Lời mở đầu
Đại học Kinh tế Quốc dân đã có lịch sử phát triển 46 năm. Vào đầu
những năm 70 Đại học Kinh tế Quốc dân đã đợc Bộ Đại học và Trung học
chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) xác định là một trong sáu trờng
trọng điểm quốc gia. Trong đề án Quy hoạch mạng lới trờng đại học, cao đẳng
giai đoạn 2001-2002 đã đợc Thủ tớng chính phủ chính thức phê duyệt tại quyết
định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2001 cùng xác định 10 trờng
trọng điểm quốc gia trong đó có Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tuy vậy, các văn bản trên đây cũng mới chỉ xác định vị trí các trờng
trọng điểm quốc gia mà cha quy định cụ thể các tiêu chí đánh giá trờng đủ tiêu
chuẩn là trờng trọng điểm quốc gia làm cơ sở để các trờng xây dựng cơ cấu tổ
chức và xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên nhà trờng, xây dựng
điều lệ tổ chức và quản lý nhà trờng... Trong bối cảnh đó, Đại học Kinh tế Quốc
dân đã nghiên cứu và xây dựng bớc đầu Đề án xây dựng và phát triển nhà tr-
ờng Đại học Kinh tế Quốc dân thành trờng trọng điểm quốc gia đến năm 2010,
Chiến lợc phát triển trung hạn Đại học Kinh tế Quốc dân đến năm 2005...
Tuy vậy, các kết quả nghiên cứu này cũng chỉ phục vụ việc xây dựng dự án vay
vốn phát triển nhà trờng trong khuôn khổ dự án Đại học do Ngân hàng thế giới
tài trợ. Việc áp dụng đề án này vào thực tế hoạt động của nhà trờng đòi hỏi phải
có các nghiên cứu sâu về các mặt hoạt động cơ bản của nhà trờng nh: công tác
đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học và t vấn, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và
công tác cán bộ...
Trên thế giới hầu nh cha có nớc nào xác định và xây dựng trong thực tế
các trờng trọng điểm quốc gia. Quan niệm về trờng trọng điểm quốc gia đang
sử dụng ở nớc ta hiện nay có phần đồng nghĩa với mô hình trờng tổng hợp của
các nớc, trong đó mô hình nhà trờng 3 hoặc 4 cấp quản lý, cơ cấu tổ chức nhà
trờng đợc xây dựng trên cơ sở phát triển đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực. Xét theo
các đặc điểm trình bày ở trên thì nớc ta hiện nay chỉ có 2 trờng đại học quốc gia
1
(ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) là về cơ bản theo mô hình cơ cấu của tr-
I. Trờng trọng điểm quốc gia và các yêu cầu cơ bản đối với cơ cấu tổ chức
và công tác cán bộ.
I.1.1. Trờng trọng điểm quốc gia, phân biệt trờng trọng điểm quốc gia với các
trờng khác.
Sự hình thành hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có hệ thống các tr-
ờng đại học Việt Nam là do nhu cầu đào tạo, bồi dỡng nguồn nhân lực có trình
độ cao cho đất nớc. Ngay từ đại hội VII, nhất là sau Đại hội VIII của Đảng
cộng sản Việt Nam và Luật giáo dục đợc Quốc hội nớc ta thông qua thì vấn đề
xã hội hoá giáo dục có bớc phát triển mạnh mẽ. Xã hội hóa giáo dục là một
trong những nguyên nhân dẫn đến sự phân hoá về chất lợng điều kiện dạy và
học trong hệ thống giáo dục đại học. Nhận thức một hệ thống cấp chất lợng cao:
cao, khá và đạt yêu cầu của các trờng trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam
hiện nay và trong tơng lai là yêu cầu thực tế khách quan. Mặt khác, nguồn vốn
ngân sách đầu t trong giáo dục và đào tạo là giải pháp có tính khả thi, cần thiết
và mang lại hiệu quả. Hơn nữa sức ép về hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập
về giáo dục đòi hỏi phải sớm có một số cơ sở đại học và trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế (Nghị quyết 2 TW khóa VIII). Từ đó
Đảng và Nhà nớc chủ trơng đầu t xây dựng một số trờng trọng điểm quốc gia
phấn đấu đạt tiêu chuẩn quốc tế bao gồm: 2 đại học quốc gia và 10 trờng đại
học lớn khác trong đó có trờng Đại học Kinh tế Quốc dân (quy hoạch hệ thống
mạng lới các trờng đại học và cao đẳng Việt Nam giai đoạn đến 2020 - Bộ Giáo
dục và Đào tạo 8/19990).
