QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHƯƠNG
THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt
đối, trực tiếp về mọi mặt là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội, là
nhân tố hàng đầu quyết định bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của
quân đội ta.
Để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng với quân đội Đảng phải có phương
thức lãnh đạo phù hợp với đặc điểm, tính chất, chức năng của quân đội. Một
trong những bộ phận hợp thành quan trọng trong phương thức lãnh đạo của
Đảng là cơ chế lãnh đạo của Đảng với quân đội.
Trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang triển khai thực hiện nghị
quyết số 51/ NQ – TW về “ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng,
thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính
trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam” thì việc nghiên cứu làm rõ cơ sở
lý luận và thực tiễn của sự hình thành, phát triển phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với quân đội có ý nghĩa to lớn góp phần cung cấp những luận cứ
khoa học để làm rõ khái niệm, quá trình hình thành, phát triển cơ chế lãnh
đạo của Đảng với quân đội. Trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng những
bài giảng về Đảng lãnh đạo quân đội và công tác đảng, công tác chính trị
trong quân đội nhân dân Việt Nam.
I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT
NAM
1.1.
Việt Nam
Phương
thức
lãnh đạo của Đảng, đồng thời xuất phát từ cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa: Phương thức lãnh
đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng thể cách tổ chức, tiến hành,
thực hiện hoạt động lãnh đạo mà Đảng sử dụng để đưa nội dung lãnh đạo vào quân đội, nhằm thực hiện
nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; bảm đảm quân đội tuyệt đối trung thành
với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vững mạnh toàn diện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm tổng thể các yếu tố cấu thành như: các nguyên tắc, các
hình thức, phương pháp, biện pháp và cơ chế lãnh đạo mà Đảng vận dụng dể thực thi sự lãnh đạo đối với
quân đội. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là sự thống nhất giữa cái chung (phương thức
Đảng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị) và cái đặc thù (lãnh đạo tổ chức quân sự, hoạt động đấu
tranh vũ trang). Từ đó, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản vê phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Đảng trực tiếp tiến hành xác định đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
- Đảng lãnh đạo Nhà nước trong các hoạt động nhằm thể chế hoá các quan điểm, đường lối, chính
sách của Đảng về xây dựng quân đội thành hệ thống luật pháp...để thống nhất tổ chức thực hiện.
- Đảng xác định cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam
- Đảng trực tiếp lãnh đạo xây dựng các tổ chức trong quân đội .
- Đảng xác lập chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Đảng trực tiếp xác định các quan điểm, nguyên tắc và trực tiếp xây dựng giáo dục, rèn luyện đội
ngũ cán bộ của Đảng trong Quân đội.
- Đảng trực trực tiếp kiểm tra, kiểm soát, điều hành mọi hoạt động của quân đội.
- Đảng lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng trong quân đội .
- Đảng lãnh đạo bằng công tác tổ chức, thông qua hệ thống các tổ chức trong quân đội.
- Đảng lãnh đạo thông qua công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội
- Đảng lãnh đạo thực hiện phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong quân đội phù hợp với đặc thù
của hoạt động quân sự.
- Đảng lãnh đạo bằng đề cao tính Đảng và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng
công tác trong quân đội.
thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930-1945)
Trong thời kỳ này, nhiệm vụ chính trị trung tâm của Đảng là lãnh đạo
nhân dân lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và quân phiệt Nhật, xoá bỏ
chế độ quân chủ, chuyên chế phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước
ta. 15 năm lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), Đảng ta luôn
quan tâm đến việc học tập, tổng kết kinh nghiệm, xây dựng một phương
thức lãnh đạo đúng, có hiệu quả. Chính vì vậy, Đảng đã hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành chính quyền trong khi lực lượng
của Đảng mới xấp xỉ có 5000 đảng viên.
