành 0,7% GNP
của mình cho viện trợ. Nghị quyết của Hội nghị cấp cao các nớc thuộc DAC đ-
ợc tổ chức vào tháng 12 năm 1988 tiếp tục khẳng định: hàng năm các nớc công
nghiệp phát triển cần phải trích 0,7% GNP để cung cấp ODA. Liên Hợp Quốc
còn kêu gọi các nớc phát triển phấn đấu đạt tỷ lệ ODA/ GNP là 1% trong tơng
lai. Tuy nhiên, các nớc còn cách xa mục tiêu rất nhiều, Nhật Bản và Hoa Kỳ là
hai nhà tài trợ lớn nhất trên thế giới từ trớc tới nay cha bao giờ dành tới 0.35%
GNP cho ODA. Hơn nữa, gần đây nhiều số liệu còn cho thấy Mỹ còn có xu h-
ớng giảm cung cấp ODA cả về số tuyệt đối lẫn tơng đối. Đan Mạch, Na uy,
Thuỵ Điển, Hà Lan chỉ phấn đấu giữ vững tỷ lệ ODA/ GNP. Đức và Anh chỉ cố
gắng duy trì tỷ lệ ODA khiêm tốn từ nhiều năm qua. Năm 1997 Nhật bản cung
cấp một lợng ODA là 9,358 tỷ USD bằng 0,22% GNP, chiếm 19,4% tổng ODA
của các nớc DAC. Tiếp theo Pháp cung cấp gần 6,3 tỷ USD, Đức cung cấp
khoảng 5,8 tỷ USD. Còn Hoa Kỳ giảm cung cấp ODA chỉ còn ở mức gần bằng
1% GNP. Đây là một dấu hiệu không mấy khả quan về sự gia tăng viện trợ.
Nguồn vốn ODA từ các nớc không thuộc DAC dù có tăng lên cũng khó làm
thay đổi đợc tình hình chung. Viện trợ của Liên bang Nga cũng phải nhiều năm
nữa mới đạt đợc mức cao nh trớc đây. Viện trợ của Đài Loan, Hàn Quốc tuy có
tăng đôi chút nhng khối lợng ODA tuyệt đối đạt đợc không thể làm thay đổi
triển vọng về tốc độ gia tăng viện trợ.
Cung vốn ODA tăng chậm trớc hết là do các nguồn cung cấp ODA chủ yếu gặp
nhiều khó khăn. Trong những năm gần đây, các nớc OECD đang phải đấu tranh
để kiểm soát việc thâm hụt ngân sách và kiềm chế việc gia tăng trong việc chi
tiêu của Chính phủ. Mặc dù viện trợ cho nớc ngoài chỉ chiếm một phần rất nhỏ

2. Các phơng pháp tiếp cận chuẩn đói nghèo
2.1. Theo chuẩn đói nghèo quốc tế
Phơng pháp xác định chuẩn đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống
kê, Ngân hàng thế giới xác định và đợc thực hiện trong các cuộc khảo sát mức
sống dân c ở Việt Nam (năm 1992 1993 và năm 1997 1998).
Đờng đói nghèo ở mức thấp nhất gọi là đờng đói nghèo về lơng thực, thực
phẩm. Đờng đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đờng đói nghèo chung
(bao gồm cả mặt hàng lơng thực, thực phẩm và phi lơng thực, thực phẩm).1
8

Đờng đói nghèo về lơng thực, thực phẩm đợc theo chuẩn mà hầu hết các nớc
đang phát triển cũng nh Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng
mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con ngời, là chuẩn về nhu cầu
2100 Kcal/ngời/ngày. Những ngời có mức chi tiêu dới mức cần thiết để đạt đợc
lợng Kcal này gọi là nghèo về lơng thực, thực phẩm.
Đờng đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lơng thực,
thực phẩm. Tính cả chi phí này với đờng đói nghèo về lơng thực, thực phẩm ta
có đờng đói nghèo chung.
Năm 1993 đờng đói nghèo chung có mức chi tiêu là 1,16 triệu đồng/năm/ngời
(cao hơn đờng đói nghèo lơng thực, thực phẩm 55%), Năm 1998 1,79 triệu
đồng/năm/ngời (cao hơn đờng đói nghèo lơng thực, thực phẩm 39%). Dựa trên
các ngỡng nghèo này, tỷ lệ đói nghèo chung năm 1993 là 58% và 1998 là
37,4% còn tỷ lệ đói nghèo lơng thực, thực phẩm tơng ứng là 25% và 15%.
2.2. Theo chuẩn đói nghèo của chơng trình xoá đói giảm nghèo quốc gia
Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trởng kinh tế, nguồn lực tài chính 2001
2005 và mức sống thực tế của ngời dân từng vùng, Bộ Lao động, Thơng binh và
Xã hội Việt Nam đa ra chuẩn nghèo đói để đa ra danh sách những hộ, những xã

Do đó, xoá đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu của tăng trởng (cả trên
góc độ kinh tế và xã hội), đồng thời cũng là một điều kiện cho tăng trởng nhanh
và bền vững. Trên phơng diện nào đó, xét về ngắn hạn, khi phân phối một phần
đáng kể trong thu nhập xã hội cho chơng trình xoá đói giảm nghèo thì nguồn
lực dành cho tăng trởng kinh tế có thể bị ảnh hởng, song xét môt cách toàn diện
về dài hạn thì kết quả xoá đói giảm nghèo lại tạo tiền đề cho tăng trởng nhanh
và bền vững.
2. Tăng trởng kinh tế là cơ sở quan trọng để xoá đói giảm nghèo
Tăng trởng chất lợng cao là để giảm nhanh mức nghèo đói. Thực tiễn những
năm vừa qua đã chứng minh rằng, nhờ kinh tế tăng trởng cao Nhà nớc có sức
mạnh vật chất để triển khai các chơng trình hỗ trợ vật chất, tài chính và cho các
xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội cơ bản. Ngời nghèo và cộng
đồng nhờ đó có cơ hội vơn lên thoát nghèo. Tăng trởng kinh tế là điều kiện
quan trọng để xoá đói giảm nghèo trên quy mô rộng, không có tăng trởng mà
chỉ thực hiện các chơng trình tái phân phối hoặc các biện pháp giảm nghèo
truyền thống thì tác dụng không lớn.
Tăng trởng trên diện rộng với tốc độ cao và bền vững, trớc hết chuyển dịch cơ
cấu và đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề, tạo cơ hội 2
0

nhiều hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nhằm tạo ra nhiều việc
làm phi nông nghiệp, tăng thu nhập cho ngời nghèo.
Nh vậy, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững là một điều kiện hết sức quan
trọng để thực hiện xoá đói giảm nghèo trên diện rộng và ngợc lại thực hiện và
thực hiện thành công xoá đói giảm nghèo cũng là một tiền đề quan trọng, một
động lực để thực hiện thành công các mục tiêu tăng trởng kinh tế. Thực hiện tốt
cả hai mục tiêu chính là góp phần quan trọng để thực hiện thành công chiến lợc

thuỷ sản phát triển khá nhanh. Kinh tế nông thôn phát triển đa dạng hơn, nhiều
vùng sản xuất nông sản quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến đợc hình
thành, các làng nghề truyền thống đợc khôi phục và phát triển.
b) Về công nghiệp
Ngành công nghiệp phát triển với nhịp độ khá cao, góp phần quan trọng vào ổn
định kinh tế, xã hội và xoá đói giảm nghèo. Năng lực sản xuất nhiều sản phẩm
công nghiệp tăng khá, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc mà khả
năng xuất khẩu ngày càng tăng.
Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có bớc chuyển dịch đáng kể, hình thành một
số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều cơ sở
sản xuất có công nghệ hiện đại. Cùng với việc phát triển các khu công nghiệp
có quy mô lớn, Chính phủ cũng chú trọng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,
phát triển các cơ sở, làng nghề để thu hút thêm lao động và tăng thu nhập cho
ngời sản xuất.
c) Về dịch vụ
Các ngành dịch vụ tuy hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, nhng chất l-
ợng đã đợc nâng lên, đáp ứng nhu cầu tăng trởng kinh tế và phục vụ đời sống
dân c. Thị trờng trong nớc đã thông thoáng hơn với sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế.
Tổng giá trị dịch vụ tài chính, tín dụng năm 2000 gấp 3,2 lần so với năm 1990,
giáo dục đào tạo gấp 2,2 lần, y tế và các hoạt động cứu trợ xã hội gấp 1,7 lần.
Ngành giao thông vận tải trong điều kiện còn nhiều khó khăn, song đã đáp ứng
khá tốt về cơ sở hạ tầng cho yêu cầu phát triển kinh tế. Giá trị dịch vụ vận tải,
kho tàng, thông tin liên lạc tăng 1,8 lần. Nhiều tuyến giao thông huyết mạch đã 2
2

