Lời mở đầu
Nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của các nớc t bản nói riêng từ
sau chiến tranh thế giới thứ 2hai đã có rất nhiều biến đổi so với trớc chiến tranh,
một trong những nhân tố có vai trò quan trọng tạo nên những biến đổi đó là sự điều
chỉnh kinh tế của nhà nớc. Với vai trò to lớn của mình, Nhà nớc có thể kích thich
hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế bằng hệ thống các công cụ và chính sách đã
vạch ra.
Vai trò quản lý kinh tế của nhà nớc bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp
hoạt động lao động chung và do tính chất xã hội hoá của sản xuất quy định. Lực l-
ợng sản xuất càng phát triển, trình độ xã hội hoá của sản xuất càng cao thì phạm vi
thực hiện vai trò này càng rộng và mức độ đòi hỏi của nó càng chặt chẽ và nghiêm
ngặt.
Cũng nhờ sự điều chỉnh kinh tế kịp thời của nhà nớc mà chủ nghĩa t bản đã v-
ợt qua đợc nguy cơ sụp đổ và tạo nên một nền kinh tế tăng trởng mạnh mẽ với trình
độ sản xuất rất cao.
Nhận thức đợc vai trò và tầm quan trọng của nhà nớc trong quá trình điều
chỉnh kinh tế, em đã đi sâu nghiên cứu đề tài Sự điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t
sản hiện đại , với mong muốn mở rộng hiểu biết về vai trò của nhà n ớc đối với nền
kinh tế của các nớc trên thế giới.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, nhng bài viết
không thể tránh khỏi thiếu sót do giới hạn về trình độ và khả năng nghiên cứu. Vì
vậy, em rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy đê bài viết đợc hoàn thiện hơn. Em
xin trân trọng cảm ơn thầy đã hớng dẫn để em hoàn thành bài viết này.
1
Nội dung của sự điều tiết kinh tế của Nhà nớc
t bản hiện đại
I - Sự điều tiết kinh tế của Nhà nớc t bản hiện đại là
đòi hỏi khách quan.
1.Cơ sở lý luận
Về vai trò của nhà nớc t bản đợc nhiều nhà kinh tế nổi tiếng nghiên cứu và đã
phán đoán đợc xu hớng vận động của nó ngay từ khi chủ nghiã t bản mới xuất hiện.
nhạc trởng đứng ra điều hành phối hợp không phải một khâu, một quá trình sản xuất
đơn lẻ, mà là cả quá trình sản xuất xã hội - Phải là chức năng xã hội chung quan
trọng nhất mà Nhà nớc phải đảm nhận. Song sự điều hành đó của Nhà nớc sâu hay
nông, toàn diện hay bộ phận, gián tiếp hay trực tiếp là tuỳ thuộc vào nhu cầu của sản
xuất. Và nhu cầu này lại do sự đòi hỏi giải phóng sức sản xuất xã hội đặt ra. Nếu
trong giai đoạn hình thành của Chủ nghĩa T bản, các quan hệ sản xuất phong kiến còn
chiếm u thế đã kìm hãm sự phát triển của các quan hệ sản xuất T bản chủ nghĩa và do
đó kìm hãm sự phát triển của sữc sản xuất thì Nhà nớc với t cách là một tổ chức quan
trọng nhất của kiến trúc thợng tầng giữ vai trò tạo điều kiện cho sự ra đời của các
quan hệ kinh tế T bản chủ nghĩa, bảo vệ nó phát triển.