Ngay từ khi Đảng ra đời, trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng (Chính
cương sách lược vắn tắt) đã xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng là
chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày
đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Con đường để đạt mục tiêu đó, là
dùng sức mạnh của quần chúng được tổ chức lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng
đánh đổ đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền công nông. Do đó, phải
vũ trang cho quần chúng cách mạng. Tám tháng sau, tại Hội nghị Trung
ương lần thứ nhất (10/1930) Đảng đã khẳng định rõ hơn quan điểm về cách
mạng bạo lực giành chính quyền, bằng con đường khởi nghĩa vũ trang. Do
vậy, phải “ võ trang cho công nông” “lập quân đội công nông”, “ tổ chức
đội tự vệ của công nông”. Trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị quần
chúng rộng khắp, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt để
toàn dân nổi dậy khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Trong án nghị quyết của Hội nghị Trung ương (10/1930) về tình hình
hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng đã nêu rõ: “Mục đích
của Đảng là lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động. Vậy nên, ngay từ bay
giờ Đảng phải tổ chức Bộ quân sự của Đảng để:
1. Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện.
2. Giúp đỡ cho công nông hội tổ chức tự vệ.
của đội là:
- Không phản Đảng.
- Tuyệt đối trung thành với Đảng.
- Kiên quyết đấu tranh trả thù cho đồng chí bị hy sinh.
- Không hàng giặc.
- Không hại dân ” [ 2;28].
Ngày 15/9/1941 thành lập Trung đội Cứu quốc quân II tại rừng Khuôn Mánh, xã Tràng Xá,
huyện Vũ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Ngay từ đầu Đảng đã quan tâm đến công tác chính trị, tư tưởng của
Đảng để đưa đường lối của Đảng thấm sâu vào từng cán bộ, chiến sỹ, trên cơ sở đó xây dựng ý chí,
quyết tâm phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của đội.
Ngày 12/10/1941 thành lập đội du kích Cao Bằng, Bác Hồ đã trực tiếp
tham gia sinh hoạt với đội và Người trực tiếp biên soạn các nguyên tắc, tài
liệu học tập, hoạt động của đội.
Ngày 25/2/1944 thành lập Trung đội cứu quốc quân III tại khu rừng
Khuổi Kịch, Châu Sơn Dương, Tuyên Quang.
Các đội cứu quốc quân, du kích được thành lập đều do chi bộ các địa
phương trực tiếp lãnh đạo. Hoạt động của các đội là tuyên truyền, vận động
quần chúng, xây dựng phong trào là chính. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua
thực tiễn đấu tranh các đội cứu quốc quân ngày càng phát triển, lớn mạnh
không ngừng, là lực lượng trung kiên, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ
quốc, nhân dân, bước đầu hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa
giành chính quyền, ngày 22/12/1944, Đảng quyết định thành lập đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân tại chiến khu Việt Bắc với nhiệm vụ
trọng đại: “ Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến,
Vận dụng vũ trang tuyên truyền để kêu gọi nhân dân đứng dậy, chuẩn bị cơ
sở chính trị, quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này ”... [ 47; 36-37]. Trong
Đây là thời kỳ lịch sử hết sức phong phú, sôi động, có nhiều thuận lợi,
nhưng cũng không ít khó khăn đối với cách mạng Việt Nam, với Quân đội
nhân dân Việt Nam.
Cách mạng Tháng Tám thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà ra đời, nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước;
Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành Đảng cầm
quyền lãnh đạo chính quyền trong cả nước. Ngay lập tức kẻ thù đủ loại tìm
cách chống phá muốn tiêu diệt chính quyền cách mạng non trẻ mới được
thành lập, dập tắt phong trào cách mạng của quần chúng, trong khi đó tình
hình kinh tế-xã hội của đất nước đang gặp nhiều khó khăn. Tình thế đất nước
“như ngàn cân treo sợi tóc”.
Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vững vàng chèo
lái, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh giữ vững thành quả cách mạng, chuẩn bị cho
kháng chiến lâu dài.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 9/1945 Chủ tịch Hồ
Chí Minh chỉ thị chấn chỉnh, mở rộng Giải phóng quân Việt Nam và đổi tên
là Vệ quốc đoàn. Từ đây Giải phóng quân Việt Nam trở thành quân đội của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với tên gọi là Vệ quốc đoàn. Tháng
11/1945 Trung ương Đảng chỉ thị lập Quân uỷ Trung ương, lập các quân
khu, liên chi, chi bộ và điều số đông cán bộ đảng viên từ huyện uỷ trở lên
vào làm chính trị viên, chính uỷ trong quân đội. Để Đảng trực tiếp lãnh đạo
quân đội, tháng 1/1946 thành lập Trung ương Quân uỷ, là cơ quan lãnh đạo
cao nhất của Đảng trong quân đội, sau đó thành lập các cấp uỷ Đảng từ
Quân khu đến chi bộ.
Tháng 5/1946 Vệ quốc quân, chính thức trở thành quân đội quốc gia
của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, biên chế thống nhất theo từng trung
đoàn, tiểu đoàn, đại đội.
chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (19541975)
Để bảo đảm cho quân đội có đủ sức mạnh hoàn thành mọi nhiệm vụ
từ năm 1954 đến 1975, Đảng đã thực hiện nhất quán cơ chế Đảng uỷ lãnh
đạo, thủ trưởng quân, chính phân công tổ chức thực hiện. Cơ chế này bảo
đảm Đảng nắm chắc quân đội, tăng cường, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối
với quân đội, góp phần xây dựng quân đội lớn mạnh trưởng thành cùng với
toàn dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước, bảo vệ, xây dựng
chủ nghĩa xã hội miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975.
1.2.4. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội thời kỳ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ 30/4/1975 đến nay
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 30/4/1975
cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới: đất nước thống nhất, cả nước đi
lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Trong điều kiện lịch sử mới, nội dung lãnh đạo của Đảng đã phát triển
toàn diện và ngày càng sâu sắc. Vì vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng cần
phải có sự phát triển mới nhằm đảm bảo giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với toàn xã hội.
Giai đoạn từ năm 1975 đến 12/1982: Quân đội ta vẫn giữ nguyên cơ
chế Đảng lãnh đạo quân đội như trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và chống đế quốc Mỹ (1952-1975). Đó là chế độ "tập thể cấp ủy lãnh
đạo, thủ trưởng quân chính phân công tổ chức thực hiện".
Từ năm 1982 đến 7/1985: Một vấn đề rất quan trọng trong phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là cơ chế lãnh đạo đã có sự thay
đổi lớn. Thể theo đề nghị của Đảng ủy Quân sự Trung ương, ngày 15-121982, Bộ Chính trị (Khóa V) đã ban hành Nghị quyết số 07/NQ-TW "Về
việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân
dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng", cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với
quân đội đã được củng cố một bước quan trọng. Cơ chế này là sự "tiếp tục
kiện toàn" bằng việc sửa đổi, uốn nắn một số nội dung không phù hợp trong
Nghị quyết số 07/NQ-TW, đã khôi phục hệ thống tổ chức đảng trong quân
đội từ Đảng ủy Quân sự Trung ương đến tổ chức cơ sở đảng; vai trò lãnh đạo
về mọi mặt của Đảng, nguyên tắc tổ chức, lãnh đạo và sinh hoạt đảng được
xác lập lại và phát triển lên một bước mới; hệ thống cơ quan chính trị từ cấp
trung đoàn trở lên được kiện toàn, hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị
được phát huy, trả về đúng bản chất "hoạt động lãnh đạo của Đảng"; mối
quan hệ giữa lãnh đạo và chỉ huy được giải quyết tương đối tốt. Cơ chế này
cùng với phương thức lãnh đạo theo nó đã đảm bảo cho Đảng lãnh đạo chặt
chẽ quân đội hơn và quân đội từng bước được củng cố, xây dựng vững
mạnh, luôn trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của
Đảng đối với quân đội vẫn còn nhiều vấn đề chưa triệt để. Trong đó, chậm
khôi phục trở lại chế độ chính uỷ, chính trị viên đang là một vấn đề tồn tại,
làm hạn ché không ít đến việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
quân đội và nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong điều
kiện cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc đang diễn ra ngày càng quyết
liệt, phức tạp. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận, các yếu tố trong hệ
thống lãnh đạo chỉ huy còn nhiều vấn đề bất cập. Trên thực tế,cơ cấu cấp uỷ
các cấp trong Đảng bộ Quân đội (từ cơ sở đến Quân uỷ Trung ương) chưa
thật hợp lý. Đội ngũ cán bộ chính trị tham gia cấp uỷ ở các cấp chiếm tỷ lệ
thấp. Trong lúc cán bộ chính trị là người được đào tạo chuyên ngành, chuyên
sâu về công tác đảng, công tác chính trị, được xác định là người chủ trì và
“tổ chức thiết kế thi công” công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội.
