Câu 1: Anh chị hãy dự báo và nhận định nền kinh tế Việt Nam trong vòng 5
năm tới?
I. Tình hình kinh tế Việt Nam.
I.1. Những thành tựu đạt được:
Năm Tăng trưởng
GDP
Lạm phát
2000 6.80% -1.70%
2001 6.90% -0.40%
2002 7.10% 4.00%
2003 7.34% 3.20%
2004 7.80% 9.50%
2005 8.43% 8.40%
2006 8.17% 6.60%
2007 8.44% 12.60%
2008 6.18% 19,89%
Dự kiến 2009 5.00% 7.00%
GDP: Có tốc độ tăng trưởng khá cao, liên tục trong suốt thời gian dài từ
2000 - 2007 và được đánh giá là thành công khi vượt qua suy giảm kinh
tế khá sớm trong giai đoạn 2008- 2009.
- Giai đoạn năm 2000 – 2007 nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, liên
tục GDP bình quân đạt 7,5%/năm trong 5 năm 2001 – 2005; 8,17% vào
2006 và năm 2007 là 8,44% cao nhất trong 20 năm trở lại đây, đứng thứ 3
châu Á (sau Trung Quốc: 11,3% và Ấn Độ khoảng: 9%). Trong năm 2008
tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 6,18% do những bất ổn từ nền kinh tế trong và
ngoài nước - tuy nhiên đây vẫn là mức tăng trưởng khá so với thế giới
trong tình hình kinh tế khó khăn.
- Việt nam có thể coi là đã thành công khi vượt qua suy giảm kinh tế khá
sớm quý I/2009 đã là đáy với mức tăng trưởng GDP là 3,1%, dự kiến năm
2009 là 5%/năm.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: cơ cấu ngành, tỷ trọng
Nam với quy mô vốn trên 10 tỉ USD. Dù rằng “mây đen” khủng hoảng tài
chính toàn cầu đang lởn vởn trên “bầu trời” nền kinh tế Việt Nam, giữa
các quỹ đầu tư vẫn có một đồng thuận rằng, rất đông các nhà đầu tư toàn
cầu đang bỏ vốn vào sự trỗi dậy trở lại của một nền kinh tế ổn định và
tăng trưởng cao như Việt Nam.
Đỗ Tuyết Nhung Trang 2
Nền kinh tế phục hồi nhanh sau suy thoái.
- Về sản xuất công nghiệp, 10 tháng đầu năm 2009 giá trị sản xuất công
nghiệp ước tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế
ngoài nhà nước tăng 8,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7,4%.
- Sản xuất nông nghiệp và thủy sản, thu hoạch lúa mùa ở miền Bắc đạt
885,1 nghìn ha, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm 2008.
- Tổng sản lượng khai thác thủy sản ước 10 tháng là 1.843 nghìn tấn, tăng
5,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng nuôi trồng là 2.177,6 nghìn tấn
tăng 1,9% so với năm 2008.
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng ước
tăng 18% so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó, khu vực thương nghiệp
tăng 18%, khách sạn – nhà hàng tăng 18,2%, dịch vụ khác tăng 19,6%.
- Khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 4,4%, khối lượng luân chuyển ước
tăng 8,0% so với cùng kỳ năm 2008; số lượng vận chuyển hành khách
ước tăng 8,4%, khối lượng luân chuyển hành khách ước tăng 6,3% so với
cùng kỳ năm trước.
I.2. Những khó khăn:
- Thâm hụt cán cân thương mại, cán cân vãng lai, và nợ nước ngoài: Nợ
nước ngoài của Chính Phủ Việt Nam ở mức dưới 40% GDP có thể tạm
coi là an toàn, nhưng thâm hụt cán cân thương mại (balance of trade) đang
ở mức rất cao (đến 1/4 GDP). Sự thâm hụt đó chủ yếu được bù lại bằng
các khoản đầu tư vào Việt Nam hoặc tiền gửi không hoàn lại từ nước
ngoài về Việt Nam. Nhưng nó sẽ là một trong những yếu tố gây bất ổn
định rất nguy hiểm (gây tăng nợ hoặc/và giảm dự trữ ngoại tệ), nếu như
- Tỷ giá USD/VND: Hiện tại Việt Nam đang cố định tỷ giá USD/VND,
nhưng đứng trước hai vấn đề: 1) bản thân đồng USD mất ổn định hơn
trước nhiều 2) các yếu tố như thâm hụt cán cân thương mại, cáng cân
vãng lai, lạm phát cao làm cho VND có xu hướng giảm giá so với các
ngoại tệ, và như vậy việc cố định tỷ giá cứng nhắc quá có thể dẫn đến
khủng hoảng ở một thời điểm nào đó, như đa từng xảy ra ở nhiều nơi.
