Xử lý nước thải nuôi tôm - Pdf 12

xử lý nước thải nuôi tôm
I. TỔNG QUAN.

1. Tình hình nuôi tôm trên thế giới và ở Việt Nam
1.1. Tình hình nuôi tôm trên thế giới
Nghề nuôi tôm trên thế giới xuất hiện cách đây nhiều thế kỷ, nhưng nuôi tôm hiện đại mới chỉ bắt đầu vào những
năm 1930 sau khi Motosaku Fujinaga công bố công trình nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo loài tôm he Nhật
Bản (Penaeus japonicus) [Shigueno K. 1975]. Cùng với sự phát triển của khoa học, qui trình sản xuất tôm bột được
hoàn chỉnh vào năm 1964. Sự chủ động được con giống đảm bảo chất lượng giúp cho nghề nuôi tôm phát triển
nhanh chóng và bùng nổ vào thập niên 90 [Rosemberry, 1998] .
Trên thế giới có hai khu vực nuôi tôm lớn nhất là Tây bán cầu (gồm các nước Châu Mỹ Latinh) và Đông bán cầu
(gồm các nước Nam Á và Đông Nam Á).Theo Nguyễn Văn Hảo, 2000 thì năm 1997 ở khu vực Tây bán cầu, Ecuador
đạt được 130.000 tấn chiếm 66% tổng sản lượng tôm nuôi của khu vực. Khu vực Đông bán cầu sản lượng tôm nuôi
đạt 462.000 tấn chiếm 70% tôm nuôi trên thế giới. Trong đó, Thái Lan là nước đứng đầu, kế đến là Indonesia, Trung
Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam.
Các loài tôm được nuôi nhiều nhất là là tôm chân trắng (Penaeus vannamei), tôm sú (Penaeus monodon), tôm chân
trắng Trung Quốc (P. chinensis). Nuôi tôm đem lại lợi nhuận cao đã tạo nên những cơn “sốt tôm” kéo theo đó là các
cơn “sốt đất” và “sốt vàng” (Kyung, 1994). Chỉ trong vòng 2 – 3 năm người dân đã chuyển gần như toàn bộ vốn đất
của họ sang ao tôm. Nhu cầu thị trường đối với tôm vẫn không ngừng tăng cao trong thời gian qua làm cho tôm có
một giá trị hấp dẫn và ngành nuôi tôm thâm canh có đầu ra ổn định. Lợi nhuận hấp dẫn và giá trị xuất khẩu cao của
tôm nuôi đã tác động đến chính sách phát triển của một số nước nuôi tôm. Chính điều này đã làm cho nghề nuôi tôm
được mở rộng và giá thành sản xuất tôm cũng thấp hơn các nước cạnh tranh rất nhiều.
Nghề nuôi tôm ở các nước châu Á tuy phát triển rất mạnh, đạt được kết quả bước đầu, nhưng đã phải sớm đối đầu
với vấn đề dịch bệnh và sự suy thoái của môi trường nuôi. Thường các vùng nuôi tôm chỉ cho lợi nhuận cao trong
vòng 2 đến 4 năm đầu, sau đó do bệnh dịch bộc phát, môi trường suy thoái, con tôm dễ bị bệnh, bệnh dịch tràn lan
gây nhiều thiệt hại to lớn cho người nuôi và làm giảm diện tích, sản lượng tôm nuôi. Nguyên nhân chính của việc
giảm năng suất trầm trọng trên được xác định do phát triển nuôi nóng vội, các khu vực nuôi chỉ tập trung vào phát
triển diện tích nuôi và tăng sản lượng trong các ao nuôi mà bỏ qua việc xử lý chất thải phát sinh trong quá trình nuôi.
Sau một thời kỳ nuôi có hiệu quả, môi trường trong khu nuôi dần bị suy thoái dẫn đến tôm nuôi dễ bị mắc bệnh.
Trước tình hình đó các nước đã thực hiện đầu tư nghiên cứu tìm các giải pháp để vực lại nghề nuôi, trong đó tập
trung vào vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường trong các khu nuôi được chú ý. Trung Quốc phải mất 10 năm để tổ

khoảng 110 loài trong đó khoảng 10 loài được đưa vào nuôi thương phẩm với số lượng lớn. Đối tượng được nuôi
chủ lực hiện nay tại Cần Giờ là tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei (Whiteleg shrimp).
· Ngành:Arthropoda
· Lớp:Crustacea
· Bộ:Decapoda
· Họ chung: Penaeidea
· Họ: Penaeus Fabricius
· Giống: Penaeus
· Loài:Penaeus vannamei
Chúng phân bố chủ yếu ở châu Mỹ La Tinh, Hawaii. Hiện nay được nuôi ở rất nhiều nước trên thế giới như: Đài
Loan, Trung Quốc, Indonesia , Malaysia, Việt Nam.
Tôm thẻ chân trắng không cần thức ăn có lượng protein cao như tôm sú, 35% protein được coi như là thích hợp hơn
cả.
Tôm chân trắng lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3 g với mật độ 100 con/m2 (tại
Hawaii) không kém gì tôm sú, sau khi đã đạt được 20 g tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1 g/tuần, tôm cái thường
lớn nhanh hơn tôm đực.
Đặc trưng của tôm chân trắng là khả năng kháng bệnh khá cao, mức độ kháng chịu tốt với các thay đổi của điều kiện
môi trường nuôi, sinh trưởng nhanh, có thể nuôi với mật độ từ 50 – 80 con/m2. Với đặc tính ưu việt này hiện nay tôm
chân trắng đang được người dân nước ta nuôi khá phổ biến và đang có xu hướng thay thế tôm sú.

3. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tôm nuôi
3.1. Hàm lượng oxy hòa tan (DO)
Oxy là yếu tố giới hạn đối với sự phát triển của tôm nhưng nó cũng là yếu tố thường xuyên thay đổi. Các nghiên cứu
cho thấy tôm có thể sinh sống bình thường ở nồng độ oxy hòa tan lớn hơn 4 mg/l. Khi hàm lượng DO dao động 2 – 3
mg/l tôm lớn chậm và nhỏ hơn 2 mg/l bắt đầu tôm có hiện tượng ngạt hoặc chết.
3.2. pH, độ kiềm
pH là yếu tố thường xuyên thay đổi theo thời gian trong ngày. pH từ đạt giá trị trong khoảng 6,5 – 8,8 an toàn cho sự
phát triển của tôm, nhưng giá trị tối ưu là 7,5 – 8,5. Độ pH rất quan trọng bởi vì sự thay đổi của nó ảnh hưởng gián
tiếp đến đời sống thủy sinh vật do nó làm thay đổi theo các yếu tố chất lượng nước khác. Độ pH thấp sẽ làm giải
phóng các kim loại từ đá và các chất lắng đáy trong sông, suối, ao, hồ. Các kim loại này sẽ ảnh hưởng đến quá trình

Không chỉ tại Việt Nam mà ngay cả tại nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippine, Đài Loan, Thái Lan,
Indonesia hoạt động nuôi tôm đã tạo ra một sự chuyển đổi hiệu quả và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nông dân.
Tuy nhiên, một nghiên cứu của Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về hoạt động nuôi tôm tại các nước ven
Thái Bình Dương đã đưa ra một cảnh báo về sự suy giảm của ngành này trong khu vực. Sự suy giảm của ngành
công nghiệp nuôi tôm xuất phát từ những nguyên nhân sau:
· Mức độ tăng trưởng chậm của thị trường tiêu thụ.
· Hệ số chuyển đổi thức ăn của tôm thấp.
· Sự xuất hiện và có chiều hướng tăng lên của một số bệnh dịch lây lan trong môi trường.
· Mực nước ngầm trong khu vực bị hạ thấp do bơm nước ngọt quá mức.
· Môi trường bị xuống cấp trong các khu vực nuôi tôm công nghiệp.
· Chi phí thức ăn cao so với hiệu quả nuôi tôm.
· Biến động giá tôm trên thị trường.
· Chất lượng trại nuôi con giống kém.
· Chất lượng thức ăn và nguồn nước kém.
· Thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân.
Những vấn đề xuất hiện và ngăn cản sự phát triển của hoạt động nuôi tôm bao gồm bùng phát bệnh dịch do virus,
sự xuống cấp của môi trường, triệt phá rừng ngập mặn, thiếu hụt các trại nuôi tôm giống có chất lượng. Ngoài ra,
việc thay đổi môi trường tự nhiên ven biển đã làm xuất hiện những lo ngại liên quan tới chất lượng nước và đất, sự
cân bằng môi trường.
Càng tăng cường hoạt động nuôi thâm canh thì nhu cầu quản lý môi trường nuôi càng cần thiết. Mức độ hủy hoại
môi trường nuôi bên trong ao nuôi và bên ngoài xuất phát từ : mật độ nuôi quá cao, sử dụng nhiều thức ăn chế biến
sẵn, các ao bố trí quá dày đặc, tăng chu kì thay nước, không có ao xử lý trước khi đưa vào nuôi…
4.2. Chất thải từ hoạt động nuôi tôm
Thức ăn thừa, phân tôm và quá trình chuyển hoá dinh dưỡng là nguồn gốc chủ yếu của các chất gây ô nhiễm ở các
trại nuôi tôm quản lý kém. Kết quả quan sát đã cho thấy rằng trong hệ thống thâm canh tôm thì chỉ có 15 – 20% thức
ăn được dùng vào phát triển mô động vật, có tới 15% tổng lượng thức ăn hao hụt do không ăn hết và thất thoát, chỉ
có 40 – 45% là được sử dụng trong quá trình chuyển hoá dinh dưỡng, duy trì hoạt động sống và lột vỏ.
Ô nhiễm nitơ chiếm tỷ lệ lớn (30 – 40%) từ thức ăn thừa. Người ta ước lượng rằng, có khoảng 63 – 78% nitơ và 76 –
80% phospho cho tôm ăn bị thất thoát vào môi trường. Nitơ dưới dạng protein được tôm hấp thu và bài tiết
dưới dạng ammoniac. Tổng khối lượng nitơ và phospho sản sinh trên 1 ha trại nuôi tôm bán thâm canh có sản

II. CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI NUÔI TÔM
1. Các phương pháp sinh học xử lý nước thải nuôi tôm

Có rất nhiều phương pháp sinh học đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong xử lý ô nhiễm môi trường nước, đặc
biệt là nước thải nuôi tôm chứa nhiều các chất hữu cơ. Trong xử lý sinh học bao gồm 2 hướng chính là sử dụng hệ
vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải và sử dụng hệ động thực vật thủy sinh để hấp thụ các chất
hữu cơ.
1.1. Phương pháp sử dụng hệ vi sinh vật
Có một số loài vi sinh vật có khả năng sử dụng các chất hữu cơ và một số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và
tạo năng lượng, sinh trưởng nhờ vậy sinh khối của chúng tăng lên. Các vi sinh vật này được sử dụng để phân huỷ
các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ có trong chất thải từ nước thải thủy sản. Quá trình phân hủy này được gọi là quá
trình phân hủy ôxy hóa sinh hóa. Một số chế phẩm vi sinh thường dùng để cải thiện môi trường nước ao nuôi tôm,
cá như Super VS, BRF-2 quakit… Thành phần sinh học của chế phẩm này gồm nhiều chủng loại vi sinh, tập hợp các
thành phần men ngoại bào của quá trình sinh trưởng vi sinh; các enzyme ngoại bào tổng hợp; các chất dinh dưỡng
sinh học và khoáng chất kích hoạt sinh trưởng ban đầu và xúc tác hoạt tính. Chúng có khả năng tiêu thụ các chất
hữu cơ phát sinh trong quá trình sinh trưởng và phát triển của vật nuôi trong ao hồ. Hay nói cách khác, chúng có tác
dụng phân giải chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan từ phân tôm, các thức ăn thức ăn thừa tích tụ đáy ao nuôi, tạo
được sự ổn định, duy trì chất lượng nước và cả màu nước trong ao hồ. Mặt khác chế phẩm này còn giúp giảm thiểu
được các vi sinh vật gây bệnh như Vibrio, aeromonas, E.coli…, làm tăng thêm lượng oxy hòa tan trong môi trường
nước ao nuôi và giảm thiểu lượng amoniac.
1.2. Phương pháp sử dụng hệ động thực vật để hấp thụ các chất ô nhiễm
Bản chất của việc sử dụng hệ động, thực vật để loại bỏ các chất ô nhiễm dựa trên cơ sở quá trình chuyển hóa vật
chất trong hệ sinh thái thông qua chuỗi thức ăn. Thông thường người ta sử dụng thực vật làm các sinh vật hấp thụ
các chất dinh dưỡng là nitơ và phospho, carbon để tổng hợp các chất hữu cơ làm tăng sinh khối (sinh vật tự dưỡng),
đó là tảo hay thực vật phù du, rong câu và các loài thực vật ngập mặn khác.
Kế tiếp trong chuỗi thức ăn là các động vật bậc một – động vật ăn thực vật. Ðiển hình của các động vật bậc một ở
vùng nước ven biển là các loại ngao, vẹm, hàu các loài này có thể tiêu thụ các thực vật phù du và cải thiện điều kiện
trầm tích đáy. Các loài cá ăn thực vật phù du và mùn bã hữu cơ như cá măng, cá đối cũng được thử nghiệm sử
dụng ở các kênh thoát nước thải (Micheal J. Phillips, 1995).
Trong thực tế, để đảm bảo đạt hiệu suất xử lý cao các chất ô nhiễm với chi phí vận hành tối thiểu, người ta thường

- Bên cạnh đó, hệ động thực vật trong hệ sinh thái rừng ngập mặn như
hàu, vẹm, cua, cá cũng là tác nhân loại bỏ chất ô nhiễm hữu cơ.
Ngoài ra, RNM với bộ rễ có cấu tạo đặc biệt là nơi bẫy các trầm tích có chứa các kim loại nặng, các hóa chất bảo vệ
thực vật. Thực vật ngập mặn cùng với toàn bộ hệ sinh thái trong RNM là một bể lọc sinh học đối với các chất thải từ
hoạt đông nuôi trồng thủy sản ven biển.Trong nuôi tôm phát triển bền vững, hình thức này được khuyến khích phát
triển, nhằm bảo vệ môi trường nước và hệ thống rừng ngập mặn.
2. Các mô hình sinh học xử lý nước thải nuôi tôm đã được ứng dụng trên thế giới và Việt Nam
Tại các nước phát triển, xử lý chất thải sau khi nuôi thủy sản đã được quan tâm nghiên cứu và triển khai áp dụng
trong thực tiễn. Các biện pháp xử lý được nghiên cứu áp dụng và tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau bao gồm các
biện pháp hóa lý, sinh học… Với đặc tính của nước thải từ nuôi tôm chất ô nhiễm chủ yếu là chất hữu cơ nên biện
pháp sinh học được xem như là hướng tiên phong trong xử lý nước thải nuôi tôm và có nhiều ứng dụng cho kết quả
rất khả quan.
Ngày nay với tính bất ổn của các nguồn nước cấp, các biện pháp xử lý và tái tuần hoàn nước cũng đã được nghiên
cứu. Các biện pháp nghiên cứu nuôi tuần hoàn nước (Recirculating Aquaculture Systems – RAS) với phương thức
tiếp cận chủ yếu sử dụng các đối tượng sinh học có sẵn trong điều kiện tự nhiên tại các vùng nuôi và tái sử dụng
nguồn nước sau khi xử lý cho nuôi. Phương thức này hiện đang được xem là công nghệ nuôi trồng thuỷ sản tiên
tiến, nó phù hợp ở những nơi khó khăn về đất và nước, những nơi có chất lượng nước kém.
2.1. Xử lý nước thải nuôi tôm và tuần hoàn tại Thái Lan
Darooncho (1991) khi trồng rong biển (seaweed) trong nước thải nuôi tôm tại 2 tỉnh Chanthaburi và Songkhala –Thái
Lan cho thấy lượng amoni và BOD bị hấp thu bởi rong biển là 100% và 39% sau 24 giờ. Tại Thái Lan đã sử dụng
biện pháp xử lý nước thải sau khi nuôi tôm bằng các đối tượng sinh học là sò (Crassostreasp.), rong câu (Gracillaria
sp.) sau đó qua lọc cát và cấp lại cho ao nuôi.
2.2. Xử lý nước thải nuôi tôm công nghiệp bằng nhuyễn thể tại Trung Quốc
Xiongfei, 2005 cùng các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng khu nuôi tôm công nghiệp sử dụng nhuyễn thể hai vỏ để
xử lý nước thải sau khi nuôi. Tỷ lệ về diện tích tương ứng ao tôm: ao nhuyễn thể: khu vực chứa nước dự trữ là 1:
0,8: 0,4. Nước thải từ ao nuôi tôm được bơm ra kênh dẫn đến hệ thống các ao nuôi nhuyễn thể và nước cuối hệ
thống ao nhuyễn thể sẽ được lấy để cấp cho các ao nuôi. Hiệu quả của hệ thống này đạt được là 40 – 83,6% P-
PO4; 45 – 89% TSS; 22 – 24% N-NO3; 19 – 64% TAN và tiền lãi từ thu nhuyễn thể cũng bằng tiền lãi từ thu hoạch
tôm.
2.3. Mô hình nuôi tôm bền vững tại Phú Yên

rãnh lắng bùn sau đó mới chuyển sang ao xử lý. Nước được để trong ao xử lý sau khoảng 15 ngày sẽ chuyển sang
ao chứa. Trong ao chứa có thả thêm cá vược và cá rô phi để tăng hiệu quả xử lý.
Kết quả sau 4 – 5 ngày đưa nước thải ra ao xử lý hiệu quả xử lý N-NH4+ đạt trên 90%; hiệu suất xử lý BOD3 sau 13
ngày đạt trên 80%. Hàm lượng N-NO2-, N- NO3-, P-PO43- đều đạt dưới tiêu chuẩn cho phép.
2.5. Kết quả nghiên cứu sử dụng rong sụn để xử lý ô nhiễm trong ao nuôi tôm
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Huyên, Phân viện khoa học vật liệu Nha Trang cho thấy rong sụn có khả năng
hấp thụ một lượng muối amôn rất lớn với tốc độ cao. Chỉ sau 24 giờ, hàm lượng amôn trong nước từ 1.070,49 mg/l
giảm xuống còn 830,10 mg/l đối với mật độ rong 400 g/m2, tương ứng trên 20%. Ðến ngày thứ 5 thì ở mọi mật độ
rong thí nghiệm hàm lượng amôn trong nước giảm đi hơn 80% và nó giữ ở mức đó cho tới khi kết thúc thí nghiệm
ngày thứ 10, hàm lượng amôn chỉ còn 10 % so với ngày đầu. Ðối với phosphate, sau 24 giờ rong sụn hấp thụ được
từ 30 đến 60%.
Trồng rong sụn trong ao sau khi thu hoạch tôm giúp xử lý được chất đáy ao nuôi khỏi bị nhiễm bẩn bởi các chất thải
tích luỹ trong quá trình nuôi tôm có hiệu quả cao. Rong sụn có thể giúp cho quá trình phân huỷ các chất hữu cơ trong
chất đáy ao nhanh và hấp thụ các sản phẩm phân huỷ với tốc độ cao góp phần tích cực vào việc xử lý, làm vệ sinh
ao đìa, không gây ô nhiễm tới vùng xung quanh. Ngoài việc giúp ta xử lý ô nhiễm đáy ao, người nông dân còn có
nguồn thu nhập phụ từ rong sụn trong thời kỳ chuyển vụ. Gọi là nguồn thu phụ vì so với lợi nhuận thu từ nuôi tôm
cao hơn, song nguồn thu từ trồng rong sụn hiện nay không phải là nhỏ.
3. Ứng dụng nhuyễn thể hai vỏ trong xử lý nước thải nuôi tôm
3.1. Các nghiên cứu sử dụng nhuyễn thể để xử lý nước thải nuôi tôm
Nhuyễn thể được ghi nhận như là một nhà máy làm sạch nước với tập tính ăn lọc chính vì vậy chất lượng nước có
thể được cải thiện. Hoạt động lọc nướccủa sò và vẹm được coi như nhưng cỗ máy lọc sinh học vĩ đại. Theo Nunes
và Parsons (1998) một vẹm có thể lọc được từ 2 – 5 lít nước/giờ và một chuỗi vẹm có thể lọc được 90.000 lít
nước/ngày. Phần lớn chất hữu cơ được lọc bởi vẹm được tích tụ dưới dạng pseudofeces (phân giả). Khi nuôi với
mật độ cao khoảng một nửa lượng phân này sẽ được chuyển thành thức ăn dưới dạng các vẩn cặn.
Theo Cole, (1992) khả năng lọc nước của sò (Potamocorbula amurensis) trong thời gian từ 2 – 28 giờ lọc được từ
100 – 580 lít nước/gam trọng lượng (tính theo trọng lượng khô).
Theo Ryther và cộng sự (1995), sò có thể loại bỏ Nitrogen và cặn hiệu quả cao hơn vẹm và hiệu quả lọc bỏ Nitrogen
và cặn lơ lửng của sò tương ứng là 94 và 48%.
Jakob (1993) khi nghiên cứu sử dụng sò (Crassostrea virginica) trong xử lý nước thải phát sinh trong nuôi tôm cho
thấy chất thải từ nuôi tôm có thể làm cho sò tăng trưởng nhanh, mức tăng đạt được từ 0,04 g lên 55 g sau 4 tháng.

· Ngành (phylum): Mollusca
· Lớp(class):Bivalvia
· Phân lớp (subclass): Pteriomorpha
· Bộ (ordo): Arcoida
· Liên họ (superfamilia): Arcoidea
· Họ (familia): Arcidae
· Chi (genus): Anadara
· Loài (species): A. Granosa (Anadara granosa)
Tegillaca granosa phân bố ở vùng triều, hạ triều đến độ sâu 1 – 2 m nước, thường phân bố ở các bãi triều vùng cửa
sông, nơi có các nguồn nước ngọt đổ về. Ở Việt nam chúng phân bố ở rộng rãi ở tất cả các vùng nhưng nhiều nhất
ở các tỉnh từ miền Trung và Nam Bộ, trong các thuỷ vực đầm phá, cửa sông, bãi bồi, ao hồ có nền đáy bùn hoặc bùn
pha cát, nhưng chủ yếu tập trung ở vùng ven biển, trong vùng trung triều với đáy là bùn, độ mặn tương đối thấp,
khoảng 14 – 30%o, và nhiệt độ tối ưu 20 – 30°C. Thức ăn quan trọng của chúng là các mảnh vụn hữu cơ, thực vật
phù du và tảo đơn bào. Đây là loại động vật ăn lọc (ăn lọc nhiều lần), không có khả năng chủ động kiếm mồi và chọn
lọc thức ăn mà hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn thức ăn có chung quanh nó. Trong thành phần thức ăn của nghêu sò
sống trong tự nhiên chủ yếu là mùn bã hữu cơ khoảng 69%, thực vật phù du là 17,1%, động vật phù du 0,9%.
3.3.2. Sơ lược về vọp sông Geloina coaxans (Gmelin, 1791)
· Ngành thân mềm: Mollusca
· Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia
· Bộ mang thật: Eulamellibranchia
· Bộ phụ: Heterodonta
· Họ:Corbiculidae
· Giống: Geloina
· Loài: Geloina coaxans (Gmelin, 1791)
· Tên tiếng Anh: Common geloinaTên Việt Nam: Vọp sông
Vọp sông (Geloina coaxans) thuộc họ Corbiculidae nằm trong khu hệ động vật Ấn Độ – Tây Thái Bình Dương, phân
bố chủ yếu ở vùng cao triều thấp rừng ngập mặn ven sông các nước Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia,
Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipine, Nhật bản.( Nie Z.Q, 1991).
Họ vọp (Corbiculidae) thường được nhắc đến 5 giống và 10 loài, thích nghi ở vùng nước mặn và nước lợ. Đó là các
loài: Geloina coaxans (Gmelin, 1791), Geloina erosa (Lightfoot, 1786), Geloina expansa (Mousson, 1849), Corbicula

* Công nghệ xử lý nước nuôi tôm của công ty Môi Trường Ngọc Lân những năm qua đã áp dụng công nghệ xử lý
nước thải, xử lý nước mặt, xử lý nước cấp cho nước thải nuôi trồng thủy sản rất thành công . Ngoài những nghiên
cứu chuyên sâu nhằm tận dụng khả năng xử lý của tự nhiên chúng tôi còn kết hợp sử dụng công nghệ hiện đại như
vi lọc, bùn hoạt tính…nhằm giảm thiểu rủi ro cho nghành công nghiệp nuôi tôm.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status