Từ việc nghiên cứu các văn bản hiện hành của Đảng và Nhà nớc, có thể
quan niệm rằng: Trờng đại học trọng điểm quốc gia là trờng có vị trí trọng yếu
trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đợc Nhà nớc u tiên đầu t và tạo mọi
điều kiện xây dựng để trở thành trờng đầu ngành, có quy mô lớn, có chất lợng
đào tạo rất cao, có khả năng nghiên cứu khoa học và thực hiện mọi nhiệm vụ
3
kinh tế, chính trị, xã hội và đợc Đảng và Nhà nớc giao cho là trờng phát triển đa
4
+ Là địa chỉ đào tạo có uy tín, đáng tin cậy của ngời học cũng nh ngời sử
dụng lao động. Sự tin cậy này dựa trên chất lợng đào tạo và khả năng đáp ứng
các yêu cầu khắt khe của ngời sử dụng lao động. Đồng thời, là nơi có uy tín cao
đối với các trờng cùng chuyên ngành đào tạo.
+ Có đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học đông đảo có trình
độ cao chiếm tỷ trọng cao trên tổng số cán bộ giảng dạy, có khả năng đáp ứng
tốt nhất mọi nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học của chuyên ngành.
+ Chủ trì biên soạn khung chơng trình, biên soạn bài giảng, giáo trình
chuẩn quốc gia để làm cơ sở cho việc biên soạn bài giảng của các trờng cùng
ngành khác hoặc là các tài liệu tham khảo có độ tin cậy cao, có giá trị khoa học
và thực tiễn.
+ Là trờng có đủ cơ sở vật chất cần thiết để đáp ứng mọi yêu cầu về học
tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học vào thực tiễn.
+ Là nơi tiên phong trong việc sáng tạo kiến thức khoa học chuyên ngành
và ứng dụng khoa học vào giảng dạy, học tập.
* Đợc Nhà nớc quan tâm đầu t về mọi mặt, từ việc xây dựng hệ thống
giảng đờng, nhà làm việc, ký túc xá sinh viên, trang thiết bị dạy và học; đến đầu
t xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ quốc gia và quốc tế, có đủ khả
năng giảng dạy kiến thức hiện đại nhất hiện nay. Sự quan tâm của nhà nớc đợc
cụ thể hóa thông qua nguồn kinh phí thờng xuyên và không thờng xuyên.
* Quy mô đào tạo phải tơng xứng với vị thế và trách nhiệm của trờng,
chất lợng đào tạo phải đạt chuẩn quốc gia và từng bớc tiếp cận với chuẩn quốc
tế.
Theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo, quy mô đào tạo của trờng
trọng điểm quốc gia khoảng 50.000 sinh viên quy đổi bao gồm các hệ, các cấp
trình độ từ cử nhân đến thạc sỹ.
* Mô hình tổ chức bộ máy của nhà trờng phải hợp lý đủ sức đáp ứng các
yêu cầu, nhiệm vụ và trọng trách mà Đảng và Nhà nớc giao cho. Mô hình này
phải tiên tiến, tiếp cận với mô hình tổ chức bộ máy của các trờng lớn và nổi
cấu tổ chức hợp lý hơn và công tác cán bộ liên quan đến cụ thể của quá trình
đổi mới. Nếu chỉ quan tâm đến xây dựng cơ sở vật chất mà xem nhẹ hoặc chậm
chạp trong việc đổi mới cơ chế quản lý và công tác cán bộ thì cũng không thể
6
xây dựng thành công trờng trọng điểm quốc gia theo yêu cầu của Đảng và Nhà
nớc.