=> Hai là, nhờ có tính độc lập tơng đối trong quan hệ với các lực lợng xã hội mà
Nhà nớc có khả năng tác động trở lại quá trình sản xuất xã hội. Đây không phải là sự
tác động một chiều mà là sự tác động qua lại, một bên là lực lợng chính trị chủ động
đại diện cho xã hội, một bên là các quá trình kinh tế khách quan.Trong giai đoạn độc
quyền T bản chủ nghĩa, lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ, quá trình tích tụ và tập
trung t bản đã đạt tới quy mô lớn tính xã hội hoá của sản xuất đã đạt tới trình độ
cao,trong nền sản xuất diễn ra nhiều quá trình kinh tế xã hội vợt khỏi tàm tay của các
nhà T bản thậm chí của cả giai cấp t sản, làm cho nền kinh tế lâm vào trạng thái
3
khủng hoảng, xã hội rơi vào tình trạng thiếu ổn định. Trớc thực trạng đó, Nhà nớc
phải can thiệp sâu vào sự vận động của nền kinh tế , khôi phục lại trạng thái cân bằng
tơng đối từ đó ổn định trật tự xã hội.
b> Quan điểm t sản về vai trò kinh tế của Nhà n ớc trong Chủ nghĩa T bản .
Khác với các nhà lý luận Macxit, những ngời tìm căn nguyên sự tăng cờng vai trò
kinh tế và sự chín muồi các chức năng kinh tế vĩ mô của Nhà nớc T bản ở các mối
quan hệ nội tại của quá trình tái sản xuất Chủ nghĩa T bản, J.M. Keynes tìm nó ở quy
luật tâm lý xã hội cơ bản tức là ở các mối liên hệ kinh tế xã hội nổi lên bề mặt của
quá trình sản xuất trực tiếp và ở thị trờng, trong các hành vi hoạt động của các chủ thể
kinh tế do quy luật tâm lý chi phối. Keynes cho rằng Chủ nghĩa T bản phát triển đến
một giai đoạn nhất định thì cơ chế tự điều chỉnh của thị trờng không đủ sức dập tắt
trong các hoạt động kinh tế của mình. Keynes lấy xuất phát điểm cho hệ thống lý
luận của mình từ việc phân tích quy luật tâm lý xã hội cơ bản trên thực tế đó là cách
tiếp cận những vấn đề then chốt của hệ thống điều chỉnh kinh tế, là sự vận động của
tổng sản phẩm xã hội dới hình thức tiền tệ và ảnh hởng của Nhà nớc t bản đến quá
trình vận động thông qua hệ thống tài chính , tín dụng. Đó không phải là hiện tợng bề
ngoài của quá trình tái sản xuất xã hội mà là mối quan hệ qua lại của kinh tế vĩ mô,
của cơ chế kinh tế , thiếu nó không một chính sách kinh tế xã hội nào của Nhà nớc đ-
ợc cơ sở hiện thực trên cơ sở các mối liên hệ này Keynes xây dựng đợc mô hình điều
chỉnh kinh tế thông qua cấu trúc của hệ thống các chính sách kinh tế dựa trên hai trụ
cột cơ bản là chính sách tài chính và tiền tệ.
Tán thành với quan điểm của Keynes về việc Nhà nớc phải can thiệp sâu vào quá
trình vận động của nền kinh tế , song M.Friedman cho rằng sự vận đông của nền kinh
tế t bản chủ nghĩa có mối quan hệ tơng hỗ với sự vận đông của khối lợng tiền tệ trong
lu thông. Sở dĩ nền kinh tế lâm vào trạng thái trì trệ hoặc thờng xuyên xảy ra các cuộc
khủng hoảng và các cú sốc kinh tế là do Nhà nớc đa vào lu thông một khối lợng tiền
tệ quá lớn hoặc quá nhỏ. Nếu trong thực tế , Nhà nớc đa vào lu thông một khối lợng
5
tiền tệ lơn hơn khối lợng cần thiết sẽ là cho thu nhập danh nghĩa tăng cao hơn thu
nhập thực tế, do đó sẽ kích thích lãi xuất thị trờng (lãi suất danh nghĩa) tăng cao làm
biến dạng tỉ lệ lãi xuất từ đó dẫn đến đồng tiền mất giá, tăng tốc độ lạm phát và giá
cả. Hệ quả này không chỉ làm xấu đi nhanh điều kiện tái sản xuất xã hội mà còn làm
mất ổn định xã hội.