Thực tế, tỷ giá giao dịch USD/VND phi chính thức (tỷ giá giao dịch) nằm
Đỗ Tuyết Nhung Trang 4
ngoài biên độ cho phép của NHNN đã kéo dài gần như trong suốt từ đầu
năm 2009 đến nay, mức chênh lệch giữa tỷ giá công bố và tỷ giá phi
chính thức liên tục được nới rộng từ 50 điểm vào đầu tháng 4 lên tới hơn
1.600 điểm ngày 11/11, cao hơn nhiều so với mức các năm trước. Và
trong thời gian gần đấy đã lên đến mức đỉnh điểm gần 20.000.
- Giá vàng trong nước ngày càng cao hơn, bỏ xa giá thế giới, chênh lệch
giữa giá trong nước và quốc tế tăng mạnh từ mức dưới 1 triệu đồng/ lượng
lên trên 3 triệu đồng/ lượng, cao điểm ngày 11/11 lên trên 5 triệu đồng/
lượng do giá vàng trong nước cũng tăng mạnh theo, thậm chí với mức độ
cao hơn, do giá vàng trong nước chịu tác động tăng kép từ giá vàng quốc
tế và tỷ giá USDVND, cộng với thực tế nguồn cung trong nước giảm do
Việt Nam ngừng nhập khẩu vàng từ tháng 4/2008, và xuất khẩu vàng
nguyên liệu khoảng 40 tấn từ 2008 đến nay.
- Bong bóng bất động sản: Giá bất động sản ở Việt Nam đi lên chóng mặt
trong những năm vừa qua, và hiện quá cao và bất hợp lý so với mức thu
nhập trung bình. Sự tăng giá đó một phần là do kinh tế đi lên, nhưng mặt
khác là do ảnh hưởng của "nguồn tiền dễ dãi" (trong đó tiền nước ngoài,
và cả tiền tham nhũng) và đầu cơ quá nhiều (ước tính lên đến 80% ở TP
HCM). Giá BĐS lên nhanh kéo theo xây dựng ồ ạt, dẫn đến dư thừa trong
năm 2008 (thừa ở đây là thừa tương đối, do quá mất cân bằng so với khả
năng tài chính, còn tất nhiên về tuyệt đối thì vẫn thiếu), cộng với việc
"nguồn tiền dễ dãi" trở nên "khó khăn", khiến giá rớt xuống, dẫn đến
nguy cơ đóng cửa, 60% còn lại có sản xuất sút kém. Đến khi lãi xuất giảm
vào cuối 2008 thì các ngân hàng lại đứng trước một khó khăn mới, là đa
có thời gian vay vào với lãi suất cao (gần 20% cho tiền gửi 1 năm), và bây
giờ cho vay ra với lãi suất thấp hơn (khoảng 13%) nhưng nhiều doanh
nghiệp vẫn sợ không dám vay, và tiền ứ đọng trong ngân hàng (vào thời
điểm 11/2008 thừa gần 100 nghìn tỷ VND không có người vay).
- Hoạt động hệ thống NHTM: Thanh khoản của hệ thống ngân hàng chưa
thực sự được đảm bảo an toàn, tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng có thể rất
Đỗ Tuyết Nhung Trang 6
cao, và có thể đến năm 2009 mới thể hiện rõ điều này, Mất cân đối giữa
tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng. Đến hết tháng 10, dư
nợ tín dụng toàn ngành đã tăng 33,29% so với đầu năm, trong đó dư nợ
tín dụng bằng VND tăng 39,46%. Trong khi đó, huy động vốn toàn ngành
chỉ tăng 25,72% so với đầu năm, huy động vốn bằng VNĐ chỉ tăng
30,51%. Bên cạnh đó, tổng phương tiện thanh toán (M2) tính đến hết
tháng 10 chỉ tăng 23,99% so với cuối năm 2008, tiền mặt lưu thông ngoài
hệ thống ngân hàng chỉ tăng 14,88% (năm 2008 M2 tăng 20,3%; dư nợ
tăng 25,4%; tiền gửi tăng 22,9%).
II. Nhận định nền kinh tế Việt Nam trong các năm tới.
Từ những thành công đã đạt được và những khó khăn Việt Nam đang phải
đối mặt và tình hình kinh tế trên thế giới, có thể nhận định nền kinh tế Việt Nam
trong các năm tới qua những điểm chính sau:
1. Triển vọng môi trường kinh doanh
- Chỉ số về triển vọng môi trường kinh doanh của Việt Nam trong giai đoạn
năm 2009-2013 sẽ cải thiện so với thời kỳ 2004-2008, chỉ số sẽ tăng lên
mức 5,42 từ mức 5,03 của giai đoạn 2004-2008.
- Tuy nhiên xét trên toàn cầu, Việt Nam sẽ không cải thiện được nhiều về
thứ hạng. Từ năm 2009 đến năm 2013, Việt Nam chỉ ở vị trí thứ 15/17
nước trong khu vực, Việt Nam đứng sau Sri Lanka, Indonexia, Ấn Độ,
Philippin và ở trên Pakistan và Bangladesh.