I.1.3. Những yêu cầu cơ bản đối với cơ cấu tổ chức bộ máy của trờng
trọng điểm quốc gia.
Xây dựng trờng trọng điểm quốc gia là quá trình chuyển biến trờng đại
học cả về chất và về lợng.
Trớc hết, quá trình chuyển biến về chất là yêu cầu quan trọng bậc nhất
đối với một trờng đợc xác định là trọng điểm quốc gia. Chuyển biến về chất là
quá trình đầu t phấn đấu nhằm nâng dần chất lợng mọi mặt của nhà trờng, từ
chất lợng đội ngũ đến chơng trình, giáo trình, phơng pháp giảng dạy hoặc các
điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy mà tựu chung là chất lợng cao
của sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh đợc hởng thụ quá trình đào tạo.
Tiếp theo, chuyển biến về lợng quá trình mở rộng quy mô đào tạo nhằm
tăng thêm vị thế của nhà trờng với xã hội. Tăng về quy mô đào tạo đòi hỏi nhà
trờng phải tăng đội ngũ cũng nh những điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho đào
tạo và nghiên cứu khoa học.
Sự chuyển biến về chất và về lợng trong nhà trờng đã ảnh hởng rất lớn
đến công tác quản lý và tổ chức bộ máy của nhà trờng. Chính vì vậy đó là
nguyên nhân phát sinh những thay đổi trong cơ cấu tổ chức bộ máy trờng trọng
điểm quốc gia so với các trờng đại học khác. Sau đây là một số yêu cầu cơ bản
đối với cơ cấu tổ chức bộ máy trờng trọng điểm quốc gia:
* Giảm bớt mối quan hệ trực tuyến giữa lãnh đạo nhà trờng với các đơn
vị cơ sở. Xây dựng quan hệ thông suốt tạo thuận lợi cho sự chỉ đạo của cấp trên
và cấp dới, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận liên quan.
* Tăng cờng phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các
động theo hệ thống ngành dọc từ cấp trên đối với các đơn vị tổ chức thành viện
dựa trên cơ sở chế độ chính sách Nhà nớc quy định và các quy định, nội quy
của Nhà trờng.
Thứ ba, quan hệ phối hợp thực hiện nhiệm vụ của nhà trờng.
Mối quan hệ phổ biến trong trờng là quan hệ phối, kết hợp giữa các đơn
vị vì mục đích và công việc chung của nhà trờng. Thông qua các quy định về
chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong trờng hình thành mối quan hệ phối,
8
kết hợp trong công tác. Quan hệ này thờng đợc trực tiếp chỉ đạo của lãnh đạo
nhà trờng hoặc hình thành một hoặc một số đơn vị có trách nhiệm chủ trì.
Cụ thể, các quan hệ này đợc thực hiện thông qua 3 mô hình các trờng
hiện có ở nớc ta hiện nay.
Mô hình 1: Đại học (Quốc gia hoặc vùng)- Trờng Đại học- Khoa- Bộ
môn.
Mô hình 2: Đại học Trờng Đại học- Khoa (Bộ môn).
Mô hình 3: Trờng Đại học Khoa Bộ môn.
(Tham khảo quy hoạch hệ thống mạng lới các trờng đại học và cao đẳng Việt
Nam giai đoạn đến 2020 Bộ Giáo dục và Đào tạo).
I.2.2. Phân cấp quản lý ở một trờng trọng điểm quốc gia.
Hiện nay, vấn đề phân cấp là vấn đề còn nhiều tranh luận, cha đi đến
thống nhất. Đặc biệt cha có văn bản nào quy định việc phân cấp của một trờng
trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên có thể tham khảo một số ý kiến:
- Phân cấp quản lý về việc tạo công ăn việc làm: Vấn đề cần xem xét ở
đây là liệu một trờng trọng điểm quốc gia có đợc tạo công ăn việc làm cho các
đơn vị con của mình nh các khoa, trung tâm viện không? Liệu các khoa và
trung tâm có đợc tự mình đứng ra tổ chức tuyển sinh không?