M.Friedman đã đa ra kết luận: Các biến số kinh tế vĩ mô nh tổng sản lợng, công ăn
việc làm và giá cả chủ yếu chịu sự ảnh h ởng của việc điều chỉnh tiền tề trong lu
thông của Nhà nớc, tức nó ảnh hởng tới chính sách chủ yếu trong mô hình điều chỉnh
kinh tế của Nhà nớc. Theo các nhà kinh tế trọng cung , thì lý thuyết và mô hình
Keynes nhằm vào giải quyết các vấn để kinh tế, xã hội ngắn hạn. Nó chỉ có hiệu quả
và tác dụng trong những điều kiện tái sản xuất xã hội ngắn hạn khi các điều kiện naỳ
xấu đi thì mô hình Keynes sẽ kém hiệu lực trong nhiều trờng hợp trở nên phản tác
dụng. Nhà nớc muốn tác động vào sự vận động vào nền kinh tế một cách có hiệu quả
=>Thứ ba, trong nền kinh tế thị trờng hàng hoá và dịch vụ. Đó là một nền kinh tế
d thừa chứ không phải nền kinh tế thiếu hụt. Do vậy, nền kinh tế thị trờng tạo điều
kiện nhu cầu vật chất để thoã mãn ngày một tốt hơn nhu cầu vật chất, văn hoá và sự
phát triển toàn diện của con ngời.
Tuy nhiên kinh tế thị trờng cũng có mặt trái của nó. Đó trớc hết là tình trạng khủng
hoảng và thất nghiệp. Khủng hoảng sản xuất thừa là đặc trng của nền kinh tế thị trờng
phát triển. ở đây hàng hoá sản xuất ra cung vợt cầu có thể thanh toán dẫn tới tình
trạng d thừa hàng hoá. Gắn liền với khủng hoảng là thất nghiệp, một căn bệnh nan
giải của thị trờng. Chính vì vậy mà các chủ thể kinh tế hoạt đông trong nền kinh tế
thị trờng luôn luôn chịu nhiều động và rủi ro, họ cần đợc nhà nớc cung cấp các thông
tin kịp thời và chính xác. Trớc hết các thông tin đầy đủ về chính sách và sự thay đổi
của các chính sách của nhà nớc đa ra để điều chỉnh kinh tế . Thứ nữa là những biến
động của thị trờng mà nhà nớc ở tầm vĩ mô có thể biết và dự đoán đợc cũng cần phải
7
thông báo kịp thời cho các chủ thể kinh tế . Vì đối với các nhà kinh doanh điều chỉnh
đó sẽ giúp họ đa ra các quyết định kịp thời để chỉ đạo sản xuât. Còn ngời tiêu dùng
thông tin đó cũng giúp họ thu xếp việc chi tiêu, mua sắm hợp lý, đặc biệt giúp họ l-
ờng trớc đợc những nguy cơ mất việc làm để có những ứng phó kịp thời. Nhà nớc
ngoaì việc thu thập thông tin và cho các chủ thể kinh tế biết về những hoạt động kinh
tế của mình cũng cần phải nắm đợc những ý kiến của các nhà kinh doanh và nguyện
vọng của nhân dân để ra các quyết sách kịp thời. Đó là những quan hệ kinh tế hài
hoà, hợp lý, bảo đảm nền kinh tế vận động, phát triển và ổn định.
Một hậu quả khác của nền kinh tế thị trờng là tình trạng ô nhiễm môi trờng, không
khí, nguồn nớc, tàn phá đất đai, rừng đầu nguồn vì đích lợi nhuận. Song việc thu
nhiều lợi nhuận thì có lợi cho cá nhân còn sự tàn phá của môi trờng thì xã hội phải
gánh chịu.
Cuối cùng là tình trạng độc quyền xoá bỏ tự do cạnh tranh làm nền kinh tế mất tính
hiệu quả.