Hiện nay, cơ cấu tham gia cấp uỷ như sau: Trong Đảng uỷ Quân sự
Trung ương, cán bộ chính trị: 28,5 % trong lúc cán bộ quân sự: 71,5 %.
vai trò công tác đảng, công tác chính trị, hạ thấp vai trò người chủ trì tiến
hành hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, vai trò của cán bộ chính
trị.
Mặt khác, từ trước đến nay, Đảng mới chỉ đặt vấn đề đổi mới, hoàn
thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đến việc cải tiến phương
pháp lãnh đạo, phong cách của cán bộ, đảng viên mà chưa đặt vấn đề rộng
hơn về đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội
một cách hệ thống, chưa tiến hành tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận rút
ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc về phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với quân đội trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sự lãnh đạo của Đảng
đối với quân đội chưa được đầu tư cơ bản, đúng mức và có hiệu quả. Chưa
xác định một cách rõ ràng, cụ thể phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân
đội trên các lĩnh vực, các nhiệm vụ, các loại hình tổ chức và hoạt động.
Điều kiện, phương tiện kỹ thuật phục vụ lãnh đạo và tiến hành công
tác đảng, công tác chính trị còn bị lạc hậu, thiếu đồng bộ, lại chậm đổi mới,
thiếu quan tâm đúng mức đến việc đầu tư trang bị kỹ thuật mới nên ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
Trên thực tế có biểu hiện chưa nhận thức đúng phương thức lãnh đạo
là một trong những nội dung cốt yếu để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với quân đội. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
và yêu cầu cơ bản, cấp bách của nhiệm vụ xây dựng quân đội hiện nay, đòi hỏi
phải tiếp tục hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
1.3. Những vấn đề có tính quy luật của quá trình hình thành, phát triển
và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội
Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện phương thức
Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và lãnh đạo; là quân đội của nhân dân, mang
bản chất của giai cấp công nhân, có tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc, là
lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng và Nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Trong suốt quá trình lịch sử từ ngày thành lập đến nay, quân đội luôn
là lực lượng quán triệt sâu sắc thực hiện nghiêm túc, vô điều kiện và sáng
tạo nội dung lãnh đạo của Đảng. Nhờ đó quân đội đã hoàn thành xuất sắc
mọi nhiệm vụ, lập nên những chiến công vĩ đại, xứng đáng với sự tin cậy
của Đảng và nhân dân. Từ vai trò, vị trí, nhiệm vụ, chức năng của quân đội
với sự nghiệp cách mạng Đảng ta không ngừng phát triển và hoàn thiện
phương thức lãnh đạo của mình đối với quân đội. Sự phát triển và hoàn thiện
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội cũng tuân theo tính quy
luật nói trên. Hơn nữa quân đội hoạt động trong một lĩnh vực đặc thù - lĩnh
vực đấu tranh vũ trang với những thử thách khắc nghiệt và diễn biến hết sức
nhanh chóng, phức tạp. Sức mạnh chiến đấu và khả năng hoàn thành nhiệm
vụ của quân đội liên quan trực tiếp đến vận mệnh của Tổ quốc và chế độ. Do
đó tính quy luật này càng phải được nhận thức và hành động với yêu cầu rất
cao và rất nghiêm ngặt.