Nếu các khoa và trung tâm đợc tự mình tuyển sinh, có thể có một số
điểm:
Thuận lợi: Giảm đầu mối quản lý, giảm công việc cho lãnh đạo cấp trên,
+ Mô hình cơ cấu tổ chức đợc xây dựng trên cơ sở quy mô tính chất, đặc
điểm hoạt động của tổ chức và quy định của cấp có thẩm quyền.
+ Mô hình cơ cấu tổ chức đợc hình thành dựa trên cơ sở mối quan hệ bền
vững theo chức năng, nhiệm vụ của một tổ chức. Mối quan hệ này về danh
nghĩa là quan hệ giữa tập thể và tập thể nhng lại đợc thực hiện giữa cá nhân với
cá nhân.
+ Mô hình cơ câú tổ chức có thể là một hệ thống các quan hệ 2 cấp, 3 cấp
hoặc nhiều cấp hơn nữa tuỳ theo quy mô, tính chất phức tạp của tổ chức. Các
cấp này thể hiện mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dới (quan hệ dọc), quan hệ
chỉ đạo và lãnh đạo của các cấp cùng tuyến.
10
+ Quan hệ trong mô hình cơ cấu tổ chức đợc quy định thành các văn bản
mang tính chất pháp lý có giá trị điều chỉnh chung rằng buộc mọi cá nhân trong
một tổ chức.
+ Mô hình cơ cấu tổ chức có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động
của một tổ chức thông qua hiệu lực và hiệu quả điều hành của bản thân cơ cấu
tổ chức.
Riêng đối với mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy của trờng trọng điểm quốc
gia ngoài những đặc điểm trên đây còn có một số khác biệt sau đây:
- Mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy ít nhất là 3 cấp trở lên (gồm các trờng,
khoa, bộ môn).
- Có sự phân cấp mạnh mẽ trong hệ thống quan hệ dọc do quy mô của trờng
là lớn hoặc rất lớn nên quản lý tập trung sẽ không hiệu quả.
Trờng trọng điểm có sứ mệnh là trờng đầu ngành phải đợc xây dựng theo mô
hình mới tơng xứng, phù hợp với vị thế và quy mô của nó. Cần nhận thức mô
hình trờng trọng điểm không hợp lý sẽ là một lực cản mạnh đến sự phát triển
của bản thân nhà trờng và sẽ ảnh hởng đến sự phát triển của các trờng đại học.
Ngợc lại, mô hình tổ chức bộ máy với cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo điều kiện
cho các trờng đại học phát triển dựa trên cơ sở phân công, phân cấp, sử dụng
trình hình thành của các trờng này là quá trình phát triển đa ngành nhằm đáp
ứng mọi nhu cầu khác nhau của xã hội, đa ngành, đa lĩnh vực còn thể hiện sự
mềm dẻo, linh hoạt trong đào tạo khi nhu cầu thay đổi. Trong quá trình phát
triển một số ngành, lĩnh vực phát triển lên thành thế mạnh của từng trờng, thậm
chí có những ngành không phát triển đợc.
3. Mô hình tổ chức của các trờng có thể là 3 cấp hoặc 4 cấp, trong đó họ
đề cao vai trò của khoa, nơi đào tạo các chuyên ngành theo yêu cầu của xã
hội và cấp bộ môn, trực tiếp thực hiện giảng dạy.
ở Mỹ, dới cấp trờng đại học (University) là cấp trờng (College nhng
không gọi là trờng đại học) hoặc khoa (Faculty), dới cấp College hoặc
Faculty là bộ môn (Department).
ở Anh, dới cấp trờng đại học (University) là các trờng (School), hoặc
học viện (institute), hoặc khoa (Faculty). Dới cấp School (hoặc institute,
hoặc Faculty) là bộ môn (Department).
12
ở úc, dới cấp trờng đại học (University) là khoa (Faculty) và dới cấp
khoa là bộ môn (Department).