Tất cả những hạn chế đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nớc vào nền kinh tế để
đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả.
nớc t bản nắm giữ chiếm tỉ trong 27% tổng giá trị sản xuất của các nớc này. Trong
đó, Mĩ là 20,45%; CHLB Đức là 29,23%; Pháp là 40,87%; Italia là 38,16%; Anh là
35,75% và chiếm 1/4 - 2/5 GNP của các nớc đó.
Ngoài ra, qua NHTW, nhà nớc t bản phát hành tiền và kiểm soát lu thông tiền tệ.
Nhà nớc cần lập ra các tổ chức tài chính chính phủ, những tổ chức tài chính này đã
phát huy vài trò quan trong trọng đời sống kinh tế. Trong năm tài khoá 1981, kim
ngạch cho vay đầu t của các tổ chức tài chính công cộng của Nhật bản bằng 43%
tổng kim ngạch đầu t cho vay trong cả nớc.
9
Việc nhà nớc giữ vị trí chủ đạo trong điều chỉnh hệ thống tài chính tiền tệ đã tạo
ra cho nhà nớc một u thế tuyệt đối trớc các tổ chức độc quyền, và nhờ hệ thống này,
nhà nớc có thể chủ động điều chỉnh đợc hoạt động kinh doanhcủa t bản t nhân, dù đó
là tập đoàn t bản lớn.
=>Thứ ba, trong quá trình điều chỉnh sự vận động của nền kinh tế nhà nớc sử
dụng các công cụ nh tài chính, tiền tệ để can thiệp và điều chỉnh kinh tế. Theo
thống kê, qui mô và mức độ nhà nớc can thiệp vào kinh tế, năm 1988, tỷ trọng chi
ngân sách của Mỹ là 36,2% GNP, khối cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) là 49,9%
GNP.
Số ngời làm việc cho chính phủ trung ơng chiếm 1,5% so với số ngời có năng lực
làm việc (không kể quân nhân) trong vòng 20 năm con số này đã tăng gấp 3 lần .
Chi tiêu của nhà nớc tăng lên, ở Mỹ từ 3 tỷ USD (1913) đến cuối năm 70 đã tăng
lên trên 400 tỷ USD.
Những biến đổi về lợng phản ánh không chỉ sự tăng trởng hoạt động kinh tế của
nhà nớc t bản mà còn nói lên sự tăng trởng vai trò của nhà nớc đối với vận động của
nền kinh tế TBCN.
b)Những chỉ tiêu chất lợng phản ánh điều chỉnh kinh tế của nhà nớc ngày
càng trở thành nhân tố quyết định đối với quá trình tái sản xuất TBCN.
Trớc chiến tranh thế giới thứ hai, nhà nớc t bản đã tích cực can thiệp vào đời sống
kinh tế xã hội. Song xét về vai trò của các nớc trong quá trình tái sản xuất TBCN thì
đó chỉ là hoạt động có tính chất bên ngoài, ứng phó nhất thời đối với các đột biến
nhà nớc.
Nh vậy, sự can thiệp của nhà nớc t bản vào kinh tế là một quá trình biến
chuyển từ số lợng sang chất lợng, do đó vai trò của nhà nớc đã chuyển từ yếu tố bên
ngoài, yếu tố tạo môi trờng thành yếu tố bên trong của quá trình tái sản xuất TBCN
11
và trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự vận động của quá
trình này.
c, Những nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội dẫn đến tăng cờng vai trò
kinh tế của nhà nớc t bản.
Thứ nhất thoát khỏi chiến tranh Thế giới thứ hai (trừ Mỹ) nền kinh tế của các nớc
tham chiến đều bị tàn phá và suy yếu. Để khôi phục lại nền kinh tế của đất nớc đòi
hỏi sự cố gắng vợt bậc của toàn xã hội, sự tập trung cao độ các tiềm năng của đất nớc
và sự thống nhất trên qui mô xã hội. Ngoài nhà nớc không có một tổ chức t bản nào
thực hiện đợc dù đó là một tập đoàn t bản khổng lồ.