Có thể lấy cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) làm thí
dụ để minh họa cho tính quy luật này.
Để có thể đánh thắng đế quốc Mỹ, thực hiện trọn vẹn mục tiêu độc lập
dân tộc và thống nhất Tổ quốc Đảng ta đã chủ trương tiến hành cuộc chiến
tranh nhân dân Việt Nam chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của tên đế
quốc đầu sỏ. Đường lối chiến tranh nhân dân trong trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước là sự kết hợp và vận dụng đúng đắn, sáng tạo học thuyết
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh và quân đội với truyền
thống quân sự của dân tộc ta. Đường lối đó ngày càng được phát triển và
hoàn chỉnh trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến tranh của Đảng.
Chính vì vậy chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển lên một tầm cao
Đặc biệt với Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, khóa IX về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" tư duy về
bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta có một bước trưởng thành rất quan trọng. Trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước những diễn biến hết sức phức
tạp của tình hình thế giới, sự chống phá quyết liệt, thâm độc và xảo quyệt
của các thế lực thù địch, quân đội phải luôn trở thành lực lượng chính trị
trung thành, tin cậy, chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân,
hoàn thành xuất sắc các chức năng, nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Tình hình
mới đòi Đảng phải tiếp tục hoàn thiện phương thức lãnh đạo của mình với
quân đội mà tính quy luật của quá trình đó như đã trình bày: phải xuất phát
từ sự phát triển của đường lối và thực tiễn vận động, phát triển của tình hình,
nhiệm vụ cách mạng.
1.3.2. Sự hình thành, phát triển phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với quân đội phải đáp ứng và phù hợp với sự phát triển của cơ cấu tổ chức
trong quân đội với từng loại hình và hoạt động của quân đội
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, là quân đội của dân, do dân, vì dân, từ
nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Quân đội là công cụ bạo
lực sắc bén của Nhà nước xã hội chủ nghĩa để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc
gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, trong mỗi thời kỳ, giai đoạn
cách mạng, quân đội được xây dựng tổ chức, biên chế, trang bị, nhiệm vụ và
phương thức hoạt động khác nhau, Do đó phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với quân đội luôn thay đổi cho phù hợp.
Từ các đội tự vệ ra đời trong cao trào cách mạng 1930-1931, đó là
những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, đến
những năm cao trào kháng Nhật, cứu nước, chuẩn bị đấu tranh giành chính
quyền các đội Cứu quốc quân I, II và III lần lượt ra đời; sau đó phát triển
phương thức đấu tranh vũ trang bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng địch trong điều
kiện chiến tranh mà kẻ địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.
Trong mỗi giai đoạn cách mang cụ thể, xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, việc xây dựng, tổ chức,
biên chế, trang bị của quân đội có sự khác nhau. Theo đó, phương thức lãnh đạo của Đảng với quân đội
cũng có sự khác nhau. Trong quân đội, mỗi quân, binh, chủng, mỗi loại hình tổ chức của quân đội khác
nhau thì phương thức lãnh đạo của Đảng cũng có sự khác nhau. Có như vậy, Đảng mới luôn nắm chắc quân
đội, tăng cường, giữ vững sư lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội luôn trung thành tuyệt
đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
1.3.3. Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với quân đội thống nhất hữu cơ với quá trình phát triển, hoàn
thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội
Cơ chế lãnh đạo là một bộ phận cấu thành phương thức lãnh đạo của Đảng. Song nó có vai trò đặc
biệt quan trọng vì một cơ chế đúng đắn, phù hợp sẽ đảm bảo và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Trái lại
một cơ chế không phù hợp sẽ làm hạn chế, thậm chí làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng. Sự hình thành, phát
triển cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội là tất yếu khách quan. Cơ chế lãnh đạo bị quy định bởi nhiệm vụ chính
trị của Đảng, của quân đội, phù hợp với sự phát triển của hệ thống tổ chức quân đội. Mặt khác, cơ chế do
con người định ra, quy định các yếu tố, sắp xếp, phối hợp các hoạt động theo một trình tự nhất định nhằm
đạt mục đích chung. Cơ chế lãnh đạo không chỉ là nơi mang nội dung lãnh đạo mà còn là công cụ, phương
tiện thực hiện sự lãnh đạo, biểu hiện tập trung của phương thức lãnh đạo. Do vậy sự hình thành, phát triển
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong sự phụ thuộc, quy định lẫn nhau với quá trình phát
triển, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
Cùng với lịch sử xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội hơn nửa thế kỷ qua, cơ chế lãnh
đạo của Đảng đối với quân đội đã trải qua khảo nghiệm với những chế độ khác nhau như đã trình bày và
phân tích ở tiết 1.2 của chương này.
Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta đã khẳng định cơ chế tập thể
Đảng ủy lãnh đạo, thủ trưởng quân sự, chính trị phân công phụ trách, trong đó thực hiện chế độ chính ủy,
chính trị viên là cơ chế thích hợp hơn cả. Đặc biệt qua thực tiễn của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chính trị so với trước đây thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng xây
dựng quân đội về chính trị.
Trước đây thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên ở mọi cấp, mỗi đơn vị đều có hai cán bộ chính
trị, trưởng và phó nên đội ngũ cán bộ chính trị có sự phân công chuyên sâu, được trải nghiệm tuần tự, tích
lũy được kinh nghiệm và có tính kế tiếp vững chắc. Theo cơ chế 27 hiện nay mỗi cấp chỉ có một phó chỉ
huy chính trị, vì vậy đội ngũ cán bộ giảm mạnh về số lượng, thiếu tính kế tiếp liên tục vững chắc. Đặc biệt,
ở cấp chiến dịch, chiến lược thì sự hụt hẫng nguồn kế tiếp. Tình hình trên đã làm giảm hiệu lực công tác
đảng, công tác chính trị trong quân đội, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng xây dựng quân đội về
chính trị. Nhận thức được điều đó từ năm 2000 đến nay, Đảng ủy Quân sự Trung ương đã chủ trương xếp
hai cán bộ chính trị ở cấp đại đội và tiểu đoàn đủ quân. Tuy nhiên cả hai đều là cấp phó nên việc thực hiện
chức trách trong thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó từ cấp trung đoàn trở lên vẫn chỉ có một phó
chỉ huy về chính trị nên những hạn chế của chức danh phó chỉ huy về chính trị trong cơ chế 27 vẫn chưa
được khắc phục.
Sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ cách mạng trong những năm đầu của thế kỷ XXI đang đặt ra
yêu cầu ngày càng cao với việc tiếp tục hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, trong
đó cần phải khôi phục chế độ chính ủy, chính trị viên trong cơ chế lãnh đạo của Đảng. Vấn đề này chúng tôi
sẽ phân tích kỹ hơn ở chương 3.
1.3.4. Sự hình thành, phát triển phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với quân đội quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của các tổ chức đảng, cơ
quan chính trị và sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ chính trị các cấp
Đảng lãnh đạo quân đội trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt là nguyên tắc,
nhưng phải được bảo đảm bằng một cơ chế tổ chức lãnh đạo cụ thể thông
qua hệ thống tổ chức đảng, tổ chức cơ quan chính trị và cán bộ chính trị
trong quân đội (từ Trung ương Quân uỷ xuống chi bộ cơ sở).
Lịch sử xây dựng và trưởng thành của quân đội đồng thời là lịch sử xây dựng, phát triển hệ
thống tổ chức đảng trong toàn quân. Từ các tổ chức đảng đầu tiên trong lực lượng vũ trang như chi bộ
Đảng trong các đội tự vệ, đội du kích, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, các khu uỷ trong các