đợc đầu t nâng cấp bảo đảm giao thông và nhu cầu vận tải trong những năm


2
3

xuất kinh doanh bình đẳng. Thể chế kinh tế thị trờng hàng hoá, dịch vụ, thị tr-
ờng vốn, thị trờng lao động, thị trờng bất động sản, thị trờng khoa học - công
nghệ đang đợc hình thành và từng bớc đợc hoàn thiện, đã có tác dụng khuyến
khích dân c, doanh nghiệp trong nớc và nớc ngoài bỏ vốn đầu t phát triển sản
xuất.
1.4. Về chất lợng phát triển
Nền kinh tế Việt Nam phát triển cha vững chắc. Từ năm 1997 do tác động của
cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khu vực, nhịp độ tăng trởng kinh tế chậm
lại. Những năm gần đây tuy đã đạt đợc mức tăng trởng cao hơn (năm 2003 đạt
tốc độ 7,34%) song nền kinh tế Việt Nam còn phải trải qua những khó khăn to
lớn.
Chất lợng phát triển còn thấp, hiệu quả của nền kinh tế cha cao, sức cạnh tranh
thấp, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhiều ngành sản phẩm cha đủ sức
cạnh tranh. Trong nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm,
các phơng thức canh tác tiên tiến đợc đa vào nông thôn cha nhiều; lao động
thiếu việc làm và không có tay nghề còn cao, năng suất lao động còn thấp; khả
năng cạnh tranh hàng hoá còn cha cao, một số sản phẩm tiêu thụ còn khó khăn,
môi trờng xuống cấp, tài nguyên bị khai thác quá mức và cạn kiệt.
Sản xuất công nghiệp cha ổn định, hiệu quả cha cao. Một số ngành công nghiệp
còn nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp
trong nớc cha năng động, sức cạnh tranh kém, cha bám sát các nhu cầu thị tr-
ờng. Trình độ công nghệ, tình trạng máy móc, thiết bị lạc hậu chậm đổi mới
làm cho chi phí sản xuất cao; việc sắp xếp lại sản xuất, đổi mới doanh nghiệp
tiến hành chậm. Các ngành dịch vụ phát triển yếu, mạng lới thơng nghiệp và thị
trờng vùng nông thôn , miền núi, vùng sâu kém phát triển.
1.5. Tồn tại nhiều vấn đề xã hội bức xúc

mọi tầng lớp nhân dân để đa đất nớc thoát nghèo và bắt kịp sự phát triển của thế
giới.
2. Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam
Việt Nam vẫn là nớc nghèo trên thế giới và mỗi khu vực khác nhau trên đất nớc
tình trạng và tỷ lệ đói nghèo có những đặc điểm mang tính khác biệt. Có thể
tóm lợc một số đặc điểm cơ bản sau:
2.1. Việt Nam đợc xếp vào nhóm các nớc nghèo của thế giới
Tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam còn khá cao. Theo kết quả điều tra mức sống dân
c của Tổng cục Thống kế thì tỷ lệ đói nghèo chung theo chuẩn quốc tế của Việt 2
5

Trích đoạn Nguyên nhân của nghèo đói Khuôn khổ pháp lý của việc thu hút và sử dụng vốn ODA Các nhà tài trợ và mục tiêu u tiên ở Việt Nam Tình hình thu hút và sử dụng giai đoạn (1993 2003) – Hỗ trợ phát triển nông nghiệp và nông thôn tạo điều kiện xoá đói giảm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status