Thứ hai, sau chiến tranh thế giói thứ hai, CNTB bị đặt trớc thách thức mang tính
sống còn bởi phong trào dộc lập dận tộc trên toàn thế giới đang cao, hệ thống thực
dân cũ bị tan dã, một số nớc Đông âu và Châu á tách khỏi hệ thống TBCN bớc lên
con đờng xã hội chủ nghĩa làm cho lực lợng của thế giới xã hội chủ nghĩa lớn mạnh.
Trớc thách thức có tính " sống còn", "ai thắng ai" đó đòi hỏi tất cả các nớc TBCN
phải liên kết nhằm chống lại các lực lợng phá vỡ hệ thống TBCN. Để thực hiện nhiệm
vụ bức thiết đó phải có sự liên minh quốc tế toàn diện cả về kinh tế, chính trị, quân sự
giữa các quốc gia. Do đó, nhà nớc t bản buộc phải can thiệp vào các qúa trình kinh tế
và nắm trong tay những tiềm lực kinh tế lớn mạnh để phối hợp hành động. Đồng thời,
nhà nớc t bản cũng phải chủ động cải cách lại mối quan hệ kinh tế truyền thống vốn
là những quan hệ gây ra bùng nổ kinh tế, xã hội, đẩy chủ nghĩa t bản lâm vào cạnh
tranh và khủng hoản nặng nề.
Thứ ba, nguyên nhân sâu xa của quá trình tăng cờng vai trò kinh tế của nhà nơc
TB phải bắt nguồn từ sự phát triển nhanh chóng của sức sản xuất xã hội. Cuộc cách
mạng khoa học công nghệ lần thứ ba là bớc nhảy vọt mới của lực lợng sản xuất sau
chiến tranh thế giới thứ hai khiến trình độ xã hội hoá sản xuất tăng lên mạnh mẽ làm
kinh tế, là các vùng có liên quan đến việc phân bố lao động và sản xuất để hình thành
cơ cấu kinh tế mới, là các ngành và các vùng sản xuất với khói lợng sản phẩm hàng
13
hoá lơn và có giá trị xuất khẩu cao, tạo nguồn tích luỹ tập trung với qui mô lớn cho cả
nớc. Các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành, vùng nh thế ngoài mục tiêu kinh
doanh thoe yêu cầu của cơ chế thị trờng nh mọi cơ sở khác còn phải thực hiện các
mục tiêu phi thơng mại nh hình thành cơ cáu đảm bảo việc làm thực hiện chính sách
xã hội. Đó là những mục tiêu mà kinh tế t nhân, cá thể không sẵn sàng đảm nhận
Thứ năm, do lực lợng sản xuất phát triển cha từng có trong lịch sử loài ngời, năng
suất lao động tăng lên rất cao làm nảy sinh mâu thuẫn giữa sản xuất đợc mở rộng
tuyệt đối vơi thị trờng bị thu hẹp tơng đối. Để khắc phục sự mất cận đối giữa sản xuất
và tiêu dùng gây ra khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nh những năm 30 của thế kỉ
20, ngời ta đặt ra những yêu cầu cấp bách buộc nhà nớc phải trực tiếp can thiệp vào
các khâu của quá tái sản xúât xã hội nhằm bảo vệ sự vận động bình thờng của nó.
Thứ sáu, sự phân công lao động và mở rộng kinh tế quốc tế làm cho mối quan hệ
giữa các nớc xoắn xuýt vào nhau, phụ thuộc, đấu tranh lấn nhau. để tăng cờng vị trí
kinh tế chiếm lĩnh htị trờng rộng lớn hơn, đồng thời tăng cờng phối hợp và hợp tác
các nhà nớc t bản phải đứng ra áp dụng các phơng pháp phối hợp quốc tế.