ở Việt Nam, (trờng đại học Quốc gia) dới cấp trờng đại học là trờng con,
dới cấp trờng là khoa và dới khoa là bộ môn. Đợc thành lập trong hoàn cảnh
khó khăn, ĐHQG Hà Nội và ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện trách
nhiệm cao, rất tâm huyết và bớc đầu đã triển khai có kết quả một số hoạt động
về tổ chức, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở vật chất và mở rộng
quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng cũng đã bộc lộ những mặt
yếu, những bất cập về mô hình tổ chức, về cơ chế quản lý (ở thành phố Hồ Chí
Minh bao gồm nhiều trờng, còn ở Hà Nội thì cha có các trờng công nghệ). Do
cha nhận thức rõ tiêu chí của một ĐHQG cho nên còn có những ý kiến khác
nhau về mô hình tổ chức và phơng thức triển khai. Điều này không khỏi ảnh h-
ởng đến sự phát triển của hai ĐHQG.
4. Quy mô đào tạo của các trờng lớn trên thế giới thờng khoảng từ 20.000
thành lập theo Nghị định số: 678/TTg, ngày 25-1-1956. Theo Nghị định này Tr-
ờng đợc đặt trong hệ thống đại học nhân dân Việt Nam trực thuộc Thủ tớng
chính phủ.
Ngay từ khi mới thành lập trờng có nhiệm vụ đào tạo và bổ túc kiến thức
kinh tế cho cán bộ quản lý kinh tế tài chính kịp thời phục vụ cho công cuộc kiến
thiết đất nớc đang diễn ra sôi động. Với sự nỗ lực của Nhà trờng và đợc sự quan
tâm của Thủ tớng chính phủ, ngày 5 tháng 3 năm 1956 khoá học đầu tiên của
Trờng kinh tế tài chính đã khai giảng tại khu Đấu Xảo cũ (nay là cung văn hoá
hữu nghị Việt Xô). Khi đó trờng có 149 cán bộ công nhân viên, trong đó có 30
giáo viên, 5 phiên dịch trung văn. Phơng tiện học tập, ăn ở của thầy và trò còn
nhiều thiếu thốn. Song với sự nỗ lực của nhà trờng, tháng 10 năm 1958 sau 18
14
tháng học tập khoá học đầu tiên của Trờng kinh tế tài chính đã tốt nghiệp, đi
nhận công tác.
Ngày 22 tháng 5 năm 1958 Thủ tớng chính phủ ra Nghị định số 252/TTg
chuyển Trờng kinh tế tài chính về Bộ Giáo dục nằm trong hệ thống Đại học gọi
là Trờng Đại học kinh tế tài chính. Sau khi chuyển về Bộ Giáo dục, với sự giúp
đỡ của các chuyên gia Liên Xô và Trung Quốc Nhà trờng đã tích cực xây dựng
chơng trình theo chơng trình của các nớc bạn kết hợp với thực tiễn Việt Nam và
khẩn trơng chuẩn bị điều kiện để tuyển sinh khoá mới. Ngày 3 tháng 11 năm
1958 khoá đại học chuyên tu đầu tiên đợc khai giảng với 740 học viên theo học
6 ngành. Tháng 6-1959, 2 khoá học đầu tiên của Trờng đã ra đời. Đó là: khoá
Công - Nông Mậu và khoá Thống kê - Tài chính - Ngân hàng. Những năm
đầu của thập niên 60 Trờng đã chính thức khai giảng khóa dài hạn tập trung đầu
tiên, mở đầu một số ngành mới nh: Ngoại giao, ngoại thơng, kinh tế vận tải (đ-
ờng bộ, đờng thủy và đờng sắt), kế toán...
Do nhu cầu và quy mô đào tạo cán bộ ngày càng lớn, trong những năm
đầu thập niên 60 một số chuyên ngành của trờng đợc tách ra để thành lập các
trờng đại học mới. Tháng 1 năm 1965 trờng đợc đổi tên thành Trờng Đại học
500 cán bộ giảng dạy với 20 giáo s, 58 phó giáo s, 187 tiến sỹ và tiến sỹ khoa
học, 181 thạc sỹ, 239 giảng viên chính. Ngoài ra, trờng còn có hơn 70 giảng
viên kiêm nhiệm là các giáo s, tiến sỹ đang công tác ở các bộ, ngành trung ơng
và ở địa phơng. Đứng đầu trong các trờng kinh tế về chất lợng đội ngũ.
