Lời mở đầu
Trong lịch sử bảo vệ Tổ quốc, nớc ta đã áp dụng cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập
trung. Việc áp dụng cơ chế kinh tế này trong điều kiện chiến tranh đã góp phần đắc
lực trong việc động viên nhân tàI vật lực phục vụ cho sản xuất và chiến đấu, hoàn
thành thắng lợi công cuộc bảo vệ Tổ quốc,đánh đuổi quân xâm lợc,dành lạI độc lập, tự
do cho nhân dân.
Tuy nhiên khi chiến tranh kết thúc, nớc ta vẫn tiếp tục duy trì cơ chế kinh tế kế
hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp làm cho nền kinh tế Việt nam lâm vào khủng
hoảng nghiêm trọng: sản xuất trì trệ, nhiều ngành đình đốn, hàng hoá ngày càng khan
hiếm, giá cả leo thang, lạm phát với tốc độ phi mã, đời sống nhân dân lao động ngày
càng đói khổ. Đứng trớc tình hình đó, Đảng và nhà nớc ta đã nỗ lực tìm tòi giảI pháp
đa đất nớc thoát khỏi cơn khủng hoảng, nâng cao đời sống của nhân dân.Sau giai đoạn
thử nghiệm đa nền kinh tế vào quỹ đạo của kinh tế tị trờng đạt đợc những kết quả khả
quan, tạI đạI hội VI, Đảng ta đã chính thức khẳng định chủ trơng chuyển đổi nền kinh
tế từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế thị trờng. Sau một thời gian đổi mới, thực tiễn
phát triển của nớc ta đã chứng minh quyết định trên của Đảng là hoàn toàn đúng đắn:
Kinh tế Việt Nam thoát khỏi tình trạng bế tắc, khủng hoảng, lạm phát giảm xuống, đới
sống nhân dân đựoc cảI thiện. Tuy nhiên chủ nghiã xã hội là mục tiêu cao nhất của
trong sự nghiệp đấu tranh Cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Đổi mới kinh tế,
chuyển sang cơ chế thị trờng không có một mục tiêu nào khác ngoàI mục tiêu đó. Vì
vậy Đảng ta chủ trơng chuyển sang kinh tế thị trờng không phảI là kinh tế thị trờng
nh các nớc khác mà là kinh tế thị trờng định hớng xà hội chủ nghĩa, tức là cơ chế thị
trờng nhằm đa nớc ta đI đến cáI đích xã hội chủ nghĩa. Về bản chất đó là cơ chế hỗn
hợp mang tính định hớng xã hội chủ nghĩa, vừa kế thừa những thành tựu của loàI ngời
vừa gắn liền với đặc đIểm và mục tiêu chính trị, là sự kết hợp giữa tăng trởng kinh tế
với tiến bộ xã hội.
Cơ chế thị trờng tuy có nhiều đIểm mạnh nhng bản thân nó có nhiều khuyết tật và
những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội nh xu thế phân hoá
giàu nghèo quá mức, vì lợi nhuận mà con ngời không từ mọi thủ đoạn chà đạp lên đạo
đức nhân phẩm..., và cơ chế thị trờng có tính tự phát chuyển đổi lên t bản chủ
nghĩa.Chính vì vậy để đảm bảo đợc tính định hớng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
không ai phủ nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trong trong
nhiều chế độ xã hội khác nhau.
1.2. Cơ chế thị trờng:
Trong nền kinh tế trị trờng, mọi yếu tố sản xuất, mọi hàng hoá đều có thị trờng
của nó: thị trờng vốn, thị trờng lao động, thị trờng hàng tiêu dùng. Thị trờng gắn với
lĩnh vực lu thông hàng hoá, thị trờng hình thành ở đâu có cung- cầu hàng hoá, nói đến
thị trờng là nói đến hàng hoá, giá cả, tiền tệ, ngời bán, ngời mua.
Trên thị trờng, giá cả là phạm trù kinh tế trung tâm. Các quy luật kinh tế vốn
có của nền kinh tế thị trờng nh quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh
tranh... đều biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua giá cả thị trờng. Nhờ sự vận
2
động giá cả thị trờng mà diễn ra một sự thích ứng một cách tự phát giữa khối lợng và
cơ cấu nhu cầu của sản xuất ( tổng cung) với khối lợng và cơ cấu nhu cầu của xã hội (
tổng cầu), tức là sự hoạt động của các quy luật đó đã điều tiết nền sản xuất xã hội.
Nh vậy, nền kinh tế thị trờng có khả năng tự điều tiết do sự tác động của các quy luật
vốn có của nó. Ngời ta gọi cơ chế tự điều tiết đó là cơ chế thị trờng. Nói một cách cụ
thể hơn, cơ chế thị trờng là hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, tự điều tiết lẫn
nhau của các yếu tố giá cả, cung - cầu, cạnh tranh... Trực tiếp phát huy tác dụng trên
thị trờng để điều tiết nền kinh tế thị trờng.
Cơ chế thị trờng có những u đIểm và tác dụng mà không có một cơ chế nào
hoàn toàn thay thế đợc: thứ nhất, cơ chế thị trờng kích thích hoạt động của chủ thể
kinh tế, tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh
tế phát triẻn năng động có hiệu quả. Thứ hai, sự tác động của cơ chế thị trờng sẽ đa
đến sự thích ứng tự phát giữa khối lợng và cơ cấu của sản xuất với khối lợng và cơ
cấu nhu cầu của xã hội. Nhờ đó ta có thể thoả mãn tốt nhu cầu tiêu dùng cá nhân
nhiều sản phẩm khác nhau. Thứ ba, cơ chế thị trờng kích thích đổi mới kỹ thuật, hợp
lý hoá sản xuất. Thứ t, cơ chế thị trờng thực hiện phân phối các nguồn lực kinh tế một
cách tối u. Trong nền kinh tế thị trờng, việc lu động, di chuyển phân phối các yếu tố
sản xuất, vốn đều tuân theo nguyên tắc của htị trờng, chúng sẽ chuyển đến nơi đợc sử
dụng với hiệu quả cao nhất, do đó các nguồn lực kinh tế đợc phân bổ một cách tối u.
thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định h-
ớng XHCN.
2.2. Sự khác nhau giữa kinh tế thị trờng TBCN và KTTT định hớng XHCN.
Nền kinh tế thị trờng không phải là sản phẩm riêng có của TBCN, nền kinh tế
thị trờng vận động, tồn tại ở các nớc XHCN và những nớc đang trong thời kỳ quá độ
lên XHCN. Tuy nhiên KTTT định hớng XHCN có những điểm khác biệt căn bản so
với nền KTTT t bản chủ nghĩa.
Thứ nhất, về chế độ sở hữu. Cơ chế thị trờng trong nền kinh tế TBCN luôn hoạt động
trên nền tảng của chế độ t hữu về t liệu sản xuất, trong đó các công ty t bản độc
quyền giữ vai trò chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Cơ chế thị trờng trong
nền kinh tế hàng hoá theo định hớng XHCN lại hoạt động trong sự đa dạng các quan
hệ sở hữu, trong đó chế độ công hữu giữ vai trò là nền tảng của nền kinh tế quốc dân,
với vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nớc. Tính định hớng XHCN đòi hỏi trong phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phải củng cố và phát triển kinh tế nhà nớc và
kinh tế hợp tác trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng điều tiết, hớng dẫn sự
phát triển kinh tế hàng hóa nhỏ và TBCN. Kinh tế nhà nớc phải đợc củng cố và phát
triển ở các vị trí then chốt của nền kinh tế, ở lĩnh vực an ninh quốc phòng, ở các lĩnh
4
vực dịch vụ xã hội cần thiết mà các thành phần khác không có điều kiện hoặc không
muốn đầu t vì không có hoặc ít lãi.
Thứ hai, về tính chất giai cấp của nhà nớc và mục đích quản lý của nhà nớc.
Trong cớ chế thị trờng TBCN sự can thiệp của nhà nớc luôn mang tính chất t sản và
trong khuôn khổ của chế độ t sản với mục đích nhằm đảm bảo môi trờng kinh tế xã
hội thuận lợi cho sự thống trị của gia cấp t sản, cho sự bền vững của chế độ bóc lột
TBCN. Trong cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN thì sự
can thiếp của nhà nớc XHCN vào nền kinh tế nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của
toàn thể nhân dân lao động thực hiện mục tiêu dân giàu , nớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh.
Thứ ba, về cơ chế vận hành. Cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trờng định h-
ớng XHCN là cơ chế thị trờng có sự quảnlý của nhà nớc XHXN. Cơ chế đó bảo đảm
quy luật vốn có của nó, nh quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh.., giá cả do thị trờng quyết định, thị trờng có vai trò quuyết định đối với việc
phân phối các nguồn lực kinh tế vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
Mặc dù cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trờng có nhiều u điểm nhng nó
vẫn có nhiều khuyết tật nh đã trình bầy ở phần trớc, cho nên hầu nh tất cả các nền
kinh tế của các nớc trên thế giới đều có sự quản lý của Nhà nớc để sửa chữa ở một
mức độ nào đó những thất bại của thị trờng.Tức là cơ chế vận hành của nền kinh tế
của tất cả các nớc đều là cơ chế trị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Điều khác biệt
trong cơ chế vận hành của nền kinh tế của nớc ta là nhà nớc quản lý nền kinh tế
không phải là nhà nớc t sản mà là nhà nớc XHCN, nhà nớc của dân, do dân và vi dân
đặt dới sự lãnh đạo của Đảng CSVN. Do đó chức năng của nhà nớc ta trong quản lý
kinh tế bao gồm sửa chữa những thất bại của thị trờng và đồng thời bảo đảm cho nền
kinh tế đi đúng quỹ đạo XHCN chứ không phải đi theo con đờng TBCN. Cụ thể bao
gồm những chức năng sau:
* Nhà nớc phải có vai trò quan trọng trong việc định hớng phát triển kinh tế đất
nớc. Công cụ của việc định hớng phát triển kinh tế xã hội bao gồm nhiều loại trong
đó chủ yếu là: hoạch định chiến lợc phát triển, quy hoạch phát triển, kế hoạch phát
triển. Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội là một hệ thống quan điểm cơ bản, các
mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế xã hội và các giải pháp chủ yếu đợc lựa chọn một
cách có căn cứ khoa học trên cơ sở huy động và sử dụng tối u các nguồn lực và lợi thế
phát triển của đất nớc để đạt đợc mục tiêu đã đề ra. Trong quá trình phát triển Đảng
ta đã xác định một hệ thống quan điểm bao gồm: 1. Phát triển nhanh và bền vững, 2.
Xây dựng nền tảng của một nớc công nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ
chiến lợc; 3. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động thực hiện hội nhập kinh
tế song phơng và đa phơng; 4. Đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách sâu rộng và
6
đồng bộ cả về kinh tế, xã hội và bộ máy hành chính nhà nớc hớng vào giải phóng triệt
để lực lợng sản xuất, phát huy tới mức cao nhất sức mạnh vật chất và tinh thần của
dân tộc, tạo động lực và nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh, bền vững, đảm
bảo thắng lợi trong hội nhập quốc tế; 5. Kết hợp kinh tế, xã hội với quốc phòng an
vững chắc, không chỉ là hệ thống luật lệ và quy định mà còn bao hàm các định chế
cần thiết để thực hiện và cỡng chế việc thi hành pháp luật và giải quyết tranh chấp,
bao gồm toà án và các cơ quan vỡng chế thi hành luật. Trong các nền kinh tế thị tr-
ờng, phần lớn các giao dịch dựa trên hợp đồng. Khi những luật lệ quy định quyền sở
hữu đợc rõ ràng và cơ chế cỡng bức thi hành luật vận hành tốt thì chi phí hoạt động
kinh doanh thấp hơn và thị trờng vận hành tốt hơn. Cụ thể, hệ thống pháp luật kinh tế
do nhà nớc ban hành có những vai trò sau:
+ Pháp luật kinh tế xác định vị trí pháp lý của các tổ chức và đơn vị kinh tế. ở nớc
ta pháp luật nói chung, pháp luật kinh tế nói riêng thể hiện đờng lối, chính sách phát
triển kinh tế của Đảng và Nhà nớc trong từng giai đoạn theo đờng lối phát triển kinh
tế thị trờng định hớng XHCN. Bằng việc ban hành và thực thi một hệ thống pháp luật
về các loại hình doanh nghiệp nh Luật doanh nghiệp Nhà nớc, luật doanh nghiệp, luật
hợp tác xã, địa vị pháp lý của các chủ thể kinh tế đợc xác định.
+ Bằng pháp luật kinh tế, Nhà nớc điều chỉnh hành vi kinh tế trên thị trờng: xác
định hành vi nào là hợp lý, hành vi nào là phi pháp. Thông qua pháp luật kinh tế, nhà
nớc khẳng định chức năng của mình đối với phát triẻn kinh tế trên cơ sở páht huy tính
tích cực của htị trờng và hạn chế những tiêu cực có hại của nền kinh tế: hàng giả,
hàng lậu, độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh, huỷ hoại môi trờng, tham nhũng...
+ Luật pháp về kinh tế là công cụ của nhà nớc đối với nền kinh tế quốc dân. Xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế cũng là quá trình hoàn thiện quản lý
nhà nớc về kinh tế. Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN thì nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật của nhà nớc có ý
nghĩa quyết định đến sự thành công của sự đổi mới kinh tế đất nớc.
* Nhà nớc thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo
ra môi trờng khuyến khích cạnh tranh và một sân chơi bình đẳng cho mọi cá nhân, tổ
chức không phân biệt thành phần kinh tế và hình thức sở hữu trong việc sử dụng các
nguồn lực phát triển, lựa chọn việc làm và tham gia vào các hoạt động kinh doanh là
một chức năng quan trọng khác của nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ở tất cả các nớc, khu vực t nhân luôn là động
lực chủ yếu của quá trình tăng trởng và phát triển kinh tế. Một đặc điểm nổi bật của
hoạt động hiệu quả hơn.
Thứ nhất là vấn đề việc làm,để giải quyết vấn đề việc làm , nhà nớc cần có các
chơng trình, chính sách nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập. Ví dụ nh
khuyến khích phát triển nông nghiệp và nông thôn, phân phối lại thu nhập cho ngời
nghèo, tăng sức mua của chính phủ với hàng hoá của các doanh nghiệp quy mô nhỏ,
sử dụng nhiều lao động, cải thiện sự linh hoạt về lơng ở mức cao.Thứ hai là vấn đề
9
công bằng xã hội: công bằng xã hội là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa đồng
thời là động lực của phát triển kinh tế. Công bằng không thể dựa vào thị trờng nên
nhà nớc cần phải can thiệp nhằm tăng thu nhập làm cho khoảng cách giàu nghèo
không tăng hoặc giảm đi, đảm bảo cho mọi ngời chứ không phải là một số ngời đợc
hởng lợi từ thành quả tăng trởng kinh tế chung của đất nớc. Nhà nớc thực hiện vai trò
đảm bảo công bằng xã hội thông qua các giải pháp nh: Phân phối lại thu nhập thông
qua thuế, đánh thuê thu nhapạ, tăng phúc lợi xã hội, trợ cấp xã hội, trợ giá cho hàng
háo và dịch vụ có ngoại ứng tích cực, đánh thúe đối với hàng hoá dịch vụ có ngoại
ứng tiêu cực, điều tiết giá cả ( lơng tối thiểu, lãi suất..), khuyến khích đầu t vào vốn
nhân lực...
Thứ ba, là vấn đề xoá đói giảm ngheo: Đây cũng là mục tiêu và động lực của
phát triển kinh tế. Song thị trờng không thể giải quyết tận gốc vấn đề này bởi lẽ phân
phối nguồn lực hiệu quả không có nghĩa là phân phối công bằng Do đó cần có sự can
thiệp của nhà nớc nhằm giảm đói nghèo đợc thực hiện theo các hớng: phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, tín dụng cho ngời nghèo, giáo dục tiểu học phổ cập, thực
hiện các chơng trình về công ăn việc làm, chơng trình xoá đói giảm nghèo, trợ cấp
cho ngời nghèo...
Thứ t là củng cố và phát triển văn hoá, khắc phục những tiêu cực của xã hội. Nền
kinh tế thị trờng phát triển, sự mở rộng hội nhập kinh tế vớic các nớc đI liền với
những tệ nạn xã hội, sự tha hoá về nhân cách con ngời. Do đó nhà nớc có nhịêm vụ
củng cố và phát triển nền văn hoá truyền thống, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
ổn định theo định hớng XHCN.
Cuối cùng là vấn đề bảo vệ môI trờng sinh thái. Lý thuyết hiện đại đã khẳng
chiến lợc đúng, có căn cứ khoa học, cần phân tích đúng thực trạng kinh tế -xã hội,
xác định rõ mục tiêu phát triển, lựa chọn phơng án tối u. Muốn vậy, cần thực hiện
dân chủ hoá, khoa học hoá, thể chế hoá quyết sách.
- Kế hoạch: Kế hoạch nói ở đây là kế hoạch thực hiện mục tiêu của quyết định
chiến lựơc, nó là sự triển khai và cụ thể hoá quyết định chiến lợc. Kế hoạch xác
định mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, nêu ra các biện pháp và phơng thức
thực hiện các mục tiêu đó.
- Tổ chức: Tổ chức là một nội dung của quản lý nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch
đã định. Nó bao gồm việc bố trí hợp lý cơ cấu, xác định rõ chức năng, quyền hạn,
trách nhiệm của các tổ chức và dựa vào yêu cầu cụ thể của các cơ cấu để lựa chọn
và bố trí cán bộ thích hợp.
- Chỉ huy và phối hợp: nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiều chủ thể
khác nhau vì thế để cho nền kinh tế hoạt động bình thờng, có hiệu quả, cần có sự
chỉ huy thống nhất ( điều chỉnh từ một trung tâm). Để có thể chỉ huy nền kinh tế,
11
phải có cơ quan quản lý thống nhất, cơ quan đó có quyền lực, có đầy đủ thông tin
về các mặt để điều hoà, phối hợp các mặt hoạt động của nền sản xuát xã hội , giải
quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh để đảm bảo cân bằng tổng thể của nền kinh tế.
- Khuyến khích và trừng phạt: bằng các đòn bẩy kinh tế và động viên về tinh thần,
khuyến khích mọi tổ chức kinh tế hoạt động theo định hớng kế hoạch, làm lợi cho
nền kinh tế thì đợc khuyến khích, ngợc lại, không làm theo định hớng của kế
hoạch, làm hại thì phải ngăn chặn và trừng phạt.
3.1.3. Các công cụ quản lý kinh tế của nhà nớc XHCN ở Việt Nam.
Để thực hiện các chức năng quản lý kinh tế đã nêu ở trên, nhà nớc Việt nam đã
sửa dụng những công cụ sau:
- Hệ thông pháp luật: pháp luật thờng đợc hiểu là hệ thóng các quy tắc xử sự có tính
chát bắt buộc chung ( quy phạm pháp luật) thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và
cộng đồng xã hội, do Nhà nớc đặt ra, thực thi và bảo vệ nhằm mục tiêu bảo toàn
và phát triển xã hội theo các đặc trng đã định. Trong thực tế có 2 loại văn bản
pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý của Nhà nớc về kinh tế là văn bản quy