Bên cạnh, sự điều tiết, khống chế, định hớng bằng pháp luật, các đòn bẩy kinh tế
và các chính sách, biện pháp kích thích thị nhà nớc còn phải dựa vào thực lực kinh tế
của mình tức sức mạnh của hệ thốnh kinh tế quốc doanh, sức mạnh của hệ thống kinh
tế nhà nớc vừa là cơ sở vật chất của các biện pháp và công vu quản lý, vừa là cơ sở
kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của nhà nớc, của toàn bộ kiến trúc thợng tầng xã
hội.
II > Hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t bản hiện đại.
Để đáp ứng với sức sản xuất phát triển cao của xã hội thì Nhà nớc t sản hiện đại
đã sử dụng hệ thống điều chỉnh kt1, hệ thống này đợc kết hợp hài hoà dung hợp với
nhau giữa cơ chế Nhà nớc với co chế thị trờng và cơ chế độc quyền t nhân theo yêu
cầu đặt ra của thực tiễn sản xuất .
1.Qúa trình hình thành hệ thống điều chỉnh kinh tế
Hoạt động điều tiết của cơ chế thị trờng diễn ra sauu lng những ngời sản xuất
kinh doanh. Song, dựa vào các tín hiệu nó phát ra trên thị trờng, các chủ thể kinh tế
lịp thời đa ra những giải pháp để giảm bớt chi phí sản xuất, nâng cao chất lợng hoặc
thay đổi mẫu mã hàng hoá, dịch vụ.
Trong thực tiễn, cùng với những biến động của cung cầu, dao động của giá cả
hàng hoá là sự giầu lên nhanh chóng của một nhóm nhà kinh doanh này, đồng thời
cũng là sự nghèo đi hoặc phá sản của những nhà sản xuất khác. Do đó, lợi ích kinh tế
tồn tại nh một động cơ thúc đẩy hoạt động của cơ chế thị trờng.
Đặc điểm điều chỉnh của cơ chế thị trờng là nhanh, nhạy nhng rất lạnh lùng,
giống nh sự tác động của các lực lợng tự nhiên. Sự tác động này không qua các bớc
trung gian nh: ngăn ngừa, báo trớc và cũng không có luật định và quy tắc hớng dẫn
hành vi, mà thẳng tay trừng phạt những chủ thể kinh tế nào hoạt động theo yêu cầu
của quy luật giá trị bằng cách làm cho họ khuynh gia, bại sản. Dô đó, các chủ thể
thị trờng cảm thấy đang có một lực lợng vô hình tác động đằng sau lng mình. Phản
ứng của họ trớc sự điều chỉnh của cơ chế thị trờng là phản ứng tự phát. Họ liên tục
phải chạy theo để sửa chữa nhữnh sai lầm của chính mình. Và ngay cả khi thắng lợi,
thành công trong sản xuất, kinh doanh, họ cũng không tin chắc chắn sẽ duy trì đợc
trạng thái hoạt động đó lâu dài.
Tớnh t phỏt trong hot ng ca cỏc ch th th trng l do c ch th trng t
iu chnh hot ng kinh doanh da trờn nhu cu sn xut xó hi v theo yờu cu
cõn i ca ton b nn sn xut, cũn cỏc ch th kinh t li hot ng trờn phm vi
cc b v theo yờu cu li ớch cỏ nhõn. ú l nhng hot ng riờng l, bit lp da
vo kinh nghim v phỏn oỏn cỏ nhõn. H khụng cú iu kin lng ht nhng
ũi hi ca xó hi. Mi quan h gia h l cnh tranh tn ti. Cnh tranh trong
sn xut kinh doanh ca cỏc ch th kinh t l mt hnh vi hai mt. Mt mt, nú th
hin tớnh nhanh nhy khn trng trong hnh ng m tng th cỏc hot ng ny s
to nờn tớnh nng ng trong s phỏt trin ca nn kinh t. Mt khỏc, nú th hin tớnh
16