Cơ cấu tổ chức Nhà trờng không ngừng phát triển, đến năm 2002 trờng
đã có 20 khoa (4 khoa quản lý không đào tạo chuyên ngành; 11 tổ bộ môn, 7
trung tâm và 2 viện trực thuộc trờng, 10 phòng ban. Trong đó có 10 đơn vị
(khoa, trung tâm, bộ môn) trực tiếp đào tạo hơn 30 chuyên ngành của trờng.
Trong 45 năm xây dựng và trởng thành đại học Kinh tế quốc dân đã thực
hiện khoảng 200 đề tài khoa học cấp Nhà nớc, đề tài cấp bộ và nhiều đề tài cấp
cơ sở. Hoạt động nghiên cứu khoa học luôn đợc nhà trờng coi trọng phục vụ
nâng cao chất lợng đào tạo, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đại
học Kinh tế quốc dân có quan hệ hợp tác với hơn 80 trờng, tổ chức quốc tế
thuộc hơn 30 quốc gia trên thế giới.
16
Trong suốt lịch sử xây dựng và phát triển Trờng, Đảng bộ Đại học Kinh
tế quốc dân luôn giữ vững vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện sự
nghiệp phát triển của trờng. Các tổ chức: Công đoàn, Đoàn TNCS HCM, Hội
sinh viên trờng đã tổ chức nhiều phong trào thi đua thu hút cán bộ, giáo viên,
công nhân viên và sinh viên nhà trờng tham gia rèn luyện, giảng dạy, học tập
góp phần tích cực vào sự nghiệp đào tạo toàn diện, nghiên cứu khoa học và t
vấn của Trờng. Với các nỗ lực toàn diện đó, ngày nay Đại học Kinh tế quốc dân
đã trở thành:
- Trung tâm đào tạo và bồi dỡng cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh
bậc cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ lớn ở Việt Nam.
- Trung tâm nghiên cứu khoa học kinh tế phục vụ đào tạo, hoạch định chính
sách kinh tế của Đảng và Nhà nớc, các ngành, địa phơng và chiến lợc kinh
doanh của các doanh nghiệp.
- Trung tâm t vấn và chuyển giao công nghệ quản lý và quản trị kinh doanh.
điều hành mọi hoạt động của nhà trờng đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
+ Bộ phận chức năng tham mu cho Ban giám hiệu gồm: Hành chính, Tổ
chức, Tài vụ, đào tạo, Quản trị... có nhiệm vụ giúp Ban giám hiệu trong công
việc quản lý, đào tạo.
18
BAN GIáM HIệU
Bộ phận tham mư
uHành chínhĐào
tạoQuản trịTổ
chứcTài vụv.v...
Các bộ phận chuyên
mônKinh tế chính
trịChủ nghĩa M-LN và
CMVNTài chínhMậu
dịchQuản lý công xư
ởngThống kêKế hoạch
Bộ phận hợp đồng
xây dựng trường
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức trường đại học nhân dân (thời kỳ 1956-1958)
+ Các bộ môn giảng dạy có 30 giáo viên chính thức và các giáo viên kiêm
nhiệm (học sáng giảng chiêù). Các giáo viên đợc bố trí trong 7 bộ môn là:
- Kinh tế chính trị
- Chủ nghĩa Mác- Lênin và cách mạng Việt Nam
- Tài chính
- Mậu dịch
- Quản lý công xởng
- Thống kê và toán
- Kế hoạch kinh tế quốc dân.
lý vĩ mô trên các hoạt động Thống kê, Tài chính, Ngân hàng và Kế hoạch.
Khoá 1 hệ dài hạn tập trung của nhà trờng, đã đợc khai giảng vào tháng
9-1959 với 242 sinh viên theo học ở 2 khoa chuyên ngành.
Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và yêu cầu chuyên môn hoá ngày
càng sâu rộng trong đời sống, kinh tế và xã hội đòi hỏi một đội ngũ cán bộ quản
lý kinh tế có trình độ cao trong các lĩnh vực khác nhau. Một trờng kinh tế với 2
khoa cha thể đáp ứng xu thế phát triển của nền kinh tế đất nớc. Giai đoạn này
đã tạo ra những tiền đề cần thiết về đội ngũ và vật chất hình thành các khoa,
chuyên ngành khác, đồng thời là hoạt động xây dựng các trờng đại học kinh tế
khác.
II.2.3 Giai đoạn 1959-1963
Đáp ứng với yêu cầu mới của thời kỳ xây dựng đất nớc thời kỳ
1959-1963, trờng đã thành lập các bộ phận quản lý, bộ phận đào tạo đại học
Tại chức và 4 khoa, 11 ngành đào tạo với 21 chuyên ngành đợc phản ánh
qua sơ đồ 3 dới đây:
21
Bộ phận tham mư
uHành chínhTài
vụQuản trịTổ
chứcv.v...
2 khoaK. Công
nông thư
ơngCNNNTNK.TK
.TC-
KHTKTCNHKH
Bộ phận hợp
đồng xây
dựng trường
BAN GIáM HIệU
Bộ phận hợp
đồng xây
dựng trường
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức trường Kinh tế- Tài chính (thời kỳ 1960-1963)
Về mặt tổ chức giai đoạn này trờng đã thành lập thêm một số bộ môn cơ
bản, cơ sở trực thuộc trờng nhằm hỗ trợ cho các chuyên ngành đào tạo.
Sự ghép mối của một số khoa chuyên ngành cho thấy những trở ngại
không nhỏ trong việc quản lý, đào tạo, sinh hoạt khoa học trong các khoa.
II.2.5. Giai đoạn 1965-1975.
Trớc yêu cầu, nhiệm vụ mới trong công tác đào tạo, tháng 1 năm 1965
Chính phủ quyết định đổi tên trờng thành trờng Đại học Kinh tế Kế hoạch.
Ngoài một số đơn vị phòng ban chức năng tham mu, cơ cấu tổ chức của trờng
gồm 7 khoa, 6 bộ môn trực thuộc đợc hình thành trên cơ sở tách một số khoa
nh Công- Nông thành khoa Công nghiệp và khoa Nông nghiệp, khoa Thống-
Kế- Vận thành khoa Thống kê, khoa Kế hoạch:
Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới cơ cấu tổ chức của trờng không
ngừng đợc kiện toàn bổ sung. Đến 1972, ngoài những phòng ban chức năng, cơ
cấu tổ chức của trờng còn bao gồm: 8 khoa đào tạo chuyên ngành và 11 bộ môn
trực thuộc. Cơ cấu tổ chức trờng đợc thể hiện qua sơ đồ 5 sau đây:
23
BAN GIáM HIệU
Phòng ban và tư
ơng đư
ơngTCCBGiáo
vụHCQT
Các khoaCông nông
Mậu-Tài-NgânThống-
Kế-VậnTại chức
Bộ môn trực
sựNgoại ngữĐịa lýTài
chínhHạch toánKinh
tế- Chính trịTriết
họcLịch sử
ĐảngKTCNKTNNLịch
sử-Luật kinh tế
Sơ đồ 5: Cơ cấu tổ chức trường đại học Kinh tế kế hoạch
(thời kỳ 1965-1975)
Sơ đồ 6: Cơ cấu tổ chức trường Đại học Kinh tế quốc dân (1975-1989)
BAN GIáM HIệU
Phòng, ban và đơn vị tư
ơng đươngTCCBGiáo
vụHCQTTài vụKHCTCT
(Tuyên huấn)Y TếThư
việnXưởng inXưởng trư
ờngNhà trẻNhà ăn
Khoa- Công nghiệp-
Nông nghiệp- Lao
động- Vật tư- Thống
kê- Kế hoạch- Vật
giá- Ngân hàng- Toán
kinh tế- Mác- Lênin-
Quân sự- Tại chức-
Sau đại học
Bộ môn- Thể
dục thể thao-
Ngoại ngữ- Địa
lý- KTCS-
KHQL
Việc hình thành các khoa mới nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng các